Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 107

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 107

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 107
– A.62
Quen thói rong chơi. Hẫng vào mộng mị, gặp được quý nhân. Với bắt chiêm bao.

Biết tôi ở nhà một mình, cuối cuộc nhậu Phạm Khánh gợi ý tiếp tục vui chơi, Đang buồn tôi nhất trí ngay. Anh ta hỏi thủ trưởng muốn đi đâu. Tôi nói đã lâu không tới Karaoke Eva, tự dưng thấy nhớ.

– Tốt thôi!

Khánh nói, đặt xấp tiền lên phiếu thanh toán, rồi đưa tôi ra xe. Từ nhà hàng Cao Nguyên, chúng tôi theo lối tắt vào quốc lộ. Tưởng anh ta cắt đường cho nhanh, tôi không có ý kiến. Khi xe vượt qua cầu ngõ vào thị xã, tôi giật mình.

– Xỉn rồi a?

Tôi la lên, xoay người níu cánh tay Khánh.

– Em đã uống bao nhiêu đâu mà đại ca lo!

Anh ta nói, phấn tấn nhấn còi, cho xe tăng tốc.

– Điên hay sao mà đi hướng này?

Được một đoạn, tôi lại hỏi, có ý khuyến cáo.

– Anh chưa biết hả? Do cú phóng chưởng vu vơ của tay cha căng chú kiết nào đó, các phu nhân quyền quý trong ban chấp hành hội Liên Hiệp Phụ Nữ chộp được, liền phản ánh lên hội đồng nhân dân tỉnh. Chủ tịch A Tuk đấm bàn thình thịch, đại tá Trương Bá Thiết muốn lập thành tích chào ghế tân giám đốc sở công an, ngây ngô cho đàn em vào cuộc. Chuyện khống không nhưng đã lỡ bộ, tớ thầy chúng làm tới luôn. Bấy lâu treo đầu dê bán thịt chó, nay động ổ, một số tụ điểm giả danh karaoke buộc phải dời cơ ngơi! Khánh tiết lộ.

– Thì ra là thế! Tôi tắc lưỡi, yên tâm trở lại.

Vượt khỏi vùng ngoại ô, Khánh ngoặt vào con đường mòn hướng về phía núi. Bên ngoài, thảo nguyên bao la, muôn sao chi chít nhấp nháy. Xe lọc cọc lần xuống một lũng nhỏ, quanh co mấy đoạn, dừng lại ở mố một cầu ván chênh vênh bạc thếch, đâu đó tiếng suối róc rách, thoang thoáng mùi nho tươi.

– Phía sau ngọn đồi kia!  Khánh chỉ tay qua cửa.

Tôi nhìn theo, chẳng thấy gì ngoài một mảng trời đêm mung lung. Khánh mở cửa, chúng tôi cùng rời xe.

– Anh có nhận ra cái vũng sáng he hé kia không?

Tôi chưa kịp thấy gì, anh ta nói tiếp:

– Thương hiệu vẫn như cũ, nhưng nội dung hoàn toàn đổi mới, loại tiếp viên như Bích Thảo và cả cái thứ ngu ngơ như con bé năm kia đã cho về vườn cả.

– Vậy thì hấp dẫn lắm!

Tôi nói, nôn nóng muốn đi ngay. Khánh vẫn đứng yên tại chỗ, hai tay thọc sâu vào túi quần.

– Từ đây chúng ta tách đàn, tùy nghi thích ứng!

Anh ta đề nghị.

– Sao vậy?

Nghe lạ, tôi hỏi, lần tay cài lại áo khoác.

– Những lần chúng ta chơi chung một tụ điểm chẳng phải đã làm anh không vui! Khánh cho biết lý do.

– Chuyện đó đã lâu rồi mà! Tôi thấy không ổn.

– Thú thật, trước sau em chỉ thích có mỗi Family Karaoke thôi!

Anh ta hoạch toẹt. Rồi chẳng cần tôi nhất trí hay không, Khánh tót vào xe, mất hút ngay trong bóng đêm.

