Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 60

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 60

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 60
– Z.24
Cuộc sống trong hầm đất. Tìm hiểu quan hệ giữa chủ nhà với Bửu Dương. Vô tình tiếp cận dật sử.

Tôi được đánh thức lúc đàn gà xuống chuồng. Đi tiểu đi tiêu và rửa ráy trong bóng tối lờ mờ, sương rơi lộp bộp trên lá trong vườn. Có lẽ dì Ngâu đã về trong đêm. Bà Nậy bày bữa ngay cái chõng tre mà tôi vừa rời khỏi, giục tôi ăn. Cơm gạo lức ăn với muối sống và ớt tươi giã nát, cay xé họng. Cuối bữa, ông Ne vào ngồi ở đầu chõng, trên tay cái ấm đất đen sì.

– Nhà không có mùng màn chi cả, anh ngủ được không? Ông hỏi.

– Đi đường mệt, cháu đánh một giấc chẳng biết trời trăng! Tôi nói.

– Ở thôn quê muỗi to và đói hơn thành phố!

Ông cười, lộ hàm răng thưa có cái đen sì sứt mẻ.

 – Không sao, cháu chịu được! Tôi nói, nhớ lại lời khuyên đầu hôm của chủ nhà bên bếp lửa.

– Chi thì chi, mình xuống hầm cho yên cái đã!

Ông đưa bình nước cho tôi, ra hiệu mang theo túi xách. Tôi bỡ ngỡ nhưng không chần chừ. Bà Nậy dùng nón cời che đèn đi trước, tiếp đến ông Ne, tôi theo sau. Thoang thoáng mùi lá khô, mùi phân ải. Gió sớm se se, lan man, len lén cái lạnh muôn thuở của đồng quê lúc bình minh. Chỉ một đoạn ngắn, cả ba dừng lại mé bờ tre sát chuồng trâu không trâu. Ông Ne gập mình bấu vào đất, bà Nậy tắt đèn ngay, tôi ôm túi xách ngồi xuống. Khi lớp bủn được gạt qua bên, ông Ne nhấc nhẹ mặt nắp, lờ mờ hiện ra một miệng hầm nhỏ hình chữ nhật.

– Anh đã có khi mô ở lâu trong đất? Bà Nậy hỏi.

– Dạ chưa! Tôi thưa.

– Bước đầu hơi khó chịu. Bà nói thêm.

Tôi hiểu ý, ngồi im. Cho cái nắp qua bên, ông Ne chống tay vào mép biên, thòng hai chân xuống miệng hầm. Loáng một cái, tôi chỉ còn thấy cái chỏm tóc ngắn lấp ló giữa ô bóng tối đậm đặc.

– Đưa túi xách cho tui!

Một bàn tay ngoi lên, giọng ông khô khao chắc nịch. Sau khi giao túi, tôi nhìn theo không thấy gì. Bà Nậy vỗ vai tôi, ra hiệu. Tôi hiểu ý, làm đúng như cách ông Ne, cho chân xuống trước, dùng tay chống cử bổng thân thể, không để bộ phận nào chạm vào mép hầm. Đã chuẩn bị tinh thần, tôi vẫn không tránh khỏi cảm giác ngờm ngợp. Vừa xuống tới, tôi thấy có một luồng sáng nhỏ chẻ đôi và bầu không khí bao quanh âm ấm. Ông Ne nắm tay tôi đưa về cuối hầm.

– Nơi ni đã nuôi giấu nhiều cán bộ mấy năm qua!

Ông đẩy tôi ngồi xuống chiếc chõng tre dài thô kệch thấp chân, quét ánh đèn pin khắp gian hầm.

– Đây là chỗ đại tiểu tiện, đây là giàn treo thức ăn đồ uống, đây là mạch tăng giảm thông hơi… Anh có thấy ngột không? Ông hỏi.

– Dạ có. Tôi nói và căng mắt dõi theo.

Ông bước tới, dùng tay mày mò tăng độ thông thoáng. Tôi muốn áp cận học cách thức điều chỉnh lỡ khi một mình, nhưng không kịp.

– Lâu rồi sẽ quen, thấy dễ chịu dần! Ông nói.

Khi trở lại miệng hầm, ông trao đèn cho tôi.

– Đã xuống đây, ăn không ngồi rồi, nhàn không ra nhàn, nhã không ra nhã. Mới đầu chán lắm! Nhất cử nhất động đều do bên trên, không được tự ý hành động. Sơ hở, chỉ có chết!

