Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 53

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 53

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 53
– A.33
Phe BiTiBi và thủ lĩnh.

Sau ngày hai miền Nam – Bắc thống nhất, các đài quốc tế thường đưa tin Việt Nam treo bảng hiệu dân chủ cộng hòa, thực chất chỉ có một đảng độc quyền lãnh đạo với nhiều “nhà nước” quản lý. Những loại “nhà nước” này đều là ngụy quyền vì chưa bao giờ thật sự được nhân dân bầu ra, chỉ là con đẻ của bịp bợm, của thủ đoạn, của ma giáo tiếm vị và dùng bạo lực trấn áp buộc nhân dân phải lặng tiếng, cúi đầu tuân phục.

Trong số đó, đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ, biến hóa như một bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ. Với bản tính siêu ký sinh, nhà nước Đảng từ buổi sơ khai đã khín vô số tiền của và máu xương nhân dân, nhưng chưa bao giờ thừa nhận ăn ké. Xuất thân hèn hạ, tiên thiên kém phẩm chất, nó không làm được một cái gì, nhưng tiêu xài vô tội vạ, đôi khi còn cắt xén tổ quốc làm vật đổi chác khí tài, hoặc làm quà tặng thượng quốc để yên bề chư hầu, tọa hưởng vinh thân phì gia. Nó là đầu mối mọi nhũng nhiễu, tai họa, tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay.

Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền. Nó vâng lệnh đảng như một đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản từ nhân dân, sau khi trích nộp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở. Tuy chức năng hành chánh, nhà nước này được đảng cài đặt một số công cụ lập pháp và tư pháp nằm vùng, nên hóa thành lưỡng tính như đòn xóc hai đầu, đa năng như dao bầu vừa chặt vừa chém vừa đâm. Về quyền lợi cá nhân, một tay gác cổng cũng đủ bùa phép nặn túi nhân dân, nhưng về trách nhiệm tập thể, đến như thủ tướng, bộ trưởng và các cấp chủ tịch cũng mặc thây thiên hạ.

Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy vị trí, ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cữu. Đến nay, nhân dân đã rõ mặt nhà nước Quốc Hội là một lũ vừa ăn cướp vừa la làng, vừa phóng uế vừa hạch đàn mất vệ sinh. Trong nước, nhà nước Quốc Hội cấp nào cũng là trò hề, nhưng với quốc tế nó nhấp nhem biển lận tam quyền phân lập, phát sáng dân chủ, tự do giả hiệu. Hàng năm, nhà nước này cũng mở cửa đón rước một số dân biểu các nước có truyền thống đích thực dân chủ. Và buồn cười làm sao, hai bên uốn éo hứa hẹn trao đổi kinh nghiệm lập pháp!

Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi nhà nước Chịu Trận, vì là bung xung hứng đòn, phản đòn, đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép ba lên bốn xuống mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng mẫu đặt hàng của đảng. Đây là thứ nhà nước có đặc tính chợ phiên ở vùng cao Tây Bắc, tới hồi vãn cuộc rất ảm đạm và bẽ bàng, thường dành chỗ cho những cán bộ yếu thế – thương phế mà chưa đến tuổi hưu, đại diện một số đoàn thể do đảng cử người mai danh lãnh đạo, đại diện một số phe phái tôn giáo quốc doanh cò mồi. Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước 1954 và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975, hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!

Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang vì ý chí quyết thắng và bản chất tàn bạo, bao giờ cũng hiên ngang kiêu binh hãn mã. Nhà nước này làm bằng sức người và của nả nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản, những vùng chúng thích nhất là vành đai phi trường, hành lang công viên và bến bãi xe tàu – như các đội Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc thuở 55–56, phân chia quả thực cho xâu chuỗi ngay sau cuộc đấu tố địa chủ. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật gồm các tổng cục chuyên ngành. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có tư lệnh quân khu, hội đồng cơ mật gồm các tỉnh đội trưởng. Nhà nước này hội đủ tính phong kiến trung cổ La Mã, sĩ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ bổng lộc hậu hĩ, hạ sĩ quan và lính gồm con em nhân dân gọi là chiến sĩ chỉ hưởng sinh hoạt phí đủ cầm hơi tới ngày phục viên [giải ngũ].

Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố, nghĩa là vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không chỉ nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa, chỉ dưới thời phát xít Đức–Ý–Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát.

