Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 113

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 113

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 113
– A.68
Giấc mơ ban ngày. Tàn phai một đời hương sắc.

– Cậu có thích hoa tường vi không?

Nghe hỏi, tôi rời mắt khỏi màn hình tivi.

– Có ạ! Tôi nói, nhìn ra cửa. Cẩm Bình bước vào, thân dáng mỏng manh, y trang, bộ điệu khác hẳn ngày thường. Tôi ngồi dậy, muốn nhìn rõ vật gì cô ta đang ké né mang theo.

– Tường Vi thuộc họ nhà Hồng… Do một biến cố đất trời nên thoát ly vương giả. Lâu rồi chẳng ngại gió sương, nó thích bương chải bờ bụi, hòa với muôn loài, nhưng hương sắc vẫn trinh nguyên!

Cô ta giảng giải, trao tận tay tôi một cành tường vi chỉ mới vài nụ khoe sắc. Đón lấy, tôi chưa biết cắm vào đâu, đã nghe buốt nhói hai đầu ngón tay… Nắm thì đau, buông thì xót, tôi loay hoay tìm chiếc bình. Vừa lúc ấy, Cẩm Bình mỉm cười quay lưng nhón bước nhẹ nhàng như tựa vào mây mà đi. Tôi giật mình thức giấc, bàng hoàng nhận ra mình trong chiếc phô-tơi quen thuộc ở phòng khách, xung quanh chẳng có gì khác lạ! Nhìn xuống, hai bàn tay lành lặn trống trơ, chẳng thấy tăm hơi hoa lá, cũng chẳng dính dáp chút máu me nào! Rõ ràng tôi vừa chợp mắt và mơ thấy Cẩm Bình đến thăm. Đang lúc nửa thực nửa hư, chuông điện thoại reo.

– A lô! Tôi lên tiếng.

– Phải Lê Huy Phong đấy không?

Giọng Hoàng Văn Luân, nhưng có gì khang khác.

– Phải! Tôi mớ ớ, ngờ ngợ.

– Tới bệnh viện ngay đi! Anh ta giục.

–Việc gì? Vẫn lơ mơ, tôi hỏi cho rõ. – Thì cứ lên đi! Ngủ a?

Giấu quanh, nhưng anh ta để lộ hơi hướm bối rối. Tôi bật dậy khỏi ghế, ngó xuống người mình rồi nhìn ra bên ngoài. Áo xống mới đi về chưa kịp thay, xe đang còn trong sân. Chỉ việc cài vội cổng, tôi phóng ngay.

Nhà cách bệnh viện chẳng bao xa, chỉ một nhoáng, tôi đã vào phòng phó giám đốc. Cửa mở hờ, quạt trần vẫn quay, giấy má bừa bộn, chiếc gạt tàn còn bốc khói, nhưng chẳng thấy ai. Quay lui, tôi gặp Luân xộc vào, trang phục blouse trắng, thòng thõng ở cổ cái ống nghe.

– Chuyện gì thế? Tôi hỏi.

– Cô ấy đi rồi!

Luân nói, quay bước, khoát tay bảo tôi cùng theo.

– Cô ấy là ai? Đi bên, tôi nhớn nhác hỏi. Anh ta vẫn im lặng. – Làm ơn nói ngay cho, cô ấy là ai?

Tôi níu cứng tay Luân.

– Cẩm Bình!  Anh ta nói.

– Đừng đùa. Chúng tôi vừa gặp nhau mà! Tôi nạt.

Mặc tôi cau có, Luân vẫn sải đều bước. Bất chợt nhận ra mình ngớ ngẩn, tôi tiu nghỉu, hối hả chạy. Đầu giờ tan tầm, hành lang khá đông. Tôi theo Luân vào phòng cấp cứu. Vắng vẻ đến lạ, không một nhân viên làm việc như lệ thường. Trước mắt tôi, trên chiếc giường sắt màu ngà trải ga trắng, Cẩm Bình nằm im lìm như ngủ, cần cổ dài ngoẵng, tóc mai chớm bạc lòa xòa, bờ mi rậm cong, da mặt xanh như màu mạ non. Chẳng còn nghi ngờ nữa! Nghẽn thắt cổ họng, tôi cúi xuống nắm cứng bàn tay lạnh ngắt của cô ta, hai hàng nước mắt tuôn chảy. Cậu có thích hoa Tường Vi không?... Trong quặn đau, tôi chợt nhớ. Mộng triệu gì đây? Tôi tự hỏi, rồi cả người như du theo mông muội.

