Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 55

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 55

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 55
– A.35
Phe BiKi và thủ lĩnh.

Nói vậy, đã lọt tai chưa? Tôi hểnh mũi.

Nhà thông thái vong quốc vội tè một ngón tay khẽ dịch gọng kính vàng, đăm đăm nhìn lên.

– Thế phe thứ ba? Ai đó nôn nóng.

– Không bôn được đâu! Chớ chập chuội mà lấp liếm! Có phải bí rồi không nào?

Tôi liền dằn mặt đối phương.

– Ừ, thì thua. Nhưng làm ơn đừng vòng vo nữa!

– Có ngay thôi! Tôi xin hứa.

– Cũng theo nhà giáo ưu tú Lương Hữu Khá, đó là quần thể Bắc Kụt – tiếng lóng nội bộ là BiKi, để phân biệt với Bắc Zài, tiếng lóng nội bộ là BiZi, học đòi cách gọi của hai phe kia, chỉ những người Bắc vào Nam từ 1954 về trước. Phe này gồm những thành viên xuất thân quê quán từ bờ bắc sông Bến Hải trở ra như Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Phú Thọ, Lào Cai, Hà Giang… BiKi hình thành là hệ quả tất nhiên do đặc tính cục bộ của BiTiBi và EnTiBi. Giữa những đồng chí BiKi, không có thứ tình cảm keo sơn của hồn thiêng sông núi, nhưng vì quyền lợi và cái thế sinh tồn phải níu lấy nhau thôi. Điểm nổi bật của BiKi là từng chòm sở, cụm ban, nhóm phòng. Vào chi cục kiểm lâm tỉnh, nghe rặt ri giọng Nghệ An vì thủ trưởng gốc Nam Đàn, Nghệ An. Vào kho bạc tỉnh, nghe rặt ri giọng Quảng Bình vì thủ trưởng gốc Lệ Thủy, Quảng Bình. Vào bưu điện tỉnh, nghe rặt ri giọng Thanh Hóa vì thủ trưởng gốc Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Vào tòa án tỉnh, nghe rặt ri giọng Hà Nam vì chánh án gốc Phủ Lý, Hà Nam… Thực ra, đôi khi cũng có ngoại lệ, lai tạp, pha trộn đôi chút do thế kẹt phải tương nhượng hoặc trao đổi thân nhân họ hàng. Và những thành viên lai này nếu muốn ăn yên ở yên phải sớm hòa nhập bằng cách hòa tan như lấy chồng hoặc vợ người cùng quê với thủ trưởng, hoặc đào trong tộc phả một cao tằng cố tổ có thời cùng quê với thủ trưởng, bày đặt một bữa kỵ ông giỗ bà, thông qua hương khói hiếu đễ, cung nghinh bầu đoàn cô hồn các đẳng đến dự mà cầu an cầu tài.

Hiện nay Hai Đa, phó chủ tịch tỉnh, đặc trách kinh tế tài chính công thương, là trụ cốt, nơi nương tựa đáng tin cậy của phe này.

Hai Đa tên thật là Phí Đu, nghe nói quê hương bản quán tít vùng cao Hoàng Liên Sơn. Phí Đu khó đọc khó nghe, âm tiết Nam Trung Bộ phù trầm, biến thái thành Phí Đủ Phí Đù. Đủ Đù chưa nhiều lại hơi dung tục ngô nghê, những thằng nịnh bợ tâng thành Đa, Phí Đa. Nhưng Phí mà Đa là cái thứ cầm không đậu của, chẳng khác gió vào nhà trống, hóa ra rỗng tuếch, tệ lắm cũng Nhất Đa. Nhất Đa vẫn còn ít, vậy Nhị Đa, Tam Đa, Tứ Đa, Ngũ Đa… Giới tài phiệt trong tỉnh ba hoa nâng cấp lên Bách Đa. Với hành tung nhất hô bá ứng, cách ứng xử và quyền lực thu tóm, quần chúng gọi là Thiên Đa. Chúng tôi, tập hợp nhỏ quan chức địa phương, không dám mạo phạm Gia Long (*), và thượng tôn phong tục, trong giờ hành chánh thường gọi anh Hai Đa cho thân mật, trong chè chén gọi anh Two Đa cho hiện đại. Gọi cách nào, Phí Đu cũng thích.

(*) Từ Quảng Nam trở vào, anh cả cải thành anh hai. Tục truyền vì nhân dân mến mộ Nguyễn Ánh (vua Gia Long) nên dành vị thứ cao nhất cho ông.