Ông ngoái lui, căn dặn rồi dùng hai tay chống vào mép miệng hầm, rút người lên. Tôi chỉ thoáng thấy cái đáy nắp và nghe vài ba tiếng động lục cục, sau đó, tối tăm đến rợn người.

Để chấn chỉnh tinh thần, tôi vội bật đèn, lần tới chiếc chõng tre, ngả mình gối đầu lên túi xách. Ánh đèn hướng dẫn mắt tôi quan sát khắp nơi. Gian hầm cấu trúc toàn bằng tre, theo kiểu chữ A. Bao lần nghe nói, bây giờ tôi mới thấy tận mắt. Ba cây to cặp lại theo lối chéo trả làm đòn dông, được chống đỡ bằng nhiều trụ. Hai mái tạo thành hình chóp cũng là tường bao che, đối xứng và đối trọng, đều tựa lên đòn dông, có vài hốc nhỏ được gia cố đặc biệt như tủ âm tường. Nếu ý tứ đứng ngay chính giữa, có thể thẳng người được. Sàn hầm rộng, ở cửa miệng có bệ cấp lên xuống giảm bớt độ sâu. Vẫn chưa nắm hết ngóc ngách nhưng ngại xài phí pin, tôi tắt đèn, cuốn người dậy, lần mò rờ rẫm, thử xem độ bền và sức chịu đựng của từng cấu kiện. Loay hoay một lúc, người bắt đầu vã mồ hôi, tôi cởi hết áo xống cho vào túi xách. Nhân thể, tôi vớ lấy chiếc ấm, ngửa cổ chậm rãi uống từng hớp. Ghi nhận đầu tiên, gần ba tháng qua, nay tôi mới thấy yên ổn. Và tôi đê mê với cảm giác ấy. Rồi tôi nghĩ tới thời gian trốn tránh không có hạn định. Phải sống thế nào đây? Tôi tự hỏi, nằm trở lại, cố lắng nghe những gì vang vọng trong đất. Im khe. Điếc đặc. Thít chặt. Kín mít. Nghe khó thở, tôi biết vì sao và tìm đến chỗ thông hơi. Ở đây thoáng hơn chút đỉnh, người tôi trở nên dễ chịu, nhưng phải ngồi chò hỏ ngay trên bùn nhão. Ngẫm nghĩ, tôi dịch chõng lui về sau, nằm xuống. Tự dưng tôi thèm một cuốn sách, bất luận sách gì. Nhưng đèn đâu? Trong từng hơi thở đã nghe thiếu, lấy đâu đủ oxy để thắp, nếu có, chắc cũng không chong được! Tôi nghĩ đến bất hạnh của người mù và thấy mình thừa mắt.

Có tiếng động phía cửa hầm. Tôi bồn chồn lo lắng chẳng biết làm gì hơn ngoài việc trơ mắt nhìn tới. Một luồng sáng yếu ớt thốc xuống. Rồi hai chân người trần trụi đu đưa. Tôi nhẹ hẫng, thở phào, bật đèn. Ông Ne lom khom đi lại phía tôi, trên tay một cái mẹt tre.

Thấy chõng dịch chuyển khỏi vị trí cũ, ông gật gật đầu khen tôi sáng dạ, đặt cái mẹt xuống mặt giát, ra hiệu ngắt đèn. Luồng ánh sáng phụt tắt, tôi lờ mờ thấy ông đẩy cái mẹt về phía tôi, ghé mông vào đầu kia.

– Ăn đi kẻo nguội! Ông giục, tôi vẫn ngồi im.

– Anh với Bửu Dương là chi của nhau?

Ông hỏi, đẩy cái mẹt gần tôi hơn nữa.

– Khó nói lắm! Tôi than.

– Anh em bên nội, bên ngoại hay bạn bè?

Ông tăn măn tỉ mỉ.

– Không bên nào hết, ban đầu xa lạ, về sau là bạn, nếu khôn khéo ăn ở có thể là anh em, tiếp nữa là đối thủ. Lung tung lang tang thế đó nhưng cả hai chưa bao giờ muốn giết nhau!

Tôi nói sau phút đắn đo, ý tứ loằng ngoằng không biết ông Ne có nắm bắt được không.

– Quan hệ lằng nhằng kiểu đó, nên chi mấy lần lên phủ tui không gặp mặt cũng phải thôi. Ông nói.