– Bấy lâu mình tập trung đối phó biến chứng của bệnh tiểu đường, không ngờ cô ta ra đi bằng một cơn đột quỵ! Luân nói.

– Cụ thể là bệnh gì? Sực tỉnh, tôi hỏi.

– Nhồi máu cơ tim! Luân nói.

Một biến chứng không kịp trở tay!

Chúng tôi im lặng nhìn nhau.

Một nữ y tá bước vào tháo kim ven ở cánh tay Cẩm Bình, tháo luôn cả bình dịch truyền còn lủng lẳng trên giá. Tiếp đến, một y công hỏi xin lệnh chuyển xác, Luân lắc đầu. Một người đàn bà trông quen quen lấp ló ngoài cửa, như có điều gì muốn nói riêng với tôi.

– Mình coi đây là bài học để đời! Luân bứt rứt.

– Biết đâu cũng là định mệnh…

Tôi an ủi bạn.

– Quả thật sau ngày gặp lại và biết rõ bệnh tình của Cẩm Bình, tôi có dự liệu một số tình huống, nhưng xấu đến mức này thì chưa bao giờ nghĩ tới!

Trong chức năng và quyết tâm, Luân thấy thiếu sót. Trong ý hướng và thiện chí, tôi thấy mình thất bại. Từ đó, tôi mường tượng những ngày sắp tới của Tường Vi, không phải lao đao vì sinh kế, nhưng thiếu thốn tình cảm và khủng hoảng tinh thần. Đờ đẫn một lúc, tôi theo Luân ra ngoài, nhưng đến cửa mỗi người một ngả.

– Em là Dư Thị Châu, người đặt hàng gia công, còn ông có phải thân nhân của cô ấy không? Người đàn bà lấp ló lúc nãy đón gặp tôi và tự giới thiệu.

– Vâng! Tôi nói.

– Vậy xin gởi lại ông…

Bà ta móc từ túi áo chiếc điện thoại di động và chùm chìa khóa nhà Cẩm Bình. Tôi không hiểu sao bà ta có những thứ ấy. Thấy tôi ngơ ngơ, bà ta giải thích

– Cách nay chừng một giờ… Như lệ thường, tôi đến thu thành phẩm và thanh toán tiền công định kỳ, bắt gặp cô ta ngồi úp mặt lên bàn may. Gọi chẳng thưa, hỏi chẳng nói, cái áo ráp dang dở dang trên bàn may, chiếc điện thoại di động rơi trên mặt sàn, cúi nhặt nhận ra máy vừa mở, bấm tiếp, may mắn trúng ngay bác sĩ Luân. Mừng quá, nhưng chẳng có ai bên cạnh mà nhờ đỡ. Xe ôm đèo ba người sợ công an thổi chẳng chịu đi, tôi nhờ ông Luân gọi giúp tắc-xi…

– Cám ơn chị đã khó nhọc! Tôi nói.

Thoáng thấy chiếc xe bệnh viện trở đầu ngoài sân, bà ta dứt ngay, biến đi. Tôi nhìn ra, hai y công đưa từ xe xuống một chiếc băng ca. Lên tới hành lang, họ gặp Luân đi tới, dừng lại lắng nghe dặn dò. Biết người ta sắp làm gì, nhưng tôi chẳng có một quyết định.

– Bạn tới phòng y vụ ký các giấy tờ rồi thanh toán luôn viện phí! Luân nói.

