Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 45

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 45

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 45
– Z.17
Người đẹp hoàn thành nhiệm vụ không được giao. Sinh nhật giả, chúc mừng thật.

Hôm sau, tôi đưa Cẩm Khuê băng qua công viên, thẳng xuống bến đò Thừa Phủ ngay trước cửa tòa hành chánh tỉnh, đúng như kế hoạch do mình dàn dựng.

Một buổi chiều lý tưởng cho khách nhàn du!

Gió lướt nhẹ từ sông lên, dìu dịu. Mặt trời đã khuất núi nhưng ánh dương chưa tắt hẳn, những tia nắng hồng hoàng ngược lên nền mây tím nhạt, phản bóng xuống mặt nước phẳng lặng. Ba năm ở Huế, những chiều tạnh ráo qua cầu, bao giờ tôi cũng dừng chân ở bao lơn ngắm nghía bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ấy. Có phải con gái thần kinh đã lấy màu mây kia khoác lên da thịt để được nõn nà? Có phải con gái thần kinh đã lấy sắc nước này tháp vào lòng mắt để được lúng liếng long lanh? Và có phải vì màu mây, vì sắc nước ấy khiến cha tôi lỗi hẹn với người tình quê?

– Chào ông anh bà chị!

Đang ngồi hút thuốc ở đằng lái, Phổ cừ rừ đứng dậy khúm núm lên tiếng. Khẽ gật đầu đáp trả, tôi dửng dưng bước qua mạn thuyền rồi dang tay cho Cẩm Khuê vin lấy. Vừa dướn mình, con thuyền khẽ lắc, cô ta ngần ngại rút chân lui. Hiếu vội ngồi bệt xuống, vít dây neo.

– Có em, bà chị đừng sợ! Hiếu nói.

Con thuyền vẫn lắc. Phải tì tay lên vai tôi, Cẩm Khuê mới dám nhón chân rời cầu ván. Cụm dân vạn chài ở bến này thưa thớt, sinh hoạt cuối ngày như cuốn theo màu nắng, mọi ánh mắt đều hướng về một mỹ nhân rực rỡ thướt tha trong sắc lụa vàng mơ giữa trời mây sông nước đương buổi hoàng hôn. Có lẽ không ai có thể tin một người con gái cao sang cỡ ấy lại lê la chốn sông nước nhiễu nhương thế này. Mấy đứa nhóc lem nhem xốc xếch bỏ thuyền lên bộ bu tới. Hụt mối, hai thằng ma cô cau có xầm xì. Những phát sinh râu ria ngoài kế hoạch xem ra bất lợi, cần phải chấm dứt sớm. Tôi ra hiệu cho Hiếu rước Cẩm Khuê vào khoang rồi làm ra bộ một khách phong lưu thong dong lặng ngắm đất trời trong chốc lát. Cơ bản, không có gì đáng quan ngại, tôi lượng định, yên tâm mồi một điếu thuốc.

– Rời bến được chưa ông anh? Thùng thình trong chiếc áo vằn vện chim cò quá khổ, Phổ hỏi, tì người vào mái chèo, nhay nháy đôi mắt trắng dã.

– Đi!

Tôi nhướng mày trịch thượng khoát tay ra lệnh.

– Dạ! Phổ vung chèo khá điệu nghệ.

Chao nghiêng một tí, con thuyền dãn dần xa bến, từ từ quay lái. Chắc cảm thấy có gì bất tiện, Cẩm Khuê không chịu ở lâu trong khoang, trở lại đứng bên tôi, mái tóc dài vờn theo gió, cùng với thân dáng thon thả đổ xuống đáy sông một chiếc bóng ẻo lả. Hiếu mang ra cái chõng tre nhỏ đặt xuống mũi thuyền.

– Mời bà chị! Hiếu nói, vỗ vỗ vào mặt giát, lén nhìn tôi, trở lại trong khoang.

– Hai người này mới vào nghề phải không anh?