– Rứa chú với anh ấy? Tôi liền khai thác trở lại.

– Tui hả? Tui với Bửu Dương nỏ bà con chi nhưng ân sâu nghĩa nặng. Chuyện vừa dài vừa xưa, nói ra biết có ai tin, cũng không chắc đúng trăm phần như thuở ông cha hai bên đã sống, không khéo lại mang tội gọt đẽo thêm thắt! Ông nói.

– Vậy cũng lùng bùng như bọn cháu? Tôi đoán.

– Phải mà không phải! Ông cười phì.

Trong bóng tối, tôi thấy người ông rùn xuống, bè bè, nhòe nhoẹt. Có tiếng động khẽ của thứ vải dày cọ xát. Rồi một ánh lửa bật lên trên tay ông. Bập phà mấy cái, ánh lửa phụt tắt, chỉ còn cái đóm đỏ bé tí vật vờ. Mùi thuốc lá khét lẹt.

– Ở hầm không nên hút… Ông nói. – Nhưng chuyện vãn mà thiếu điếu thuốc ngắt hơi lạt miệng lạt mồm!

Ông cáo lỗi phá lệ nhưng nhớ thắc mắc của tôi.

 – Vào triều Hàm Nghi Hàm Ngại chi đó, anh biết ông vua nớ chớ?

Ông dừng phắt, hỏi tôi, e hèm thông giọng.

– Dạ biết! Tôi nói.

– Cả hai cố nội tụi tui đều làm quan, bên võ bên văn, ít khi đi lại nhưng quý trọng nhau. Năm Ất Dậu [1885], ông tướng Thuyết giục vua bỏ ngai vàng chạy ra Quảng Trị. Nhân lúc biến loạn, không biết vì răng cố tui là ngài Phan Công Hắc chẳng theo phò vua lại cùng em là ngài Phan Công Vá thừa cơ lén cắp mấy cái vò đựng vỏ sọ các vua Ngụy Tây Sơn đang bị cấm cố trong nhà ngục ở Tây Lộc, vượt sông băng đồng, mang về quê. Lạ! Động trời như rứa mà cả làng hưởng ứng, tìm cách mật táng, lập đền hương khói. Từ đó, làng có lệ không được ỉa trong đất thờ, sợ ô uế vua…

Thoạt nghe, tôi nghi họ muốn bón phân trực tiếp cho ruộng đồng, nhưng không dám cãi.

– Tới hồi Đồng Khánh lên ngôi, phát hiện ngục thất bị cướp, chỉ dụ truy cứu can phạm. Hai cố tui bỏ trốn, dòng tộc nội ngoại kinh hồn bạt vía,họ Phan Công sợ vạ đổi thành Phan Văn. Đúng ra hai cố tui đều bị tầm nã, nhưng nhờ ngài tằng tổ của Bửu Dương lúc đó là tả tham tri hình bộ biến báo cho. Theo báo cáo điều tra của ngài tham tri, phấn dũng tướng quân Phan Công Hắc tòng vong theo vua Hàm Nghi, còn Phan Công Vá chết trong đám loạn quân đêm hăm ba tháng năm dưới mưa đạn của quân Pháp. Nhờ đó, cả hai nghi can coi như ngoại phạm. Sau khi vua Đồng Khánh mất, sợ uy linh chúa Ngụy Tây Sơn, không ai nhắc chuyện vò sọ và vụ án nữa. Nhưng với gia tộc bọn tui, đời đời chẳng dám vong ân. Hàng năm đến kỳ húy kị ngài tham tri, bất chấp nắng mưa, nội tui dành vài ba ngày, đưa người nhà theo lên tận phủ đệ lo việc cúng bái. Mặc cho bên quê bên dinh, bên bần bên phú, bên tiện bên quí, mặc cho thời cuộc đổi thay bên Cộng Sản bên Quốc Gia, bên theo Nga bên theo Mỹ, nề nếp ấy được truyền lưu đến đời cha tui và cả anh em tui…

Đóm lửa thuốc lá từ thấp vụt lên cao rồi loé sáng soi rõ một phần khuôn mặt đen sạm khắc khổ của ông Ne. Thật giả khó xác định, nhưng chuyện khá ly kỳ, hấp dẫn. Thấm mỏi, tôi ngồi vào chõng, tiếp tục lắng nghe. Nhưng ông Phan Ne không kể nữa.