Còn lại một mình, tôi đưa mắt nhìn về phía trước thấy cách chỗ mình đứng chẳng bao xa le lói ánh lửa. Yên tâm, tôi tản bộ qua cầu. Lối mòn lởm chởm đất đá, tôi vát ngang sườn đồi, len lách từng cụm cây dại có hoa màu trắng đục. Đang cắm cúi bước, tôi nhận ra tiếng nhạc hiu hắt dặt dìu theo gió giúp tôi tin đi đúng hướng, sẽ đến đúng nơi. Nhưng lên tới đỉnh, tôi mới hay thứ âm thanh kia là tiếng bi be của đàn cừu chen chúc trong một lán trại xốc xếch hở hang tứ phía. Chúng đang tranh nhau áp cận hơi ấm tỏa ra từ một đống lửa. Cảm thấy lạnh, tôi lần đến, gặp một người đàn ông ngồi nhướng cổ ngước mắt nhìn sao, trước mặt la liệt chén bát, vị lọ, dao quắm, roi da, những vật dụng thiết thân của người sống ở rừng. Hình như ông ta đang dùng bữa và bỏ dở vì mải mê theo dõi chuyển động đất trời sắp vào đêm. Lạ cảnh, lạ người, hẫng hụt, tôi đứng sững.

– Anh là ai? Bất chợt, ông ta hỏi, giọng khô khao.

– Dạ thưa, khách chơi đêm ạ, không may lạc lối!

Tôi lên tiếng, ông ta vẫn ngước mặt lên trời. Ngại mình bộp chộp hút hớt, tôi thưa thêm:

– Làm ơn cho biết nhà hàng Karaoke Eva ở đâu?

Ông ta bất động. Đã nhũn mà người ta kênh kiệu, tôi không nản. Gần đây nhiều tụ điểm ăn chơi sáng tạo lắm trò marketing ngộ nghĩnh, cài người có tướng mạo kỳ dị, bộ tịch kịch cỡm gây ấn tượng bắt mắt khách hàng. Thầm nghĩ, tôi nhích tới quỳ xuống ngồi bệt trên gót giày, đặt tay lên gối, chờ đợi.

– Từ khi có mặt trên đời, ta chưa nghe ai nhắc tới một địa danh như thế!

Ông ta nói, râu ria lởm chởm, vểnh cằm cứng đơ như một mũi đá. Có nhầm lẫn chăng? Tôi hoang mang. Khó tin một người như Phạm Khánh lại nhấp nhem quờ quạng ở chốn yên hoa! Tôi nhìn xuống chân đồi, cố tìm một vùng dân cư. Ngoài cây rừng lô nhô, bóng tối thăm thẳm, chẳng có gì! Nhìn lại, bộ tịch ông ta vẫn nghễnh ngãng nhưng tôi tin những lời lạnh nhạt vừa thốt là thật.

– Vậy nơi đây là đâu?

Cảm thấy mất phương hướng, tôi hạ cố van xin.

– Vùng núi non Luberon thuộc xứ Provence!

Ông ta nói, giọng hơi đớt. Âm hưởng và địa danh xa lạ khiến tôi bàng hoàng, rồi nhận ra người đàn ông không chỉ khô khốc như tượng gỗ mà còn quá già. Ánh lửa soi rõ những nếp nhăn ở mặt hằn sâu như nét chạm, sống mũi cao, chân mày rậm.

– Xin lỗi, tiên sinh là ai?

Ngẫm nghĩ một lúc, tôi đổi danh xưng, xán tới.

– Không phải ông anh đã gặp và ngưỡng mộ ta như một nam thần tình ái rồi sao? Ông ta cằn nhằn.

– Thưa ở đâu ạ? Tôi hỏi, ngờ ngợ.

– Trong sách truyện, trong máu xương và cả trong mơ mộng! Tôi thảng thốt, ông ta nói tiếp. – Cách nay khoảng sáu bảy năm, lúc tâm thần dao động, chơi vơi giữa dòng thác loạn, ông anh vẫn tha thiết réo gọi đến ta kia mà! Ông ta phàn nàn, dằn thúc từng lời.

– Chưa bao giờ! Tôi quả quyết. Ông ta bức bối day mặt, nhướng cao mày. Tôi nhận ra khổ dạng ông ta thuộc loại cao to, không đồng chủng tộc với mình.

