Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 114

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 114

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 114
– A.69
Ngậm ngùi tiễn đưa một kiếp hồng nhan. Nỗi buồn người ở lại.

Chúng tôi muốn lưu Cẩm Bình vài ba hôm, nhưng không ai dám tùy tiện, kể cả Tường Vi. Huyệt lộ, linh xa, cả xe đưa rước đã được Lê Viết Kỳ nhiệt tình lo liệu. Đúng giờ, đám âm công trang nghiêm di chuyển quan tài ra khỏi nhà, theo sau chỉ có Tường Vi khoác tang phục. Cô bé đi trong đám đông thờ thẫn như giữa chỗ không người. Đề phòng bất trắc, Mai Thị Dung luôn theo sát bên cạnh. Chị chủ hàng gia công tình nguyện ở lại lo liệu việc nhà, chỉ đưa Cẩm Bình tới ngõ rồi đứng lặng trông theo.

Trong ánh nắng chói chang của Tây Nguyên đầu mùa khô, đoàn xe tang từ từ lăn bánh trên con đường đất, từ biệt xóm hoa nghèo nàn, ngang qua thị xã, bám theo quốc lộ một đoạn rồi tiến sâu vào núi.

Tôi và Kỳ đã quyết định để cô ấy yên nghỉ ở khu nghĩa trang mới, giành lô đất trên ngọn đồi phía đông, phong quang thoáng đãng. Mai Thị Dung dìu Tường Vi đến bên huyệt, có ba cô bạn gái theo sau. Chiêng trống không khua tan vẻ thê lương muôn thuở của nghĩa địa, hương hoa nghi ngút không loãng phai mùi khao lạnh của tro than. Sau nghi lễ do đại đức chủ trì, Hoàng Văn Luân thay mặt thân hữu, nói lời vĩnh biệt.

– Thưa quý vị, thưa các bạn!

Trong sắc phục toàn đen, anh ta đứng ở phía cuối huyệt, giọng run run:

– Cô ấy xuất thân từ một dòng họ đại thần triều Nguyễn ở cố đô Huế, nội ngoại đều là các bậc khoa danh, chuẩn mực nho phong. Đáp lời sông núi, thân phụ cô từng từ giã bút nghiên cầm súng chống Pháp, rồi lận đận quê người. Do đó, Cẩm Bình sinh ra ở Toulouse, một trung tâm văn hóa thương mãi lớn của nước Pháp, lớn lên ở cố đô Huế, bảo vệ thành công luận án thạc sĩ sử học hạng tối ưu ở đại học Sorbonne, Paris, là giảng viên đại học Văn Khoa Huế và Sài Gòn những năm đầu thập niên 70, là cộng tác viên đắc lực của chuyên san Sử Địa với những công trình khám phá dật sử…

Có ai xuýt xoa và cả tiếng thở dài, nhưng không khiến người ta xao lãng, tất cả đều tập trung lắng nghe.

– Thời đó, thời mà đất nước ngập tràn máu lửa biết bao thanh niên dở dang học vấn và trước ánh mắt chúng tôi, Cẩm Bình là một trang nữ lưu tài sắc vẹn toàn…

Luân dịch kính nhìn vào vuông giấy, cất cao giọng:

– Một người vào đời với những tiên khởi đầy hứa hẹn như thế, có ai ngờ tương lai lại mù mịt! Đáng ra sứ mệnh trồng người và sự nghiệp nghiên cứu cứ thăng tiến vẻ vang. Nhưng oái oăm biết bao, sau mùa xuân đại thắng, lịch sử sang trang, số phận chọn cô ta như một thử thách, gia đình kêu gọi hy sinh, xã hội không cho phép hoàn thành thiên chức đúng như lương năng sẵn có. Đáng ra đôi lứa cao sang và một phúc hạnh nạm vàng, cô ấy tự nguyện sống đời cô độc, nghiêng vai gánh vác nghiệp nhà, dang tay đón nhận khổ đau của người thân, khép mình trong công dung ngôn hạnh, lánh xa mọi cám dỗ ô trọc. Đáng ra lập ngôn trước thư cho hậu thế, cô ấy bị đuổi khỏi giảng đường, xa rời thư viện, lết lê chợ trời, lang thang đường phố. Đáng ra ngồi vào ghế hàn lâm học viện, cầm cân lịch sử, vạch mặt chỉ tên hôn quân bạo chúa, tố cáo ngoại bang âm mưu cướp nước, cô ấy lại cúi đầu khuất phục côn đồ thời đại, lặng lẽ mai danh ẩn tích…

Đứng bên, Tô Thoan lén hích cùi chỏ vào mạng sườn Luân, ngầm nhắc. Tôi thấy anh ta gật gật đầu, nhưng không điều tiết kịp cảm xúc và ý tưởng.