Cẩm Khuê hỏi, ý tứ vén vạt áo dài ngồi xuống đầu chõng, chia tóc làm hai mớ lùa hết ra phía trước.

– Có thể!  Tôi nói.

– Em thấy họ thế nào ấy!

Cô ta nhận xét, tỏ vẻ không yên tâm, mân mê chỉnh lại đai quai chiếc ví da nhỏ, máng lên vai.

– Dân vạn chài lời lẽ không được thanh nhã, cử bộ có phần cục mịch nhưng tính khí họ thiệt thà.

Tôi nói cho cô ta hết lo ngại. Hai mắt to đầy gân máu, bộ tịch hơi thừa, vai nhô theo mỗi sải chèo, quả thật Phổ có vẻ dân anh chị kẻ chợ, quen thói đá cá lăn dưa hơn là ma cô sông nước. Còn Hiếu xương xẩu, lông mày sâu róm, râu mép xồm xoàm, rất xứng vai côn đồ lưu manh nhưng chẳng hợp tí nào khi đối mặt với một tiểu thư xinh đẹp đài các. Tôi tin chốc nữa đêm xuống, những khuyết điểm ấy sẽ được khuất lấp vào bóng tối. Tự an ủi, nhẩm tính thời gian, tôi yên tâm ra hiệu cho Phổ quay thuyền xuôi dòng hướng về hạ lưu. Đáy sông bắt đầu hút sâu, màu nước trở nên đen sẫm. Thuyền đi một đoạn, nhìn tới không còn thấy rõ người qua lại trên cầu, chỉ có những bóng đèn lóe sáng nối đuôi nhau và tiếng còi xe thưa thớt vang vọng thoảng đi trong gió.

Đúng như dự liệu, giờ này không chỉ có chúng tôi trên sông nước. Sau giấc ngủ dài ủ ê, một âm cảnh giữa lòng đô thị êm ả thức giấc, không rộn ràng, ít hương sắc nhưng theo một trật tự thuần thục nhuần nhuyễn. Cái thú ăn chơi ai đã vẽ vời tưởng như dân dã thô lậu hóa ra vô cùng nền nã thanh lịch!

Một chiếc thuyền con ngược nước lướt nhẹ tới.

– Cô chú mua hàng cho cháu với!

Con bé vừa khua chèo vừa gióng tiếng lanh lảnh. Người nó loắt choắt nhưng hai tay dẻo dai, miệng mồm lí lắc chẳng thua kém ai. Tôi đưa tay vời lại.

– Em cứ chọn tùy thích!  Tôi nói với Cẩm Khuê.

– Thì ra anh chưa mua sắm gì? Cô ta ngỡ ngàng.

– Lo chi bà chị ơi! Từ đằng lái, Phổ bép xép.

Thấy cô ta cau mặt, tôi quắc mắt bảo anh ta không được tùy tiện đâm ngang xỏ dọc.

– Có lẽ em chưa bao giờ đi chơi trên sông nước, ai lại mang củi về rừng, ở đây chẳng thiếu thứ gì, kể cả vàng bạc và kim cương! Tôi biến báo.

Hiếu trở lại với cái mâm gỗ trên tay, chiếc may-ô đen quấn quanh thắt lưng, mỗi khi gió lộng phe phảy như cái đuôi chó đến buồn cười. Cẩm Khuê bảo con bé đưa qua nửa thùng bia Ham, năm lon Coca Cola, mấy xâu nem nướng, một ít bánh lá chả tôm, hoa quả…

– Nhiều quá! Tôi ngần ngừ.

– Không chỉ cho anh và em, còn hai chú ấy nữa! Cẩm Khuê trách tôi vô tình rồi day lại phía con bé.

– Có đèn lạp (*) không em? Loại đèn bằng sáp vàng nhỏ cây í mà? Cô ta hỏi, con bé ngu ngơ lắc đầu.