– Anh chạy theo tiền bạc, bận rộn trăm công nghìn việc, thi thoảng được chút rảnh rỗi thì lao vào chơi bời trác táng, trí óc vì thế mụ mị là đương nhiên. Ta cũng không chấp làm gì! Ông ta khẽ thở dài. – Nhưng đã lú lẫn đến thế, thì đi đi! Ông ta ngao ngán phất tay, tỏ vẻ bực vì phải hao tốn thì giờ quý báu cho một kẻ dở hơi.

– Chẳng lẽ…? Thưa tiên sinh, chẳng lẽ…

Sực nhớ, tôi ú ớ. Những dòng chữ lờ mờ…

– Ta là gã chăn cừu năm xưa cho nhà tiểu thư Stéphanette đây!

Thấy tôi lắp ba lắp bắp, ông ta đành tự giới thiệu. Tôi chồm tới, chỉnh sửa tư thế quan sát. Ông ta nói tiếp:

– Nếu giáp mặt mà chưa tin, hãy đến thành Nîmes hỏi ngài Alphonse Daudet! Ông ta chỉ dẫn, tôi giật mình.

Một lần nữa, ông cúi mặt lắc đầu, tỏ vẻ ngao ngán phải trò chuyện với một kẻ quá thô thiển ngờ nghệch.

– Giờ thì tiểu tử rõ rồi! Một ánh chớp lóa lên trong đầu, từng dòng chữ rõ nét, tôi trở nên bạo dạn. – Nhưng chuyện đã trăm năm, tiên sinh còn ngồi đây làm gì?

Rưng rưng, tôi căng mắt.

– Đến như anh, một người đào hoa lận đận, một người khổ luỵ vì tình mà còn ngớ ngẩn vậy a?

Ông ta gục gặc như nuốt nghẹn, lặng lẽ cười chua xót, những nếp nhăn ở hai khóe môi gờn gợn rung theo.

– Ta đang làm gì ư? Ông ta thì thầm. – Không nghe Félix Arvers bảo sao, tình trong giây phút mà thành thiên thu! (*) Nên chi, ta ngồi nhớ lại những hòn cuội lăn lóc dưới chân, chúng cứ túc tắc rơi từng viên vào cõi lòng đơn chiếc này. Rồi đêm xuống, ta ngồi giải thích cho tiểu thư về hôn lễ của các vì sao và ru nàng vào cõi thần tiên. Đến hồi tĩnh lặng, ta ngồi tưởng tới vì sao kia, vì sao thanh tú nhất, sáng ngời nhất, xinh đẹp nhất, do mải mê đường bay sẽ lạc xuống nơi đây!

(*) Félix Arvers (1806–1850) nhà thơ Pháp, nổi tiếng với bài Sonnet, thường gọi Sonnet d‘Arvers: Lòng ta chôn một khối tình. Tình trong giây phút mà thành thiên thu… (Khái Hưng dịch, lấy tựa đề Tình Tuyệt Vọng)

Ông ta trân trọng nhìn xuống mé vai mình. Thấy lạ, tôi dõi theo, phát hiện một lúm tròn nhỏ cỡ miệng chén in dấu lên nền áo thô đã bợt màu sờn chỉ. Đêm ấy, cái đêm mà cơn mưa chiều đột ngột làm nước suối dâng cao nghẽn tắc đường về, tiểu thư nhà Stéphanette đành lưu lại trại, nửa khuya tựa đầu lên vai chàng chăn cừu mà ngủ, không rõ đã an giấc bao lâu mà hằn sâu đến thế? Tôi hồi tưởng, phân vân. Ngay lúc đó trong tôi chợt dấy lên một ham muốn huyền hoặc nhưng cấp thiết.

– Hãy cho tiểu sinh mướn bờ vai ấy đêm nay!

Chống hai tay về phía trước, tôi cúi đầu thi lễ, đạo đạt thỉnh nguyện.

– Để làm gì? Ông ta hỏi.

– Dạ thưa, cũng như tiên sinh, đợi một người về!

Tôi nói. Ông ta nguội lạnh ngoảnh đi, tĩnh lặng, im lìm như gỗ đá, nghểnh mặt hong hóng tận trời cao.

– Thì ra tiền nhân cũng quá khắc bạc với hậu bối!

Tôi than, vuốt mặt, thở dài.