Hai y công vượt qua mặt tôi đưa băng ca vào phòng cấp cứu. Tôi theo Luân dọc hành lang một đoạn rồi tách lối. Được mươi bước, tôi xửng vửng tối tăm mặt mày. Đã nhiều lần vào thăm công nhân nằm viện, giờ tôi phải nhờ chỉ dẫn mới tới được phòng y vụ. Nhân viên phụ trách đang ngồi chờ, giấy tờ đã kê sẵn, tôi chỉ việc ký rồi nộp tiền ở bàn thủ quỹ ngay bên cạnh. Lúc tôi trở lại, xe bệnh viện vừa ra khỏi cổng. Vượt qua khoảng sân trống, tôi tìm đến bãi đỗ, cho xe khởi động ngay. Chị Châu chủ hàng gia công đang chới với ngoài rào ngăn, tôi mở cửa vớt lấy, bám theo xe bệnh viện. Về tới nhà, tôi vẫn chưa thật sự định tỉnh, mọi việc gần như do chị Châu xếp đặt. Cẩm Bình được bố trí nằm ngay chiếc giường cô ta thường nghỉ ngơi. Sau khi dùng chiếc ly thủy tinh làm bình hương, chị Châu hỏi một số việc, tôi gật đầu chẳng hiểu chuyện gì.

Lơ ngơ một lúc, khi biết quanh mình khá đông người, tôi lánh vào một phòng trống, ngồi xuống chiếc ghế lạnh căm. Tôi tự nhủ dẫu sự cố đột ngột phải bình tĩnh để cáng đáng công việc. Nhưng tôi chẳng sáng ra được tí nào, còn nặng nề hơn nữa.

– Có thật chị đã bỏ chúng tôi? Cái gánh dở dang này biết trao ai đây?

Tôi cứ hỏi khống khoảng không trước mặt. Chẳng có gì ngoài im lặng. Ngước mắt nhìn lên, tôi gặp Luân đang sừng sững bên kia. Chị chủ hàng gia công theo vào đặt lên bàn một bình trà rồi ra ngay.

– Ước gì bắt vạ được ai… Ước gì…! Tôi thì thầm.

– Thôi đành chấp nhận…

Luân nói, kéo chiếc ghế con ngồi xuống.

– Cám ơn bạn đã tận tình! Điều mình lo nghĩ không chỉ bây giờ…! Tôi nói.

– Vâng, mình cũng nghĩ thế! Luân đồng tình.

– Đi Huế về, cô ta vui vẻ, chưa kịp mừng…

Im lặng một lúc, tôi nói tiếp.

– Nghe nói tình cờ gặp được một dật sử, và cô ta vô cùng phấn khởi? Luân hỏi.

– Vâng. Cô ta còn hứa với cha vợ mình sẽ quay lại khi ban ngành chuyên trách có quyết định!

Tôi xác nhận.

– Người xưa dạy không sai, mưu sự tại nhơn thành sự tại thiên!

Luân nói, đẩy qua tôi mảnh giấy nhỏ với những hàng chữ gạch đầu dòng. Liếc mắt, biết đó là một số việc anh ta lưu ý phải làm ngay, nhưng cả người tôi đang đờ đẫn dật dờ gần như vô cảm.

– Phải gọi cho cô cháu càng sớm càng tốt!

Thấy vậy, anh ta nhắc. Tôi miễn cưỡng gật đầu.

– Sau đó phải báo về cho bà con, bạn bè ngoài ấy!

Anh nói thêm.

– Vâng! Tôi nói, vẫn ngồi im.

– Còn áo quan, mình đã cho người tới cửa hàng Thọ Đường…! Anh ta nói.

Tự dưng tôi cúi mặt, không phải từ chối giúp đỡ, nhưng khó chịu như có ai đang rút dần một điểm tựa thân thương ra khỏi người mình. Luân tháo kính cầm tay, đứng nhìn ra vườn. Chị chủ hàng gia công trở lại ngồi xuống chiếc ghế cạnh Luân, e dè nhìn tôi với đôi mắt đỏ ngấn nước.

– Còn nhiều việc phải lo, nhưng tôi không dám tự chuyên! Một lúc chị ta than.

– Trước mắt, chị sắm giúp cho các thứ khâm liệm!

Thấy tôi im lặng, Luân nói thay. Tôi chưa kịp gởi tiền, chị đã rời ghế đi ngay. Rút điện thoại di động khỏi túi, trật trầy một lúc không tìm được dãy số quen thuộc, tôi đặt máy vào tay Luân.