–…Mất nhà, mất việc, mất cha, mất mẹ, nhưng cô ấy không chịu mất nhân phẩm. Rời bỏ quê hương bản quán, cô ấy âm thầm lên Tây Nguyên kiếm sống. Đất nước thời quá độ, với sách lược thâm độc đã hủy diệt và đày đọa không biết bao nhiêu trí thức chân chính, đặc biệt là trí thức phái nữ mà Cẩm Bình là một nạn nhân bi thảm nhất trong số đó…

Giọng Luân bỗng trở nên bi thiết:

– Thế là bao năm cách vật trí tri (*), cô ấy phải lui về với chiếc máy may cổ lỗ kiếm sống qua ngày như một người thợ thủ công thời tiền cận đại, bao năm đứng trên bục giảng chỉ cho con em thấy hướng phát triển của nhân loại, cô ấy phải lùi về tập tò kỹ năng lạc hậu của nông dân miền núi phát đốt chọt trỉa. Một cơ chế phân công lao động đui mù như thế, đương nhiên sinh hoạt của xã hội phải rối loạn, hậu quả đói khổ, ngu dốt và bệnh tật là điều không tránh khỏi. Cũng như bao số phận lầm than khác, sau những ngày sống thiếu thốn, vất vả, lo âu, cô ấy đã lâm trọng bệnh. Mặc dầu bạn bè tận tình giúp đỡ, nhưng Cẩm Bình không thể vượt nổi nghiệt chướng…

(*) Cách vật trí tri (chữ dùng trong sách Đại Học của Khổng Tử): Dùng trí tuệ mổ xẻ sự vật đến cùng tận để khám phá chân lý.

Đến đây, tôi thấy Luân tần ngần khá lâu.

– …Rút lại, gần trọn cuộc đời, cô ấy bị cuốn theo cơn gió dại lịch sử cho đến hơi thở cuối cùng, phí phạm tài năng đến oan uổng, lầm than đến độ khiến ai còn chút lương tri không khỏi cảm thấy xốn xang, sỉ nhục…

Vẫn đứng bên cạnh, Tô Thoan lại lén hích cùi chỏ vào sườn Luân. Tôi đưa mắt quan sát đám người đi đưa xem có ai đáng quan ngại, chẳng hạn bọn Bùi Phước hoặc cán bộ dân phố. Tất cả đều một vẻ buồn bã, ngậm ngùi. Không sao! Tôi mừng thầm cho Luân.

– Thưa quý vị, thưa các bạn, trong bao năm qua chúng ta đã từng biết và quen thân một Cẩm Bình cao thượng như thế. Và hôm nay chúng ta đứng quanh đây ngậm ngùi tiễn đưa một kiếp hồng nhan về nơi yên nghỉ vĩnh hằng với vô vàn thương tiếc…

Bất chợt một tiếng nấc vang lên, nhưng không phải của Tường Vi. Tôi thấy Mai thị Dung đưa tay bưng mặt cúi xuống sau lưng mọi người.

Tô Thoan nhướng nhìn qua phía bên kia huyệt. Không thấy gì, anh quay lui, len lỏi đi tìm vợ. Họ có chung một phần tủi hận. Tôi thầm nghĩ.

– Xin nguyện cầu hương hồn chị sớm được phiêu diêu miền cực lạc…

Trong lúc tôi đang lan man theo tiếng khóc của Dung, Luân xuống giọng kết thúc điếu văn.

– Nam Mô A Di Đà Phật!

Âm vang hộ niệm của một số Phật tử nối tiếp, khớp khao, nhịp nhàng như kéo dài thương tiếc.

Đến phần đáp tạ, Tường Vi không xuất hiện, tôi đành thay mặt vắn tắt cám ơn đại đức và quan khách. Rồi một hồi chiêng lệnh, đại đức chủ lễ rời đám đông, thân hữu lần lượt cho đất vào huyệt. Tường Vi quay lại. Thấy có vẻ bất thường, tôi chưa kịp lên tiếng, cô bé đã đổ gập xuống. Hai bạn gái vội đỡ dậy, nhưng cô ta nhất quyết lao xuống huyệt.

– Dì ơi! Giờ thì cháu biết sống với ai đây?