– Hãy thông cảm! Chớ trách ta lòng dạ hẹp hòi!

Ông ta xuống giọng.

– Vì sao ạ? Tôi khúc mắc.

– Đó là bến đợi thiêng liêng của một tình yêu đơn phương. Dẫu thịt nát xương tan, dẫu trời long đất lở, ta không thể ký thác cho ai! Ông ta chân thành thổ lộ.

– Thế là hết!

Tôi than ngơ ngác nhìn quanh, thất thểu lê chân. Trăng sao mù mịt. Từ lũng sâu bỗng vang lên một tiếng kêu dài thống thiết, khiến tôi liên tưởng những bước chân quờ quạng của mình đã vô tình bứt động mạch rừng! Thảng thốt, tôi đứng sững ngước mặt nhìn trời.

– Nhưng ta còn một đôi cánh, nếu nhà anh cần thì có thể nhượng cho!

Có lẽ tiếng kêu dài thống thiết đánh động và thấy tôi quá tuyệt vọng, ông ta chạnh lòng. Tôi liền quay lại.

– Dạ thưa tiên sinh, đôi cánh ấy ra sao ạ?

Tôi muốn được tường tận.

– Nó là hàng đặc chế, không ảnh màu, không thương hiệu, quý hiếm và biệt dạng. Vì nòi tình đồng điệu, ta không nỡ để một tử đệ cách xa ngàn dậm đã cất công tới lại về tay không!

Đúng như tôi thầm nghĩ, ông ta đứng dậy vào lán mang hàng ra. Tôi bước tới, rước lấy. Ông ta cho thêm củi vào bếp, lửa theo gió bùng lên. Tôi cúi xuống săm soi ngắm từng chi tiết. Đôi cánh khá lớn dài hơn sải tay, kết bằng lông vũ của loài hồng hạc, cốt khảm vàng, đai dát bạc, hoa văn điểm xuyết những hạt trai lóng lánh. Khách quan mà xét, công phu nhưng hơi cổ lỗ không óng mượt bằng những đôi cánh thiên thần mà tôi thường thấy trong tranh ảnh ở các nhà thờ Thiên Chúa giáo.

– Bao nhiêu ạ?

Trót phiền hà, tôi đánh bạo hỏi giá cho phải phép.

– Bằng mớ của nả chủ nhà để lại trước khi đau xót ra đi! Ông ta nói, tôi giật thót.

Không phải xót của, mà hoảng hốt vì một người cách đời như ông ta lại rạch ròi chuyện riêng tư của mình? Ấm ức nhưng tôi chưa tiện hỏi.

– Đắt quá! Tôi than.

– Ta chỉ lấy giá hữu nghị thôi! Ông ta nói.

– Cước phí hàng không vũ trụ tàu Mỹ tàu Nga xem ra cũng chưa tới mức đó! Tôi so đọ kỳ kèo.

– Những cỗ máy hiện đại ấy là thành tựu của lý trí, bất quá bay chút ít trong không gian. Còn đây là phương tiện thần thông có thể bay xa vào thời gian, kể cả hai chiều quá khứ, vị lai, với nó, chí ít anh có thể lai thông hai bờ thế kỷ cận kề! Ông ta nêu rõ tính năng hàng hóa.

– Không gian bao la nhưng đâu đâu cũng có ba chiều, vật thể lấy môi trường làm nền tựa mà lướt, xa gần tùy thuộc phẩm chất năng lượng. Còn thời gian, chỉ là ý niệm, thiển nghĩ tựa vào đâu mà bay, dầu có muốn… e tiểu sinh cũng khó mà tin! Tôi cãi lại.

– Tại sao không? Vật chất trong vũ trụ có thể biến đổi theo trạng thái, và ứng với mỗi không điểm bao giờ cũng có một thời điểm, dịch chuyển từ một điểm đến một điểm, không bay thì là gì? Hãy hỏi ông Newton, ông Einstein khắc rõ. Tất nhiên bay vào thời gian khó hơn bay vào không gian! Ông ta vỗ nhẹ vai tôi, ân cần nhắc nhở. – Nhưng khi đã có phương tiện này, vấn đề còn lại chỉ là xác định đúng hướng bay và điều phối thân tâm cho tương thích! Ông ta khẳng định.