(*) Lạp: sáp ong. Xưa, loại đèn hình ống có bấc ở giữa, bằng sáp ong dùng trong hoàng cung, ít khói, mùi thơm. Đèn ngoài dân dùng mỡ động vật đựng trong dĩa gốm hình con vịt, đuôi vịt là chỗ tim bấc tựa lên để cháy, gọi là dĩa đèn hoặc vịt đèn. Nay, loại đèn hình ống ấy làm bằng nhựa cây cầy, gọi là đèn cầy. Dân Huế do thói quen hoặc muốn làm sang cứ gọi “đèn lạp”, màu hồng là hồng lạp, trắng là bạch lạp.

– Khỏi! Dầu đèn đã có sẵn trong khoang, bà chị cần chi cái ngữ đó!

Đang ôm chèo, Phổ lại nói vọng tới nhưng Cẩm Khuê không nghe hoặc không hiểu anh ta nói gì do chất giọng vùng biển mặn muối quánh quéo. Ngay lúc ấy, Hiếu ló mặt sau vòm mui, một tay đưa lên một tay chỉ xuống. Tôi hiểu. Chiếc hộp trên tay anh ta là loại đèn lạp dùng cho cưới hỏi, chỉ có một cặp, màu đỏ, khá to và chạm hình long phụng cầu kỳ. Sơ suất này do tôi không dặn kỹ, còn Phổ thì quá quê mùa.

– Có bánh không? Cẩm Khuê lại hỏi.

– Dạ có! Con bé trả lời, trưng ra một mẹt bánh nậm, bánh lọc gói lá và chả tôm.

– Không phải những thứ này, bánh ga-tô kia?

Cẩm Khuê đanh giọng, con bé hụt hẫng lắc đầu.

Vâng theo ý tôi, Hiếu nhận gói bánh con bé đưa sang rồi ra hiệu nhờ nó mua giúp mấy thứ còn thiếu. Cẩm Khuê ngán ngẩm thị trường trôi nổi nghèo hàng.

– Cô chú cần mấy thứ ấy, cháu tìm gấp cho!

Tôi chi tiền, con bé đón lấy, lui thuyền rồi mất hút.

– Bà chị không việc gì bận tâm đến những quái quỷ đó! Một lần nữa Phổ ra sức đãi đưa lấp liếm.

 – Snh nhật phải có đèn lạp với bánh ga-tô chứ!

Cẩm Khuê lên giọng giảng giải.

– Đúng rồi! Tôi hùa theo, nháy mắt bảo Phổ im và ra hiệu Hiếu rút lui, rồi ngồi xuống một đầu chõng.

Cẩm Khuê đưa tay phủi một cái gì trên be áo vét-tông của tôi, bộ tịch như muốn thu mình lại.

– Buồn cười thật nhưng cũng hay, chưa bao giờ em thấy anh ăn mặc đàng hoàng như hôm nay!

Mấy phút sau, cô ta nói, trở lại vui vẻ.

– Chỉ đàng hoàng thôi sao?

Tin chắc sơ suất đã được cho qua, tôi lên mặt.

Còn lâu em mới khen anh bô trai!

Cẩm Khuê nói.

– Vì sao? Tôi hỏi.

– Em sợ anh hư! Cô ta cười chữa thẹn.

Qua khúc sông nhìn lên có đài phát thanh, Phổ cho thuyền lượn tránh trụ cầu, gác mái chờ lệnh. Hiếu trở lại, bày các thứ vừa mua lên mâm rồi lui vào trong. Có tiếng động lục cà lục cục. Hình như Hiếu đang dịch chuyển một vật nặng, tôi nghi cậu ta vừa cho bình ắc-quy lui sau lái. Con thuyền chòng chành khiến Cẩm Khuê e ngại. Tôi lên mặt cảnh báo Phổ chèo chống ý tứ.

– Em xin lỗi ông anh!