Tuy vào Nam đã lâu, ngày nào cũng bia bọt, Hai Đa vẫn mang vóc dáng người thượng du Tây Bắc, bước chân cao, mình dây, mắt sáng, môi mỏng. Lò Thị Ngải phu nhân của Hai Đa, có thân dáng thon thả, da thịt trắng nõn như người Âu, rất thích trưng diện, rất hãnh có tấm chồng đa mưu túc trí và được giới trẻ hâm mộ. Bà ta chơi thân với Phan Thị Mơ, rất thích kiếm cớ gọi tôi tới nhà nói chuyện tầm phào mỗi khi Hai Đa đi vắng, chúa ghét Cù Thị The, phu nhân của Nguyễn Thanh Cưỡng. Hễ có dịp, hai bà không ngại bới móc chuyện ăn bẩn của nhau. Và vợ chồng tôi, dù muốn dù không, đôi khi là cái kho rác thải bất đắc dĩ.

Hai Đa có hai cô con gái tuổi xấp xỉ Tường Vi, nghe nói trước đây học cùng khối cùng trường. Hai cô nhóc này thuộc hàng xinh gái nhưng cực kỳ đỏng đảnh, chua ngoa. Đây cũng là hai cửa nịnh của một số quan chức cỡ trung như Năm Lôi, Phan Tấn, Bùi Phước, Hồ Minh Dũng, Bốn Du, Võ Hùng Anh… Nhiều người nói trước đây Hai Đa có du học Trung Quốc, nhưng bọn BiTiBi sưu tra, chỉ rõ đó là loại bằng cấp hữu nghị vì ông ta không biết một chữ Tàu nào. Cuối năm 1974 về nước rồi tình nguyện vào Nam, ông ta chưa kịp chiến đấu để cống hiến xương máu cho tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì khốn nỗi tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa đã vội tuyên bố đầu hàng vô điều kiện để chấm dứt cuộc nội chiến tương tàn hơn hai mươi năm, khiến binh lính vất vũ khí trốn chạy từng đàn. Và hòa bình liền lẵng lè lập lại ngay!

Hiện nay là nhân vật xếp hàng thứ tư trong tỉnh, đồng hạng với H’Bia, phó chủ tịch nữ, người dân tộc Bơrâu phụ trách văn xã, nhưng Hai Đa ở vị trí yết hầu. Tuy nhỏ con, Hai Đa có tác phong chỉ huy và có trí nhớ tốt. Nhờ đó, Hai Đa tác nghiệp giỏi, truy bức đối phương sát ván và thuộc rất nhiều bản nhạc tiền chiến có trong những băng đĩa video karaoke. Giới tài chính tỉnh rất phục tài chạy ngân sách của Hai Đa, nghe nói cửa nào ngoài trung ương ông ta cũng qua lọt dễ dàng như vào nhà thổ. Hai Đa thường coi các giám đốc bất luận ty sở ban ngành nào, đều là thủ túc dưới trướng. Giám đốc sở kế hoạch đầu tư Thao Xạp và giám đốc sở y tế Y Tơ có lần được Hai Đa gỡ rối, tránh phải ra tòa. Ấy là nhờ hồng phúc cội nguồn, hai đầu sở đó đều là dân tộc thiểu số. Tuy người Bắc kẻ Nam, Hai Đa liên kết chặt chẽ với A Tuk, chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân tỉnh. Hai Đa coi A Tuk là điểm tựa vững chắc, là bệ phóng an toàn. Đáp lại, A Tuk coi Hai Đa là tham mưu trưởng có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu, là cố vấn tin cậy. Nguyễn Thanh Cưỡng rất muốn xé lẻ cặp bài trùng này, nhưng kỳ bầu cử hội đồng nhân dân tỉnh vừa rồi, vẫn bất thành. Nghe nói, hai dân tộc Bahnar, Djarai đứng đầu chống báng Nguyễn Thanh Cưỡng cũng do A Tuk bắc thang. Ông ta rất muốn có một dây mơ rễ má nào đó giữa A Tuk và Ksor Kok, nhưng xem ra họ không cùng sắc tộc. Phạm Tư hơn một lần tìm cách đứng ra hòa giải xung đột này nhưng chưa tới đâu.