Trên nguyên tắc, sáu nhà nước ấy có các chức năng chuyên ngành mượn màu hiến pháp, nhưng do cơ chế đặc thù, tự thân chúng phát sinh những tố chất riêng tạo thành cương lĩnh bất thành văn. Nhân dân chỉ có một, đất nước chỉ có một, tổ quốc chỉ có một, nhưng nhiều quyền lực đua nhau quản nên liên tục bị chỉ thị, bị điều hành, bị bòn rút, bị khai thác, bị tiêu xài – như một thớt ngựa mà quá nhiều kỵ sĩ luân phiên cỡi, một đám ruộng mà quá nhiều chủ nhân canh, một hộ lý mà quá nhiều quan viên đòi phục vụ, chẳng cần nói ra, cũng thấy rách nát, tả tơi, thảm thương, khổ nhục thế nào. Nghe nói mô hình ấy là kỳ công của Lénine rút từ cơ cấu và hệ thống tổ chức của nhà nước Công Giáo Roma hà khắc thời Trung cổ, có bổ sung sách lược bạo lực và đặc quyền chủng tộc Aryan của Hitler cùng một số thủ đoạn của Machiavel, đem áp xuống cho Liên Bang Xô Viết, được Staline gia cố thêm khủng bố, áp xuống Đông Âu, về sau Mao Trạch Đông cải biên thay đội ngũ công nhân bằng nông dân cho thích nghi với những nước nông nghiệp lạc hậu, nhưng duy trì độc đảng, độc quyền và bạo lực khủng bố. Hồ Chí Minh luôn luôn nói vận dụng, sáng tạo, nhưng các nhà sử học chứng minh đảng ta bê nguyên xi từ Trung Hoa vĩ đại về và chụp xuống đầu nhân dân.

Phác thảo trên là tổng quan cả nước được dư luận quốc nội và quốc tế công nhận. Còn tỉnh tôi, như một bằng chứng hùng hồn minh họa định luật tiến hóa của Darwin, sáu nhà nước ấy do một số đặc điểm Tây Nguyên đất rộng người thưa, do quá trình tồn tại và phát triển nhào nặn, hình thành ba phe, ngôi thứ mập mờ, ba hồi đồng chí ba hồi đồng thù, ngấm ngầm kèn cựa đánh đấm nhau, đến nay vẫn bất phân thắng bại.

Theo sắp xếp của nhà giáo ưu tú Lương Hữu Khá khi chưa ngồi ghế hiệu phó, phe thứ nhất là Bắc Trung Bộ – tiếng lóng nội bộ là BiTiBi – phát xuất từ lớp vỡ lòng Anh ngữ dành cho cán bộ ở Trung tâm Ngoại ngữ của tỉnh, gồm các thành viên quê Quảng Ngãi, Quảng Nam, Quảng Trị – ngoại trừ Thừa Thiên, vì cư dân xuất phát từ địa phương này có nguồn gốc phong kiến, lễ nghi, trí thức, đã một thời ăn trên ngồi trốc, không được xí phần béo bở của chuyên chính vô sản. Đứng đầu phe BiTiBi là đương kim bí thư tỉnh ủy Nguyễn Thanh Cưỡng, nguyên học sinh miền Nam, học lực 5/9, tốt nghiệp trung cấp cơ khí. Nguyễn Thanh Cưỡng chưa bao giờ ở rừng, chưa một ngày kháng chiến, nhưng da màu sốt rét kinh niên, thân hình nhỏ nhắn, đầu cá chai, tóc thưa mà hói, nói năng như một thầy tu truyền giáo ở vùng sâu vùng xa. Chưa nghe ai khen Nguyễn Thanh Cưỡng thông minh, đạt thành tích gì về trí tuệ. Sau mùa xuân đại thắng 1975, hồi kết sớm và như có phép mầu, khởi đầu từ ghế phó phòng tiểu thủ công nghiệp thị xã, ông ta cứ thăng tiến đều đặn. Bí quyết đi lên nhẹ nhàng như khinh khí cầu ấy đã được bật mí. Nguyễn Thanh Cưỡng khi gặp lại gia đình từ Quảng Ngãi dời lên cao nguyên vào những năm Ngô Đình Diệm lập dinh điền, biết mình có em gái chưa chồng khá xinh là Nguyễn Thị Là, cô giáo ấp Tân Sinh thời Việt Nam Cộng Hòa. Do trước đây dạy học vùng ven, cô giáo Là có vài lần bất đắc dĩ quan hệ và tiếp tế cho cán bộ Việt Cộng từ núi xuống làm công tác dân vận. Đang thân cô thế cô, Nguyễn Thanh Cưỡng vội đẩy cô em tới trước. Ngày đầu của ủy ban quân quản, bí thư tỉnh ủy lúc bấy giờ là con dê già trụi lông nhưng sừng và râu vẫn nguyên vẹn, bao năm ở chốn rừng xanh đất đỏ bí bức phóng khí vì chưa có mục tiêu. Nay gặp Là thấy còn ngọt nước, bất cần trình độ nghiệp vụ, bí thư vội rút cô ta về thành. Căn cứ tiêu chí trung ương đề ra, “nhất trụ nhì tù tam xanh tứ kết” (*), với nhãn hiệu cán bộ cơ sở cách mạng, bí thư đưa Nguyễn Thị Là ngồi ghế chủ tịch công đoàn giáo dục tỉnh.