Phổ nói to cốt để cô ta cùng nghe. Tôi mở đồ uống và mời. Cẩm Khuê cầm lấy một lon Coca Cola nhưng mắt cứ mải mê nhìn lên bờ.

– Anh xem kìa, phố xá bỗng dưng lạ hẳn!

Cô ta nói, tôi nhìn theo.

– Có phải nó đẹp hơn ban ngày không nào?

Tưởng cô ta thích, tôi thêm.

– Đêm đã khuất lấp bao thứ nhố nhăng, nhưng em cứ thấy ghê ghê làm sao! Cẩm Khuê nói.

– Có lẽ do chúng ta đang sống trong chiến tranh.

Tôi giải thích khi chợt nghe một loạt tiếng nổ từ phía Trường Sơn vọng về, nhưng Cẩm Khuê không quan tâm, cũng có thể không tán thành.

– Bến Thương Bạc ở đâu nhỉ? Sao không thấy Phu Văn Lâu? Ồ, tòa tỉnh kìa!

 – Không phải, trường em!

Cô ta đứng bật dậy vít tay vào vai tôi.

Thuyền sắp sửa đi vào vùng hành động.

Tôi cũng đứng dậy, giả bộ ngắm nghía cùng Cẩm Khuê, phía sau bãi đổ bộ của một đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ (*), hai tòa nhà trường Đại Học Sư Phạm và Trung Học Kiểu Mẫu mập mờ sừng sững dưới nền trời chạng vạng.

(*) Khoảng cuối năm 1965, một đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đỗ bộ lên bờ nam sông Hương, ngay trường Đại Học Sư Phạm nhìn xuống, và đồn trú tại bãi này khá lâu.

Ra hiệu cho Phổ giảm vận tốc, ép thuyền sát bờ nam, tôi đưa mắt về phía hạ lưu, nôn nao, căng thẳng. Giờ G?

Tôi nhìn qua Gia Hội, bên dưới khối cầu bê tông dài thẳng đét, vũng bóng dạ đen thẫm gờn gợn ánh nước, bên trên lo ló một chiếc bóng nửa người.

Trần Cáp đã vào đúng vị trí. Tôi yên tâm.

Thuyền của Lê Văn Cung đang ở đâu? Tôi nhìn xuống mặt đồng hồ đeo tay có dạ quang rồi ngẩng lên tìm ám hiệu ở cả hai bờ Đông Ba – Gia Hội.

 Giờ G, đỏ đèn!

 Trước ba ngày tiến công, do phải biến tấu chút ít kịch bản, tôi đổi vai ma-cô của Cung thành thằng nhóc bán hàng. Thuyền con chỉ có một người, tôi đổi vị trí xuất phát và đã đưa Cung đến tận nơi, ém vào nhà một đồng chí cơ sở làm nghề xảm đò ở mé bờ Gia Hội với yêu cầu tập cho chú ấy chèo chống thành thạo như con em dân vạn chài. Tôi nghĩ Cung sẽ được tận tình giúp đỡ và được thuận lợi nắm vững địa bàn trận địa.

Nhưng bây giờ phía ấy, mịt mù, thăm thẳm khiến tôi lo. Con bé bán hàng rong trở lại, ném vào lòng thuyền một gói giấy.

– Đèn với tiền thừa đây, cô ơi!

Nó gào theo rồi đi luôn.

– Thế là không có bánh!

Cẩm Khuê đón lấy gói giấy xập xệ, than thở.

– Ngày này sang năm anh sẽ nhờ em chủ trì mua sắm! Tôi nói.

 – Biết đâu có một cô nàng khác xinh đẹp hơn, chu tất hơn muốn tình nguyện thì sao? Cẩm Khuê đùa.

– Không ai dám vượt lên thế chỗ nếu em không tự ý bỏ đi! Tôi cũng đùa.