Theo tôi, cho đến nay người vận dụng chương trình phủ xanh đồi trọc Tây Nguyên do trung ương phát động hữu hiệu nhất là Hai Đa. Còn theo Triệu Sung, Hai Đa nhuần nhuyễn khai thác nghị quyết trung ương chẳng thua gì Bác Hồ vận dụng chủ nghĩa Marx-Lénine đối với từng giai đoạn của đất nước Việt Nam. Rừng phải có chủ để kịp thời ứng chiến chống phá bọn lâm tặc. Rừng phải có chủ để bảo vệ lá phổi xanh cho tổ quốc và cả thế giới. Đúng! Tiếp nhận thông tư liên bộ, sau ba ngày nghiền ngẫm, uống hết một thùng bia Carberg và hai chai Whisky, Hai Đa đề nghị chỉ phổ biến mật và hạn chế từ phó giám đốc sở trở lên. Rồi chỉ thị Lâm Nghiệp cung cấp tư liệu chỉ rõ vùng nào đất tốt, bazan đã thoái hóa thành mùn, gần suối gần sông gần trục lộ gần nguồn lao động. Rồi chỉ thị Giao Thông Vận Tải khảo sát thực địa, lên kế hoạch bắc cầu, mở đường. Rồi chỉ thị Điện Lực phóng tuyến cắm trụ giăng dây mắc đèn đưa ánh sáng tới nơi hủ lậu tối tăm. Rồi chỉ thị Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn cung cấp vật nuôi, cây trồng thuộc giống cao sản, phân bón các loại và thuốc trừ sâu…

Tiếp đến, một cuộc họp kín dưới dạng bù khú ngay tại trang trại Hai Đa, vừa chè chén vừa khoanh vùng phủ xanh đồi trọc, vừa ca hát vừa phân chia lãnh địa. Rồi chỉ thị cho Địa Chính vẽ bản đồ, lập hồ sơ giao đất giao rừng. Hợp pháp tư hữu hóa xong, từ nay phần ai nấy lo canh tác. Như một phép mầu, những quan chức bấy lâu vỗ ngực tự hào xuất thân vô sản bần cố sau một đêm thức dậy trở thành tư sản địa chủ có đất cát cò bay thẳng cánh chó chạy cong đuôi.

Nhưng tài giỏi đến đâu cũng phải có bột mới gột nên hồ. Tiền đâu? Cầm tấm bìa đỏ [giấy chứng nhận quyền xử dụng đất, mặt ngoài có màu đỏ] trong tay, sướng thì có sướng, các tân địa chủ không khỏi ngỡ ngàng hỏi nhau. Và tất cả đều nín thinh như thóc. Vậy phải mở tiệc, thỉnh sư cầu giáo.

– Đã có ngân hàng nhà nước lo!

Vấn nạn đó liền được Hai Đa giải đáp ngay. Giám đốc ngân hàng tỉnh giật mình. Nhưng không sao! Rõ ràng trung ương nhìn xa trông rộng, thông tư dẫn thượng đã hướng dẫn cụ thể: Ưu tiên giải quyết cho những hộ tư nhân nhận đất đai phủ xanh đồi trọc được vay tiền ngân hàng nhà nước với lãi suất thấp nhất. Theo điển lệ bất thành văn trong thư khố tham ô của nhân loại, nguyên tắc ứng xử hai bên cùng có lợi, bộ khung hàng ngũ lãnh đạo tỉnh liền tự động liên hoàn hỗ trợ bằng cách khai thác kẽ hở chuyên ngành, vận dụng chính sách, moi ruột nhà nước. Để tránh tiếng ăn trên ngồi trốc, để được tiếng vì hạnh phúc ấm no của mọi nhà, áp cận ngày hết hạn giao đất giao rừng, Hai Đa chỉ thị cho đài Phát Thanh Truyền Hình tỉnh thông báo chủ trương của trung ương cấp đất phủ xanh đồi trọc cho toàn dân. Ai nhanh chân, họa hiếm còn gặm được chút xương da ở tít tận vùng cao, vùng xa.

Rút lại, chỉ có đoàn quân chủ lực của Hai Đa kịp thời cơ và kịp thời vụ. Những nông trường cà phê, cao su mở ra, mênh mông, mơn mởn thẳm xanh. Nghe nói bên Mỹ, bên Australia, nông trại rộng bao la, ta nay cũng bát ngát chẳng kém! Nghe nói bên Mỹ, bên Canada, nhà nước hỗ trợ nông dân thông qua trợ giá nông sản, so với ta nay chẳng thấm tháp nhằm nhò! Nghe nói bên Mỹ, bên Anh, nghiệp chủ thăm thú nông trang toàn bằng Landrover, so với ta nay là Mercedes, Toyota, Nissan!