– Chắc mình không đủ can đảm, bạn hãy ra vườn tìm nơi yên tĩnh, lựa lời báo cho cô cháu Tường Vi đang ở tận Sài Gòn! Luân cau mặt, tôi gợi ý.

– Có lẽ nên giảm nhẹ tình huống, bảo bà ấy đang nguy kịch, yêu cầu về càng sớm càng tốt!

Luân gật đầu, rời khỏi ghế.

Không biết nhận tin từ đâu, Mai Thị Dung đến và ngồi xuống chiếc ghế Luân vừa rời đi. Tôi khẽ chào, chẳng biết nói năng gì.

– Em đang chờ anh sai bảo! Cô ta lên tiếng.

– Bấy lâu có lên chùa không? Tôi hỏi.

– Có ạ!  Cô ta nói.

– Hãy báo với đại đức trụ trì, mong muốn của tôi là Cẩm Bình được mai táng theo nghi lễ Phật giáo!

Tôi nói, trao cô ta chùm chìa khóa chiếc Mercedes đang đỗ ngoài sân. Dung đón lấy, tần ngần rồi ra cửa. Nhìn theo, tôi thấy Tô Thoan ngoài hành lang nhưng chưa kịp chào, anh ta đã cùng vợ lên xe. Luân trở lại, cho hay đã thực hiện cuốc gọi, lo lắng không biết cô bé có yên ổn trên đường về.

Tôi nhận lại máy, gọi cho Xuân Hoa ở Huế. Tôi báo tin Cẩm Bình, chị Cẩm Khuê, đột ngột qua đời. Tôi nhờ chị lên ngay Ngự Bình tìm tới chùa sư nữ Phụng Lâm, báo tin buồn cho ni sư Diễm Thúy với yêu cầu giao chùa cho đệ tử, vào ngay Tây Nguyên để thay cháu Tường Vi quản lý nhà cửa, vườn tược. Tiếp đến, tôi gọi mấy người thân quen của cô ấy trong thị xã. Có hai nơi tôi định báo tin, nhưng ngẫm nghĩ một lúc lại thôi. Mẹ tôi sẽ thấy cuộc sống của con mình quá phức tạp. Và cha tôi không tránh khỏi đau lòng. Sau cùng, tôi gọi cho Võ Kế hỏi thăm tình hình kinh doanh, yêu cầu làm thay một số việc của Mai Thị Dung trong tuần. Loay hoay một lúc, tôi thấy mệt và khát khô cổ họng.

Trên đường từ chùa về, Dung mua một ít thức ăn, bày bàn ở hành lang, khoảng giữa phòng Cẩm Bình và gian bếp. Sau khi đưa người đến thay áo xống và trang điểm sơ qua cho Cẩm Bình, chị chủ hàng gia công về tự hồi nào. Hàng xóm cũng chẳng còn ai. Trời ngã hẳn sang chiều. Bốn người chúng tôi ngồi lại, đói nhưng không ai muốn ăn. Bất chợt một cú điện thoại gọi Luân, anh ta nói máy, nhăn nhó rồi đi ngay. Bắt tay bạn, tôi ngơ ngác nhìn theo. Chỉ thiếu sinh hoạt của Cẩm Bình, vườn tược trở nên âm u, cửa nhà hiu hắt đến lạ. Tự dưng tôi tưởng mình đang lạc vào đâu đó. Dung vừa so đũa vừa báo nội dung tang lễ đã lập trình ở chùa. Tám giờ sáng mai khai kinh, chín giờ nhập liệm, tiếp đến là lễ thành phục.

– Phải qua đêm? Thấy hơi bất thường, tôi hỏi.

– Anh đã dặn làm sao cũng phải đợi cô bé về, chị ấy đã cho mua nước đá chườm xác!

Sực nhớ, tôi xin lỗi vì lú lẫn. Dung tiếp tục thông báo, theo đó tôi hiểu, hai giờ chiều mai di quan, tuy hơi gấp nhưng tránh ngày giờ trùng tang. Không ai có ý kiến gì. Dung ra hiệu, hiểu ý tôi mời mọi người cầm đũa. Chúng tôi vừa ăn vừa bàn thêm một số việc vặt.