– Rứa chú có biết cố nhà ta mang được mấy cái vò sọ theo không? Nhân lúc ông bặp thuốc, tôi khơi tiếp.

– Không rõ! Ông nói. – Sinh thời, chú tui đoán chỉ có một, cha tui quyết là hai!

– Theo cháu, là ba!  Nối lời ông Phan Ne, tôi bổ sung. – Tây Sơn có đến ba vua, Thái Đức Nguyễn Nhạc, Quang Trung Nguyễn Huệ và Cảnh Thịnh Quang Toản.

– Con Mơ nhà tui học hành chưa tới mô, nhưng mỗi lần nghe cũng cãi bừa như rứa!

Ông Ne lại rít thuốc.

– Cha tui nói hai là vì cách cầu ngói Thanh Toàn chừng vài trăm thước về phía đông có ngôi mộ đôi giả danh là mộ Lang Lại Đại Vương (*). Trả ơn cho rái cá, vua Gia Long ban tước Lang Lại Đại Vương là chỉ phong chung chung do một sự tích xa tít trong Nam, cớ chi lại sắc lập ngoài ni mà có tới hai ngôi?

(*) Lang lại: loài rái cá. Chuyện kể thời lưu lạc trong Nam, thường bị quân Tây Sơn truy kích, một hôm Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long về sau) dẫn tàn quân chạy trốn, qua một con sông gặp rất nhiều cá do rái cá bắt để sẵn trên bờ như chờ để tiến dâng. Vì sự tích đó, khi lên ngôi, nhà vua nhớ ơn rái cá nên phong Lang Lại Đại Vương.

Ông ngừng nói, đóm lửa thuốc cũng tắt.

– Thuở đó đi lại khó khăn, chú có biết hai cố nhà ta trốn nơi mô không? Tôi khơi gợi.

– Lúc sắp qua đời, cha tui mới tiết lộ hai ngài lánh về làng Mỹ Lợi, thay đổi họ tên, lưu lại đó, lấy vợ sinh con. Về sau, cháu chắt chi thứ lên ở Phú Cam và theo Công Giáo! Ông Ne nói.

 – Bây giờ ngôi miếu đôi đó còn không? Tôi hỏi.

 – Thời Ngô Đình Diệm, xã cho san bằng để làm trường tiểu học! Ông Ne nói.

Phía miệng hầm sáng hẳn, có lẽ bên trên ngày đã bắt đầu. Ông Ne vội vã đứng dậy.

– Nguội cả rồi! Một lần nữa, ông giục tôi ăn. – Cơm gạo lức mà nguội thì cứng như đá!

– Dạ! Tôi nói, kéo cái mẹt về phía mình.

Ông Ne đứng dậy níu tay vào đòn dông, lần bước.

– Chú ơi! Chợt nhớ, tôi vội vói túi xách. – Mấy hôm nay lo lắng, cháu quên!

Tôi nói, chuyển bao đồ hộp qua tay ông.

– Anh Bửu Dương gởi biếu chú thím! Tôi bịa đặt.

– Thiệt quí hóa, đúng là của một đồng công một lượng! Ông hồ hởi đón lấy, quay lưng.

Gian hầm tối trở lại. Có lẽ ông Ne vừa đậy nắp.

Về lại chõng tre, tôi mò mẫm ăn trong bóng tối. Bữa cơm đã được đổi món, thay vì muối ớt, một dĩa rau muống luộc và một tô nước ruốc. Tôi chỉ biết có thế, vì sau đó, đầu óc cuốn theo mớ hoang sử ông Phan Ne vừa kể lại. Hồi ở bậc trung học, tôi có nghe một thầy giáo dạy sử đề cập chuyện trả thù của vua Gia Long sau khi diệt Tây Sơn, thống nhất đất nước và lên ngôi hoàng đế.

Nhưng thầy tôi chỉ dừng lại ở ngục thất cấm cố, còn ba chiếc vò trôi nổi ra sao thì ông mù tịt.

– Trong số các em mai sau có ai theo chuyên ngành sử, chớ quên nghi án này! Ông nói.

Có lẽ nghĩ mình tuổi già sức yếu, ngày ấy thầy tôi trăn trối, nhưng thuở đó chúng tôi không quan tâm. Bây giờ, bỗng dưng tôi không tìm mà gặp. Ăn không ngồi rồi, vô tình thâm nhập một nghi án lịch sử, dẫu chưa biết để làm gì, tôi muốn nắm bắt càng nhiều càng tốt.