Cô bé khóc thét, lịm ngất trong tay bạn. Tiếng kêu của một sinh linh bị bỏ lại trên trần thế đang tận cùng cô độc. Hơn ai hết, tôi biết mình có dự một phần tàn bạo trong đó. Dung nhặt lấy linh ảnh, đi trước mở lối cho hai bạn đưa Tường Vi ra ngoài. Tôi khoát tay làm hiệu, thân hữu đưa tiễn dãn xa, đám âm công từ từ trút những mảng đất lớn xuống hố. Tiếng khóc Tường Vi mỗi lúc một xa. Cách huyệt chừng mươi thước, ngay chỗ đất trũng, Lê Viết Kỳ và hai công nhân lâm trường đang đốt áo xống cũ của Cẩm Bình, đốt luôn cả chiếc giường cô ta thường nằm. Bất chợt gió từ đâu hút về, thổi bùng ngọn lửa, tung cao những mảng tàn, vần vũ từng cuộn khói lam lên trời mây. Trước khi bái biệt, Tô Thoan cho đốt hết số nhang mang theo, chia đều cho mọi người, chúng tôi cắm quanh rìa mộ đang hăng mùi đất mới.

Trời ngả hẳn sang chiều. Ra khỏi nghĩa trang, khách đưa tiễn tự động tan hàng. Về tới nhà chỉ còn vỏn vẹn năm người. Sau khi giúp Tường Vi an vị vong ở gian thờ, chị Châu cho hay đã chuẩn bị một mâm cơm ở phòng khách. Tang sự đến đây coi như tạm ổn, tôi gặp riêng chị ta, xin gởi lại các khoản chi phí mấy hôm nay.

– Nếu tính kỹ, chắc tôi phải trả thêm cho cô ấy!

Chị ta nói, nhòe nhoẹt nước mắt. Tôi chỉ biết cám ơn. Một ngày bận rộn, giờ chẳng còn việc gì, chúng tôi ngồi vào bàn. Vừa nâng chén, Tường Vi bủn rủn đánh rơi đũa muỗng, Mai Thị Dung liền dìu cô ta vào phòng.

– Dù sao cũng mừng cho cô ấy tuy ra đi đột ngột nhưng vẫn đầy đủ ấm áp thân thương!

Thấy không khí tẻ lạnh, chị Châu lên tiếng vớt vát khi Dung vừa trở lại bàn. Chúng tôi gắng gượng ăn uống, không ai đụng tới bia bọt. Hai phần bữa, Hoàng Văn Luân xin phép về sớm vì đêm nay có phiên trực. Khó mà tin cái lý do ấy, nhưng tôi không thể níu anh ta thêm nữa. Tiếp đến, chị Châu kiếu từ. Rồi, vợ chồng Dung bùi ngùi nhập nhoạng theo nhau ra ngõ. Trong bóng tối chạng vạng, tôi đứng lặng nhìn theo một lúc rồi lẩn thẩn vào nhà.

Vừa bước lên hiên, nghe có tiếng động lịch kịch bên trong, tôi đi thẳng vào phòng Tường Vi, cô bé đang lếch thếch rời khỏi giường.

– Em không sao. Ông ra đi!

Thấy tôi nhớn nhác, cô bé nói.

– Có việc gì cần giúp?

Mặc cô ta xua đuổi, tôi hỏi, bước hẳn vào trong.

– Em muốn đi tắm rửa rồi thay áo xống. Bình nước nóng còn chạy tốt không? Cô bé nói rõ ý mình.

– Rất tốt! Nhưng trước hết phải chăm lo sức khỏe. Cả ngày nay, gần như em chẳng ăn uống tí nào…

Tôi tỏ ý quan ngại.

– Em không thấy đói! Cô bé nói, đi vào toa-let.

Lần khần một lúc, thấy sự có mặt của mình không đúng chỗ, tôi ra ngoài, thu dọn các thứ cho xuống nhà bếp. Có một khoảng thời gian tôi không biết đã làm gì và quanh quẩn những đâu. Khi lẩn thẩn dọc theo hành lang, tôi phát hiện bên ngoài trời đã tối hẳn, nhìn rộng ra, vườn tược một màu đen kịt, thê lương đến rợn người. Ngay tức khắc, tôi mở tất tần tật đèn trong lẫn ngoài. Tiền sảnh và khoảnh sân rực sáng, nhưng lòng tôi trĩu trịch u ám. Trong lúc tôi đang ngẩn ngơ bần thần, Tường Vi bước ra, áo xống chỉn chu, kéo một chiếc ghế im lặng ngồi xuống. Tôi đưa lên một chén xúp nhỏ. Cô bé cầm muỗng, múc ăn chậm rãi. Tôi đi qua gian thờ, cắt tim đèn, thắp hương lên bàn vong rồi trở lại.

Tường Vi đã ăn xong, đang ngồi uống nước.

(Hết Chương 114)

Share this post