Cô ta cười, nép sát vào người tôi. Tư thế này giúp tôi thuận lợi, cùng lúc vừa thân mật với người yêu vừa quan sát mục tiêu. Nếu địch theo dõi, quay phim chụp ảnh, có lẽ đây là giây phút diễm tình nhất của lứa đôi!

 – Lửa đâu anh? Cô ta hỏi.

Tôi móc túi đưa ra hộp quẹt ga hiệu Zippo. Cô ta đón lấy, cúi xuống chiếc chõng tre. Tôi vẫn không ngừng nhìn qua bên kia bờ. Hiếu trờ tới, xé tung bao giấy, giúp Cẩm Khuê tỉ mẩn gắn những cây đèn quanh chiếc mâm gỗ. Sợ Cung nhầm ám hiệu, tôi bảo Hiếu và Cẩm Khuê đưa mâm vào trong khoang để tránh gió và dùng luôn cả cặp đèn long phụng.

– Bao nhiêu cây, anh nhỉ? Cẩm Khuê hỏi vọng ra.

– Một ngàn! Tôi lếu láo đùa, kéo dài thời gian.

– Anh ấy thọ ghê nhỉ, tuổi vượt cả ông Bành Tổ! (*) Tôi nghe cô ta cười khúc khích với Hiếu.

(*) Bành Tổ họ Tiên, tên Khanh, cháu sáu đời vua Chuyên Húc, là thừa kế đời thứ 8 của hoàng đế Hiên Viên, tương truyền thọ trên 700 tuổi. Được coi là biểu tượng sống lâu và được phong tại đất Đại Bành (Giang Tô) nên người đời có câu xưng tụng là thọ như Bành Tổ.

– Một này, hai này, ba này…! Cẩm Khuê đếm.

 – Bà chị cứ gắn hết bao thì thôi, càng sáng càng tốt! Hiếu đề nghị.

– Không, phải ứng với số tuổi hiện tại của chủ nhân chứ! Cô ta cãi lại.

– Vậy để mặc em, sau đó chị cứ việc kiểm tra.

Hiểu ý tôi, Hiếu muốn chủ động giờ giấc. Mật hiệu cho Cung bắt đầu tiến phát khi cụm đèn cháy sáng đầu mũi thuyền. Gió trên sông lúc này không mạnh nhưng đủ sức bạt tắt lửa.

– Anh gì ơi, có chi che chắn không?

Cẩm Khuê gióng hỏi.

– Chưa tới giờ! Tôi nói khi thấy Hiếu bưng mâm theo sau Cẩm Khuê lần ra khỏi khoang.

– Khiếp thật! Anh còn nhớ cả giờ nữa sao! Cô ta giễu.

– Vâng! Tôi khẳng định, thu lấy hộp quẹt ga trong tay cô ta.

– Xưa nay có ai mừng giờ sinh đâu!

Cô ta trêu chọc trở lại.

– Em nghe một ông thầy Tàu nói kỷ niệm sinh nhật cử hành đúng giờ mới linh nghiệm!

Hiếu đệm thêm, đặt chiếc mâm lên mặt giường tre. Tôi liếc xuống đồng hồ, đưa hộp quẹt ga trở lại cho Cẩm Khuê. Hiếu khuân cả chiếc chõng tre gác ngang đầu mũi thuyền. Cẩm Khuê vén vạt áo ngồi xuống, lấy thân chắn gió, châm đèn. Ánh lửa chỉ leo lét chút đỉnh trên đầu mấy cây sáp trăng trắng rồi tắt ngay. Cố gắng đến lần thứ ba, cô ta đứng dậy nhường chỗ. Cúi sát mâm, dùng một tay kéo áo may-ô chắn gió, Hiếu châm đèn vẫn không có tác dụng. Cậu ta rinh mâm đặt sát đáy thuyền, ngắt bớt sáp cho mỗi đầu bấc ló dài. Mặc dầu Cẩm Khuê không muốn và đã nhổ bớt mấy cây cho đúng số tuổi, tôi lấy cớ ban đêm đang ở giữa sông nước tối tăm, bảo Hiếu phải thắp cho được cặp đèn long phụng. Hiểu ý, Hiếu làm ngay. Lửa mạnh mẽ bùng lên.