– Ra là thế! Tôi vẫn bán tín bán nghi.

Nhớ lại xưa có lần tấm tắc khi đọc Sur les ailes du temps, toute la tristesse s’envole (Trên cánh thời gian, tất cả nỗi buồn sẽ bay đi) của La Fontaine, và mới đây nghe rằng cơ quan NASA của Mỹ đang có kế hoạch lắp đặt một kính thiên văn cực lớn neo vào vũ trụ để nhìn ngược thời gian. Ngẫm nghĩ, tôi cảm thấy khả thi và vô cùng thích thú. Lúc tôi lừng khừng, ông ta dùng gậy cời từng thanh củi hãm bớt ánh lửa. Đàn cừu đã thưa thớt rên rỉ, có lẽ đang lịm dần vào giấc ngủ.

– Tiểu sinh đồng ý! Nhìn những muội than loi lói bay lên, tôi liền thỏa thuận giá cả.

– Ta chỉ giao hàng sau khi nghe được nhân viên kế toán trình báo bên mua đã nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ thủ tục thanh toán! Ông ta nói.

– Vậy xin cho biết ngân hàng giao dịch và số tài khoản của chủ nhân! Tôi yêu cầu những gì chủ nhân phải cho khách biết sớm hơn.

– Không phải trước khi đi, chị ta đã lập khế ước với đối tác, trong đó có chỉ dẫn rất rõ nơi chi trả rồi sao?

Ông ta gắt, ra hiệu không bàn bạc nữa, rút một cây củi dài đang ngùn ngụt trao cho tôi làm đuốc soi đường.

Dẫu gặp quý nhân, nhưng cuộc chơi bất thành, tôi muốn về nhà. Xuống tới chân đồi, tôi nhớn nhác nhìn quanh, bốn phương phẳng lặng. Family Karaoke ở đâu? Nhớ tới Khánh, tôi cho tay vào túi áo tìm điện thoại.

– A lô! Tôi gọi đến ba lần, chẳng thấy gì, kể cả hướng dẫn của tổng đài. Mình đang ở ngoài vùng phủ sóng, đường xa xứ lạ, biết tính sao! Bức bối, tôi tung cây đuốc lên trời, ngửa mặt nhìn theo. Kỳ dị thay, khi đang lơ lửng giữa thinh không, nó bung xòe như một pháo hoa ngũ sắc khổng lồ chụp xuống đầu tôi. Nghiêng mình né tránh, chới với, tôi giật mình thức giấc…

oOo

Nửa đêm về sáng, tôi nằm giữa mớ chăn màn quen thuộc, hồn vất vưởng lang thang.

…Bên kia bờ Thái Bình, chị sẽ chờ đợi từng ngày. Nhưng oan oan tương báo, chị sợ. Xin em lượng cả bao dung, hãy mở vây cho anh ấy đi về phía mặt trời mọc với hai bàn tay không!…

Đúng như ông ta nói, nhà tôi đã lập khế ước, phần mình, tôi cũng đã sẵn sàng, nhưng khốn nỗi, bấy lâu cô bé có chịu nhận đâu! Có phải vì không chi trả được, dây dưa khiến tôi liên miên gặp ác mộng. Tuy không gian và thời gian mỗi lần một khác, ba hồi thế này ba hồi thế kia, hãi hùng nhất, có lần tôi thấy lãng đãng theo sau đám tang mình, nói rõ ra là một quan tài nổi trôi mù mờ bên dưới linh ảnh Lê Huy. Và khi áp cận huyệt lộ thì tôi kinh hồn bạt vía, mình mẩy đầm đìa mồ hôi. Lai tỉnh, trời hỡi, tôi mừng thầm như vừa vượt hiểm nguy, vừa thoát khổ nạn. Nhưng hôm nay không phải ác mộng! Cũng hẫng hụt, cũng khật khàng, nhưng tôi cảm thấy thích thú, thầm tiếc, muốn ngủ thêm, mơ tiếp.

Và thật kỳ diệu, thật hiếm hoi, lần đầu tiên trong đời tôi với bắt được chiêm bao, nối dài mộng mị như mình mong muốn…

(Hết Chương 107)

Share this post