Ba năm, đáo hạn nợ đòi. Đương nhiên rồi! Mải mê thắng lợi, một số nghiệp chủ đỏ mở nông trang bằng nước bọt sực tỉnh, ngác ngơ, hốt hoảng. Nhưng Hai Đa đêm nào cũng đi hát karaoke, xập xình cung bậc, xập xịa chị em. Một bữa, Bốn Du vấn kế, đang lúc ngất ngưởng Hai Đa rất bực.

– Không việc gì mà phải cuống cuồng cả lên! Đồ ngu, đạp gai lấy gai mà lể!

Trong ánh đèn màu, Hai Đa la lối đàn em. Tẩy đã bật, rõ rồi, làm ngay thôi. Và quả đúng như thế, nghiệp chủ chỉ bán một phần nhỏ diện tích canh tác cũng đủ trang trải cả cái lẫn con cho ngân hàng. Êm ru! Từ phi vụ này, đám đàn em phất lên như măng mùa xuân, bái phục Hai Đa ngang á thánh. Riêng tôi, được thêm tư liệu sống cho vào luận chứng phản biện bọn vong quốc già mồm giỏi đặt điều vu khống. Ai bảo Cộng Sản ngu, một lần nữa, xin về cố quốc mà chống mắt lên!

Chưa hết, qua báo cáo, thấy địa phương làm ăn tốt, trung ương liền đầu tư cho tỉnh một nhà máy giấy hiện đại, có tầm cỡ lớn nhất Đông Nam Á. Hoan hô! Toàn thể thành viên hội đồng nhân dân tỉnh có mặt trong khóa họp thường kỳ cuối năm đón nhận thông báo trung ương vô cùng hồ hởi phấn khởi. Chỉ chủ tịch Phạm Tư khí sắc nguội lạnh, mặt mày mai mái, bộ dạng tưng tửng.Vốn người không có máu mê đất cát, ông ta thường nói bọn địa chủ thời nào và bất cứ ở đâu cũng tham lam và độc ác. Lại nữa, chuyện phủ xanh đồi trọc mấy năm trước Phạm Tư chỉ có tiếng mà không có miếng. Nay lại tiếp nối làm bung xung nữa a?

Nhưng từ trung ương giáng xuống. Làm sao?

Chủ tịch là quan đầu tỉnh, là dân chi phụ mẫu – người xưa đã từng dạy, ngày nay gọi khác đi nhưng ý nghĩa vẫn thế – nhiệm trọng đạo viễn, không ăn cũng phải gánh. Phạm Tư liền triệu thỉnh Hai Đa lên ủy ban hiến kế, với thâm ý báo oán, kẻ nào gieo gió thì phải gặt bão, cho hắn chừa thói cậy thế cậy thần ở trung ương. Nhưng thiệt vàng sợ chi lửa, Hai Đa chẳng nề hà, hoặc giả tảng như thế. Được chủ tịch ủy thác, mở đầu ông ta cho thành lập bộ khung lãnh đạo nhà máy. Rất nhiều tay muốn chớp thời cơ leo cao. Hai Đa có hảo ý đề bạt tôi vào ghế giám đốc. Nhưng Mơ quyết liệt phản đối.

– Đường đường một tổng giám đốc, đang công tác tốt, không sai phạm, không thâm thủng, tự dưng rơi xuống giám đốc? Cô ta so kè từng chữ.

– Nhưng là giám đốc xí nghiệp trung ương, đuôi trâu to hơn đầu chuột! Tôi cãi lại.

Cô ta làm thinh nhưng không chịu lép, âm thầm vận động với Lò Thị Ngải và đạt nguyện vọng. Sợ vợ thuộc loại nhất nhì thế giới, Hai Đa đổi ý nhưng cứ mắng tôi ngu. Tiếp đến ban giám đốc nhà máy giấy mua lại cơ sở của bến xe liên tỉnh xây bất hợp lý vì thọc quá sâu vào nội thị. Đến đây, nghe đâu nhà máy giấy Bãi Bằng ngoài Bắc phản đối quyết liệt, kiến nghị lên trung ương. Họ lập luận, chỉ một nhà máy mà sản phẩm ối thừa, thêm một nữa, chỉ có cạnh tranh mà giết nhau! Sau đó, cả hai đều phá sản, công nhân đến cám cũng không có mà ăn, nhà nước lấy gì mà thu ngân sách!