– Đèn sinh nhật mà hừng hực hùng tráng chẳng khác gì lửa trại! Cẩm Khuê mai mỉa.

Tôi tảng lờ, bảo Hiếu đưa mâm về lại mũi thuyền.

“Happy birthday to you!” Thay lời chúc mừng, Cẩm Khuê trang trọng cất tiếng hát. – “Happy birthday to you! Happy birthday, dear Lê Huy!”

Tôi vỗ tay hát theo, ra hiệu cho Hiếu vào khoang.

– Anh phải tự mình thổi tắt đèn đi chứ!

Thấy tôi lơ ngơ, Cẩm Khuê bày vẽ.

– Ban đêm đang giữa sông nước, có cần theo đúng nghi thức ấy không? Tôi muốn phá lệ, nhìn quanh.

– Đó là truyền thống! Cẩm Khuê nói.

Một chiếc ca-nô nhỏ vừa qua mặt chúng tôi vụt quay lại. Tôi quá biết là đội kiểm tra giang hải nhưng giả bộ không để mắt tới. Ánh đèn pha chiếu thẳng vào chiếc mâm rồi sỗ sàng quay ngược lên người Cẩm Khuê, vừa rà xét vừa nghễ ngắm. Tôi cảm thấy khó chịu, nhưng nghĩ lại vẫn không sao, rất khớp khao với kế hoạch. Cô ta vội đưa chiếc ví nhỏ lên che mặt.

– Một kiều nhi tân thời!

Bên kia ca-nô một tay ngổ ngáo vừa tán thán vừa châm chọc. Cẩm Khuê bước giật lùi khuất sau lưng tôi. Ánh đèn chiếu xuống nước quét dọc theo mạn, vài ba bóng đen đứng thẳng dậy, vung tay chỉ chỏ.

– Hình như bọn hắn muốn qua bên này?

Tôi dè chừng, nhìn lui phía lái.

– Quí thầy ơi, đất trời mênh mông, sông nước lạnh lẽo, mần một điếu cho ấm bụng!

Phổ lải nhải khi ca-nô cặp sát mạn. Tôi đã dặn Phổ mỗi khi mồi tiền kèm theo vật phẩm phải nửa kín nửa hở, cho cả bọn cùng thấy, phòng tránh cảnh quan tha ma bắt, không nên dè sẻn nhưng đừng quá lố mà chúng sinh nghi. Bọn sĩ quan Cộng Hòa đa phần có học, xuất thân con nhà thi thư lễ nghĩa, không phải đứa nào cũng thích ăn bẩn cả. Bây giờ sau lưng tôi đang diễn tiến âm mưu mồi chài ấy.

– Thuốc thang ở miệng làm sao ấm bụng, có Whisky không? Một tay bên ca nô bắt bẻ, chòi mòi.

– Không hả?

Phổ chưa kịp lên tiếng, một tay khác gắt gỏng.

– Dạ! Em không quen xài thứ đó, chỉ có thứ này!

Phổ muốn tống khứ càng nhanh càng tốt.

– Cho em gởi quí thầy chút đỉnh gọi là…

– Chừng này thôi hử? Vẫn cái giọng khe khắt ấy.

– Đò em mới bắt mối. Thiệt mà, mới mở hàng!

Phổ phân bua, kèo nài. Thoạt nghe đôi bên đôi co tưởng như khó thoát, nhưng tôi tin sẽ êm xuôi mát mái. Quả thật, tiếng động cơ đang rền rĩ bỗng gào rú. Một lần nữa, như còn tiếc nuối hoặc muốn nhắn nhe, ánh đèn hỗn xược lại soi vào hai chúng tôi.

– Bất lịch sự quá! Cẩm Khuê bực dọc, khẽ than.