(*) Nhất trụ nhì tù tam xanh tứ kết: Thứ nhất, bám trụ trong vùng địch. Thứ hai, ở tù nhưng không để lộ bí mật của tổ chức. Thứ ba, hoạt động ở bưng biền, rừng núi, chiến khu. Thứ tư, sau 1954 được tập kết ra Bắc, sau 1975 hồi kết về lại miền Nam. Sau khi hiệp định đình chiến Genève được ký kết (20/7/1954), phe Quốc Gia ở miền Nam thực hiện cuộc di cư đưa người miền Bắc vào Nam. Ngược lại, phe Cộng Sản thực hiện một cuộc tập kết đưa người từ miền Nam ra Bắc, trong đó bao gồm bộ đội, cán bộ và một số con em của họ. Đám con em này ra tới Bắc, được đảng cho đi học, tiêu chuẩn vật chất khá cao, với nhãn hiệu “Học Sinh Miền Nam”.

Sau những đợt mây mưa hoan lạc, bí thư nghĩ đến cội nguồn hạnh phúc nhưng biết lấy gì đền ơn đáp nghĩa ngoài việc cất nhắc bào huynh của tình nhân qua mỗi kỳ cơ cấu ứng viên vào hội đồng các cấp.

Núp bóng quyền lực bồ già, song hành với thăng tiến của anh, Nguyễn Thị Là nỗ lực tích cóp. Sáu năm, cô ta có ba ngôi nhà cao tầng ở trung tâm thị xã mà không tốn một xu, toàn chiến lợi phẩm của Mỹ Ngụy để lại, đó là chưa tính đến của chìm, của xa, ruộng ma đất quỷ và vô khối phương tiện gia dụng hiện đại. Do tuổi già sức yếu và cũng do làm việc quá sức, sau ba lần vào ra bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh [trước 1975 là bệnh viện Vì Dân], và sự tận tình của đội ngũ y sĩ tài ba tỉnh nhà, vẫn không cứu được sinh mệnh chúa tể sơn lâm, người con ưu tú của đất nước. Đài phát thanh, truyền hình tỉnh kịp thời báo tin buồn về bí thư tỉnh ủy và công bố phó bí thư Nguyễn Thanh Cưỡng, trưởng ban lễ tang, quả phụ Nguyễn Thị Là, chủ tang. Một sự quá vãng tưng bừng vẻ vang, dẫu có ba người đàn bà tất tả nam bắc và mấy ông nhóc tứ phương đến nhận chồng nhận cha, bù lu bà la. Trưởng công an thị xã lúc ấy là Tạ Thao bất lực, nhờ có bà Đặng Thị Ga, chủ tịch Liên Hiệp Phụ Nữ thị, và bà Cù Thị The, phu nhân Nguyễn Thanh Cưỡng trưởng phòng Lao Động Thương Binh Xã Hội, thu xếp bằng cách đi đêm và mở rộng hầu bao. Nói chung, tuy hao tốn nhưng Nguyễn Thị Là hoàn toàn mãn nguyện. Chuyện không con kế thế thì cháu cô cháu dì thiếu gì! Còn chuyện củng cố danh lợi, cô ta nấp bóng ông anh, nắng nào rọi thấu!

Khỏe hơn rất nhiều so với việc cha con Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, Nguyễn Thanh Cưỡng ngồi vào ghế bí thư tỉnh ủy như thái tử chính thống nối ngôi cha. Với tư thế vững như bàn thạch ấy, chỉ ba năm, vợ chồng Nguyễn Thanh Cưỡng tạo dựng một cơ ngơi với vận tốc phi mã. Một số biệt thự gò đồi ngoại ô mang tên con gần cháu xa bên cha bên mẹ, năm nhà cao tầng khác bao quanh khu thương mãi cho các công ty ngoài tỉnh thuê, hai khách sạn ba sao, một trang trại trong vườn cây lưu niên, nơi nghỉ ngơi cuối tuần của gia đình và bạn bè, khoảng một trăm hectas cà phê robusta, hai trăm năm mươi hectas cao su đang thời kỳ thu hoạch. Chưa hết, còn một số đất cát dọc quốc lộ 14 có đường biên ngang dài tới ba ki lô mét, đường biên dọc tùy theo sức khỏe máy kéo máy cày băng đồi vượt khe. Đó là phần nổi, còn của chìm của xa có trời tỏ, nhân dân chỉ rõ vợ Nguyễn Thanh Cưỡng là người rất hám của và rất xấu xí, xấu cả người lẫn tính. Giàu nứt đố đổ vách mà thân dáng xác xơ như mắm! Của kho của đụn mà cứ bòn rút từng đồng hưu trí của cán bộ công nhân viên chức! Hôm dự đám cưới cháu gái bí thư, nhân ngồi cùng bàn và đang lúc say bí tỉ, lại muốn khoe là người nhà, hiệu trưởng Võ Hùng Anh cho Hoàng Văn Luân và tôi hay Nguyễn Thanh Cưỡng có ba quý tử, một lệnh ái hai ấm viên, dốt nát hạng nhất nhì tỉnh nhưng đều là sinh viên du học cả – Australia nhân hậu rước một đầu bò, nước Mỹ cao cả rước hai đầu heo.