Trung ương nghe phải, nhưng lỡ phóng tay, tiền của đã bỏ ra. Có gì đâu, sai thì sửa thôi! Bảy trăm ngàn sinh mạng giết oan trong cải cách ruộng đất những năm 55–56, bác Hồ chỉ tốn ba giọt nước mắt mà sạch sành sanh. Vậy chuyện xóa sổ một nhà máy mới tượng hình chỉ là phủi bụi.

Vèo một cái, xong ngay, Nhà Máy Giấy đổi thành Nhà Máy Bột Giấy. Đơn giản, gọn nhẹ, trung ương chỉ thêm có một từ. Nhưng ở địa phương lừ đừ cả một đội ngũ mà trước đó mấy hôm khí thế bốc ngút trời mây.

Nghe nói đọc quyết định thay đổi của trung ương, Phạm Tư đã gầm như voi ré nhưng Hai Đa cười đến té ngửa lăn nghiêng.

– Tốt! Rất tốt!

Đến đâu Hai Đa cũng gật gù tán thưởng. Chỉ một thời gian ngắn, bạt ngàn keo lá tràm mọc lên (*). Báo cáo gởi ra, kèm theo cả phim ảnh video clip. Đầu tư đúng hướng, thật đáng đồng tiền bát gạo! Phấn khởi, trung ương hối hả rót tiền vào thêm nữa.

(*) Keo lá tràm là loại cây thuộc họ đậu, nốt sần ở rễ chứa vi khuẩn kí sinh có tác dụng tổng hợp đạm tự do. Keo lá tràm thường được dùng nhiều trong cải tạo đất sản xuất lâm nghiệp. Với đặc điểm sinh trưởng nhanh, nó là loài cây được trồng để phủ xanh đồi trọc và làm bột giấy.

Chịu ảnh hưởng Ấn Độ Dương, đất trời Tây Nguyên chỉ có hai mùa rõ nét như kẻ chỉ, ẩm thì nóng và khô thì lạnh. Những cơn mưa thưa thớt cuối mùa vừa dứt, rừng bốc cháy. Tin tức hỏa tốc cấp báo, Phạm Tư bức óc, nhưng Hai Đa vẫn bình thản du dương qua các nhà hàng karaoke với các em mắt xanh mỏ đỏ.

– Báo cáo gấp!

Đến hồi tỉnh giấc và cả tỉnh rượu, Hai Đa gọi điện cho Năm Lôi, giám đốc nhà máy chế biến bột giấy.

– Nội dung thế nào, anh Hai?

Giám đốc ngu ngơ hỏi.

– Báo cáo nông trường keo tràm bị lửa cháy rừng lan sang! Hai Đa gà nước. – Đề nghị trung ương cấp kinh phí mua sắm phương tiện hiện đại chữa cháy phòng cháy, đề nghị trung ương cấp kinh phí trồng lại keo và trồng thêm nhiều hơn nữa!

Năm Lôi sáng mắt, hét hò nhân viên suốt ba ngày trước khi xách cặp lên máy bay cấp tập ra trung ương. Ai cũng biết giặc phá không bằng giặc cháy, cứu hỏa phải tốc hành, trung ương chuẩn y ngay.

Nhưng càng rót tiền vào bao nhiêu rừng càng cháy bấy nhiêu, càng mua sắm thiết bị bao nhiêu rừng càng cháy bấy nhiêu, càng trồng thêm keo tràm bao nhiêu rừng càng cháy bấy nhiêu!

Bộ cử cán bộ vào điều tra. Hay tin, Hai Đa sắp xếp ngay một bộ phận đón đưa, tiếp đãi phủ đầu – cho ở khách sạn cao cấp, cho ăn nhà hàng đặc sản, cho chơi đủ món, cho cả tiền túi hộ thân, và một bộ phận phao tin thất thiệt bằng cách rỉ tai: rừng sâu nước độc, muỗi mòng như trấu, nhan nhản Fulro! Trước khi lai kinh, đoàn thanh tra đồng thanh kết luận: Tại trung ương không rót đủ các khoản, chi không đồng bộ nên không ứng cứu kịp thời cây nguyên liệu.

– Tại trung ương? Phó thủ tướng điện hỏi bí thư Nguyễn Thanh Cưỡng.