Cuối bữa, Tô Thoan tình nguyện ở lại với tôi. Dung đồng tình, xúc động chớp mắt nhìn chồng.

Trời trở lạnh. Bóng đêm đã lãng đãng ngoài ngõ. Thoan giúp vợ dọn bàn, đưa các thứ xuống bếp. Trước khi ra về, Dung dặn luân phiên thức trực nhưng phải tranh thủ ngủ nghỉ chút ít. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí.

Chuyện vãn một lúc, tôi vào nhà kho đưa chiếc nệm ra phòng khách. Tô Thoan nấu nước pha trà và cà phê, nhưng không cho tôi đụng tới. Anh ta bê các thứ kể cả thuốc lá, sang chiếc bàn nhỏ ngay lối vào nơi quàn xác. Một mình ở phòng khách, tôi tắt hết đèn đóm. Rồi chẳng cần áo xống mặc ngủ, chỉ nới lỏng cà-vạt, tôi nằm dài lên nệm, gấp tay làm gối, đôn cao đầu.

Không gian phẳng lặng. Tôi cố lắng nghe không nhận ra thứ tiếng động nào. Mọi vật quanh tôi chìm vào bóng tối. Mặc muỗi mòng vo ve, tôi cố dỗ giấc nhưng không tài nào ngủ được. Bao nhiêu sự vụ như từ đâu đó vờn lên, chẳng rõ hình rõ nét, chẳng ăn nhập vào nhau, mỗi thứ nghiến vào tim tôi một ít trước khi nhạt nhòa. Có một khoảng thời gian, đầu óc lan man, tôi nghĩ về ông bà Hồ giáo sư, về Bửu Dương, về Cẩm Bình. Đến khi Cẩm Khuê sừng sững hiện ra, tôi nghiêng người úp mặt vào gối, xấu hổ rồi mụ mị.

Khoảng hai giờ sáng, tôi bừng mắt. Một lúc lâu, tôi mới biết mình đang ở đâu. Bật đèn, tôi tìm tới toa-lét. Biết mình nhếch nhác, tôi chẳng dám soi gương, chỉ rửa ráy qua loa rồi vội vàng thay ca cho Tô Thoan.

– Anh có ngủ được tí nào không?

Thấy tôi loạng choạng, anh ta hỏi, đặt cuốn sách xuống mặt bàn.

– Cám ơn! Tôi nói, kéo ghế ngồi đối diện.

Thức canh từ đầu hôm, thần sắc anh ta vẫn tươi tỉnh. Trước khi bàn giao, Tô Thoan đưa cho tôi một tách cà phê, một gói thuốc lá và cả cuốn sách đang đọc dở.

– Thứ này ở đâu ra?

Tôi nhìn trang bìa, Les Fleurs du Mal [tác phẩm của nhà thơ Pháp Charles Baudelaire (1821–1867)], rồi hỏi.

– Khi thắp hương cúng cơm, em thấy trên đầu giường ngủ chị ấy!

Anh ta nói. Tôi mơ hồ Cẩm Bình mang đi từ Huế lén cắp trong núi sách bị tịch thu của cha, và bao năm qua chỉ đọc có mỗi tập thơ này.

Sáu giờ sáng, Dung trở lại, đi cùng vợ Khánh, vợ Kỳ. Tiếp đến vợ chồng Luân cũng tới. Rồi vợ Ma Ngát và một số nhân viên ở tổng công ty. Không khí trong nhà rộn ràng, ấm dần lên. Từ Sài Gòn, Tường Vi gọi báo sẽ về trong chuyến bay sáng nay. Tôi muốn đi đón, nhưng không thể. Ngẫm nghĩ một lúc, tôi nhờ vợ chồng Dung, nhưng cả hai đều không biết mặt cô bé. Tôi nhờ một cô bạn học của Tường Vi đi cùng Tô Thoan. Đề phòng bất trắc, tôi cho anh ta biết thêm một số đặc điểm về dung nhan cô bé. Chiếc Mercedes vừa khuất ngõ, tôi nhận điện của Xuân Hoa từ Huế gọi vào. Diễm Thúy sẽ lên Tây Nguyên cùng một đệ tử. Nhưng không thể kịp đám, có khả năng chậm vài ba ngày. Tôi muốn biết lý do, chị ta cho hay không phải vì khó khăn tàu xe, nhưng có một số việc cần thu xếp trước khi đi xa và lưu trú lâu dài. Tiếp đến, Mã Tho gọi điện tranh thủ ý kiến, ông ta muốn trích công quỹ và đại diện công đoàn đi phúng điếu bà Cẩm Bình. Tôi không nhất trí.