– Nhiệm vụ mà! Tôi an ủi cô ta.

– Ai không biết thế, nhưng quân phong quân kỷ để đâu? Rất tiếc anh Bửu Dương không có ở đây mà chứng kiến đồng đội của mình! Cô ta không chịu cho qua.

 – Lính tráng thời chiến, đừng đòi hỏi quá đáng!

Tôi nói, ngoái nhìn lui.

– Mất dạy như thế mà anh còn bênh được a!

Biết cô ta nổi cáu, tôi đứng im.

Chiếc ca-nô đã đi xa, trả lại sông nước yên ắng.

Sự can thiệp của kiểm tra giang hải vô tình phá bĩnh cuộc vui, Cẩm Khuê tiu nghỉu. Giá như trên bộ chắc cô ta đã bỏ về, chí ít cũng đòi thay đổi địa điểm. Đã thế, một cơn gió thoảng qua, đèn tắt mấy cây. Tiệc sinh nhật vừa bắt đầu đã có vẻ hiu hắt tàn tạ.

– Anh gì ơi! Cẩm Khuê gọi vào trong.

Không nghe lên tiếng, cô ta ngao ngán nghiêng người, chống tay vào mạn, đăm chiêu cúi nhìn sông nước. Có lẽ Cẩm Khuê chưa bao giờ tham dự một bữa tiệc sinh nhật lôi thôi lếch thếch kiểu này. Nhưng không sao, rồi có ngày cô ta sẽ biết đằng sau ánh lửa ấy là gì, và thông cảm. Còn bây giờ, tôi tin với cốt cách đài các, Cẩm Khuê sẽ thể hiện trọn vẹn vai diễn của kịch bản chưa hề thông qua, mặc nhiên hoàn thành nhiệm vụ được giao nhưng chưa bao giờ nhận. Một thoáng lo nghĩ, mắt tôi vẫn dõi theo bên kia bờ Gia Hội và ra hiệu cho Phổ đưa thuyền vào đúng tọa độ phối kết.

 – Em sợ…!

Bất ngờ Cẩm Khuê thổ lộ, hướng mắt lên bờ.

 – Cái gì? Tôi hỏi.

– Một linh cảm…! Cô ta không nói hết.

 – Sao có lần khoe sánh bằng kình ngư Yết Kiêu! Tôi cố gắng pha trò hâm nóng cuộc vui.

– Đó là cái tài trong bể tắm ở hội quán, còn đây, bọn mặt-rô với sông nước chẳng khác gì côn đồ hải tặc!

Cô ta chợt im.

– Chúng ta đang sống trong chiến tranh, em chưa bao giờ thấy cảnh duồng gió bẻ măng sao?

Nối ý Cẩm Khuê, tôi cố bình thường hóa cảnh ngộ nhưng không khỏa lấp được nghi ngại trong cô ta. Cụm đèn lại tắt thêm mấy cây nữa.

– Hiếu ơi, có giữ thùng quẹt đấy không?

Tôi gọi vào trong khoang.

– Dạ! Hiếu chạy ra, trên tay một que lửa, đèn cháy đều trở lại.

– Quả thật, có phần luộm thuộm…

Thay vì xin lỗi về thiếu chuẩn bị, tôi thú nhận:

– …Nhưng hôm kia chính em cũng tán thành với anh một lễ mừng sinh nhật giản đơn.

– Giản đơn không có nghĩa là bôi bác!

Cẩm Khuê không bằng lòng rồi cũng miễn cưỡng cho qua. Hiếu nghe hết cuộc trao đổi của hai chúng tôi. Châm đèn xong, anh ta cắm que mồi vào mũi thuyền.

– Có giỏi thì thổi cho tắt nữa đi!

Hiếu lên giọng thách thức với đất trời. Nhưng tôi hiểu anh ta đề phòng và nhằm giải thích với Cẩm Khuê.

(Hết Chương 45)

Share this post