– Vâng, tại trung ương! Ông ta có câu trả lời ngay.

– Vậy chi thêm?

– Vâng, phải chi thêm!

Phóng lao phải theo lao. Nhưng ngân sách có hạn, trung ương tiến thoái lưỡng nan, lâm thế lưỡng đầu thọ địch. Trận đồ bát quái mù mịt!

Thế mà cũng có kẻ, dù tháng ngày phất phơ gió bụi, thấy được đường đi lối về của quan tướng âm binh.

Một bữa Đỗ Minh đón xe tôi dọc đường, vạch rõ gian kế của Hai Đa. Tôi bảo làm gì có chuyện đó và không muốn nghe.

– Đừng quên tớ là kỹ sư lâm sinh, một thời gian dài cố thủ ở lâm trường! Anh ta hét.

– Vậy sao không tình nguyện đi cứu rừng?

Chợt nhớ có lần đề xuất bị anh ta từ chối, tôi vặc lại rồi dông ngay. Nhưng không dễ gì thoát Đỗ Minh! Ức quá, anh ta cứ quanh quẩn tổng công ty, vừa bán vé số vừa chửi bới tôi suốt cả tuần, rồi tìm đến hội Người Cao Tuổi thị xã, rỉ tai một số cán bộ hưu trí.

Ban đầu các cụ ngoảnh mặt làm ngơ.

Lý do: không thấy báo Nhân Dân đăng tải, không thấy đài truyền hình trung ương VTV1 đưa tin tệ nạn đó. Đỗ Minh vẫn kiên trì. Không biết ai cho anh mấy tấm ảnh trích từ cuộn băng video clip báo cáo ra trung ương, các cụ nhấp nhem nhìn vào, ngờ ngợ. Rồi ngay sau phút sững sờ, các cụ lấy lại tỉnh táo. Phát xuất từ ý thức công bằng xã hội, cũng có thể vì ghen ăn tức ở, cũng có thể dính dáng tư thù do quá trình công tác, các cụ tay yếu chân run ấy hình thành một nhóm bỏ công lùng sục sưu tra. Sự thật rành rành! Nhưng ngại nối giáo cho kẻ địch lợi dụng phao tin đồn nhảm phương hại đường lối chính sách của đảng và nhà nước, các cụ không dám lên tiếng khiếu tố tại địa phương, cũng không dám cử đại diện ra trung ương. Rút lại, với lòng cục bộ cô trung pha lẫn chút đau nhức do tuổi tác bệnh tật, các cụ ngậm đắng nuốt cay, câm nín chịu đựng.

Nhưng chân lý không bao giờ chịu khuất lấp. Chân lý có sức mạnh tự tại và ánh sáng siêu nhiên của nó. Ai không tin hãy đọc lại chuyện ngụ ngôn anh chàng thợ cạo biết vua Mi Đa có cặp tai lừa, khắc rõ. Do cố tình đồng lõa vùi dập một sự thật to lớn, các cụ mang bệnh trầm uất, ăn không tiêu, ngủ không yên, bụng cứ trướng phình, uống đủ đông tây dược mà bệnh vẫn không thuyên giảm. Bác sĩ  Hoàng Văn Luân giải thích đây là tâm bệnh và khuyên các cụ tự cứu lấy mình bằng cách phải giải phóng những gì đang ứ uất tận tâm can tì phế thận. Nhàn đàm hóa ra thang dược không mất tiền nhưng hữu hiệu hơn cả. Nhờ vậy mà tôi biết mẻ bột này đã lót túi Nguyễn Thanh Cưỡng, Phạm Tư, Hai Đa và bầu đoàn Năm Lôi chừng một trăm tỉ. Núi đồi vẫn lai hoàn trọc! Không sao, nắng lên mưa xuống đất nào rồi cỏ cũng mọc, quan trọng là phi vụ đã hạ cánh an toàn. Ngoài chi phí điếu đóm đoàn thanh tra phải vất vả vào tận địa phương, không biết bọn Năm Lôi có lại quả chút ít cho các quan chức bộ Nông Nghiệp ngồi ở trung ương không? Đây là hạn chế duy nhất của Đỗ Minh khi các cụ thắc mắc. Tôi chợt nhớ trước đây Hai Đa mắng tôi ngu, ngẫm lại ngu cũng phải! Và bây giờ, chính Mơ cũng thừa nhận như thế.

(Hết Chương 55)

Share this post