– Bà ấy chẳng can dự đến tổng công ty và công đoàn, ai muốn thì đi với tư cách cá nhân thôi! Tôi lưu ý.

Loay hoay một lúc, đại đức trụ trì đến, chúng tôi tập trung vào lễ nghi. Khi đã đưa Cẩm Bình vào quan tài, tôi xin hoãn đậy nắp. Không một ai thắc mắc. Sau lễ thành phục, cả nhà đều ngóng chờ cô cháu gái.

Mãi mười giờ, Tường Vi mới về tới nhà.

Khác với lo nghĩ của mọi người, cô bé tỏ ra mạnh mẽ, bình tĩnh. Xuống xe, cô ta đi thẳng vào cửa. Không nức nở, không kêu than, cô ta tì tay lên mép quan tài, đứng lặng một lúc rồi cúi xuống âu yếm hôn lên trán người vừa quá cố.

– Dì ơi! Cháu về hơi muộn! Cô bé nói.

Những ai có mặt lúc đó gần như nín thở, người ta chờ đợi giây phút bi lụy thường tình. Nhưng không, cô bé gập mình ôm lấy quan tài, hai vai khẽ rung. Đứng bên cửa sổ trông ra vườn, Dung bật khóc, chị chủ hàng gia công cũng giọt ngắn giọt dài. Được một lúc, Tường Vi gượng lên, ngơ ngác nhìn quanh, ánh mắt như xa lạ với mọi người và cả cửa nhà. Đứng bên, Tô Thoan khẽ đẩy vào lưng tôi. Biết phải làm gì, tôi vội bước tới, đỡ cô bé dìu ra hành lang. Ngang qua cửa, tôi vói túi xách, đưa tiếp Tường Vi về phòng riêng. Khi đặt được cô bé lên giường, tôi mới nhận ra mình đang chăm sóc một cái xác lạnh ngắt. Hoảng hốt, nhưng tôi chưa muốn cầu cứu đến ai. Hết day day hai vai, tôi lại vỗ vỗ vào má. Tường Vi từ từ mở mắt.

– Còn bao nhiêu việc phải làm, em không được yếu đuối! Tôi nói.

Tường Vi khẽ gật đầu, hai mắt ngấn lệ. Tôi kéo chăn phủ qua người cô ta.

– Có thật người nằm trong quan tài kia là dì em không? Cô bé níu lấy tay tôi, kêu xin. – Ông coi lại đi! Biết đâu có sự nhầm lẫn nào đó?

Như vừa thoát ra từ một cơn mê, cô ta hồ nghi.

– Sao vậy? Tôi hỏi.

– Đã cố, nhưng em khó mà chấp nhận! Cô bé nói.

– Từ hôm qua đến giờ, tôi cũng tự vấn nhiều lần như thế, nhưng đúng là bà ấy!

Tôi nói, ngồi xuống chiếc ghế ở cạnh giường.

– Trước khi mất, dì có kịp nói gì với ông không?

Cô bé hỏi.

– Chúng tôi mỗi người một nơi, nhưng cô ta cũng kịp… Chợt nghĩ điều mình sắp nói sẽ cản bước cô bé hướng về tương lai, tôi im lặng, cúi mặt.

– Nếu ông muốn giấu thì thôi vậy!

Cô bé nói như muốn đuổi tôi đi. Bên ngoài có ai gióng gọi, tôi rót cho cô bé ly nước khoáng rồi ra ngay.

– Đã đậy nắp quan tài được chưa?

Thoan đón hỏi.

Sợ cô bé nghe, tôi chỉ ra hiệu bằng tay.

(Hết Chương 113)

Share this post