Nhưng chớ tưởng lầm ủy viên trung ương đảng kiêm bí thư tỉnh ủy Nguyễn Thanh Cưỡng không có người dám ra mặt thù ghét.

Ai to gan lớn mật đến thế? Đó là cư dân thuộc sắc tộc thiểu số Bahnar, Djarai, Édé ở những buôn làng gần nông trang cà phê và cao su của ông ta.

Một năm hai kỳ bơm thuốc diệt trừ sâu bệnh cho cây, gió mang chất độc lên rừng giết luôn ong bướm và cả chim muông, nước mang chất độc xuống suối giết luôn cá mú, gia súc và cả người. Cạn kiệt môi sinh, thiếu dòng nước yọt (*), họ liên kết thành đội ngũ, họp hội mít-tinh phản đối.

(*) Yọt: Nước ngầm từ đất, không cần đào giếng mới có, có nơi chảy tràn mặt đất. Các sắc dân Tây Nguyên dùng nước đó cho mọi sinh hoạt.

Nghe nói lợi dụng thời cơ, có tay Ksor Kok nào đó bên Mỹ gọi về xúi giục (*), họ muốn xuống phố làm reo. Nguyễn Thanh Cưỡng cho công an chốt chặt các ngõ vào thị xã, răn đe quần chúng nhân dân chớ nghe theo bọn phản động hải ngoại, cho cán bộ văn hóa thông tin rúc sâu buôn bản giải thích đó là hậu quả của chất độc màu da cam dioxin (*) của đế quốc Mỹ để lại, đảng và nhà nước ta đang tố cáo tội ác ấy với cả thế giới, đưa những công ty sản xuất ra tòa án liên bang Hoa Kỳ, một ngày gần đây chúng ta sẽ thắng kiện, và sẽ buộc chúng phải bồi thường xứng đáng cho nhân dân. Song hành với tuyên truyền, Nguyễn Thanh Cưỡng đề nghị Tạ Thao cho công an len lỏi hốt tỉa một số thành viên cốt cán của phong trào, biệt giam vô thời hạn.

(*) Ksor Kok sinh năm 1945, dân tộc Djarai, Tây Nguyên, Việt Nam. Ông là chủ tịch của Quỹ Người Thượng, một tổ chức bắt đầu ở đại học Chicago, tuyên bố có sứ mệnh bảo vệ cuộc sống, bảo vệ văn hóa các dân tộc người Thượng. Ksor Kok cũng là thành viên của Transnational Radical Party (TRP), tổ chức phi chính phủ điều tra các trường hợp lạm dụng nhân quyền trên thế giới. Ksor Kok tham gia tổ chức FULRO từ hồi mới thành lập. Trước 1975, FULRO chống nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, sau 1975 chống nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ksor Kok theo đuổi chủ trương ly khai Tây Nguyên, thành lập nhà nước Đề Ga, lấy đạo Tin Lành làm quốc giáo.

Dioxin là hợp chất hữu cơ không mùi, không màu, chứa các-bon, hydrô, oxy và chlorin được hình thành như một phụ phẩm của các quá trình hóa học, từ những hiện tượng tự nhiên như hoạt động của núi lửa, cháy rừng đến các quá trình nhân tạo như sản xuất hóa chất, thuốc trừ sâu, thép, sơn, giấy, quá trình thiêu và tỏa khói. Trong 210 hợp chất dioxin khác nhau, chỉ có 17 hợp chất là độc. Dạng dioxin độc hại nhất, đang được nghiên cứu rộng nhất là dioxin 2,3,7,8 – tetra-chlorodibenzeo-p-dioxin, viết tắt là 2,3,7,8 – TCD, được đo bằng phần nghìn tỉ. Dioxin không hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong chất béo. Gắn với chất hữu cơ và chất cặn trong môi trường, chúng hấp thụ vào mô mỡ động vật và người. Ngoài ra, do không bị vi khuẩn làm thối rữa nên chúng tồn tại và tích tụ sinh học trong dây chuyền thực phẩm.

(Hết Chương 53)

Share this post