 – Tới khi đất nước thanh bình, nếu có nhà nghiên cứu tìm đến sưu tra, liệu chú có bằng chứng mà giúp?

Tôi hỏi khi ông Ne mang nước xuống và lấy mẹt.

– Có ngay thôi, nếu trời cho tui còn sống, không phải chỉ một ngôi mộ đôi! Ông quả quyết. Tôi vội chiếu đèn, xích lui dành chỗ cho ông ngồi vào chõng.

 – Hai mươi lăm năm trước, hồi đó tui chưa có vợ, đang tham gia du kích xã…

Ông Ne nối tiếp câu chuyện bỏ dở.

– Ủy ban kháng chiến đóng ở miếu Văn Thánh nên bọn tui thường ăn ngủ ở đó. Một bữa Tây càn qua làng, nhân, lùng sục trụ sở ủy ban, một thằng Còm-măng-đô [binh chủng biệt động thuộc quân đội Pháp] tìm thấy cờ đỏ sao vàng giấu trong ruột tượng. Thánh thần mà cũng theo Vẹm! Hắn rủa, rồi phang một băng. Tượng đổ, tan xác. Xế chiều, Tây rút đi, bọn du kích tụi tui mò về. Đương lúc dọn dẹp, phát hiện cốt sống tượng làm bằng một xâu tiền cổ. Đồng chí chủ tịch trước khi theo Việt Minh là thầy giáo trường Thuận Hóa, nhặt lên ngắm nghía rồi cho hay đây là tiền Quang Trung và khẳng định tượng thờ là tượng Nguyễn Huệ chớ không phải Khổng Tử như bấy lâu dân làng thường nghĩ. Thú thật, tụi tui dốt nát, cả trung đội du kích không ai biết chữ, nhưng gặp chuyện cắc cớ thì khó bỏ qua, yêu cầu giải thích. Ông nói xưa nay chưa từng nghe thấy ai dùng tiền làm cốt, lại nữa, nếu không phải Nguyễn Huệ cớ chi người tạc tượng gởi gắm tiền Quang Trung vào đó. Một chứng cớ khác, sau khi tận diệt kẻ thù, nhà Nguyễn hạ lệnh xóa sạch mọi dấu tích Tây Sơn, nếu các cụ tổ ta ngày xưa không có lòng lưu luyến anh hùng Nguyễn Huệ cớ chi dám âm thầm vi pháp. Nghe xong, dẫu biết do giặc phá nhưng du kích tụi tui sợ đến tái mặt, liền thu gom xâu tiền và xác tượng đem chôn, rồi xây một cái tháp vôi nhỏ bên trên (*).

(*) Chuyện “Ba Ông Vò”: Thế kỷ 19, ở Huế rất nhiều người kể về “Các Ông Vò” bắt đầu từ một “lõi lịch sử” được sử sách triều Nguyễn ghi lại:

Mùa đông (1802), xa giá của vua trở lại kinh đô, cáo ở tôn miếu và dâng hiến các tù binh Tây Sơn (…). Mộ Nhạc, Huệ bị đào phá, thi thể đổ nát, nhốt sọ đầu vào ngục thất”  (Đại Nam chính biên liệt truyện, q.30, t.55b). Hoặc: “Đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ của vợ chồng Huệ thì đem giam ở nhà Đồ Ngoại, đến năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất, cấm cố mãi mãi” (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, tập II – Sử học, Hà Nội, tr. 63).

Như vậy, 20 năm từ 1802–1821, đầu lâu các lãnh tụ Tây Sơn bị giam ở nhà Đồ Ngoại tức Võ Khố sau này, thuộc khuôn viên trường Đại Học Nông Nghiệp hiện nay. Từ năm 1822–1885 thì giam ở Khám Đường chung với những người mắc tội đại hình hoặc tử tội trước khi hành quyết. Khám Đường nằm phía tây bắc kinh thành ở giữa An Hòa và cửa Chánh Tây, chiếm diện tích chừng 100mx 60m.

Lính canh ngục kể rằng: “Trong Khám Đường có ba cái vò đậy kín, một nhốt sọ Nguyễn Nhạc, một nhốt sọ Quang Trung và cái thứ ba có thể là của Quang Toản. Cả ba vò đều bị xiềng và giam riêng trong những ngăn cách biệt ở nhà ngục, ngoài cửa niêm phong rồi cắt lính canh phòng cẩn mật, hàng tháng có một phái đoàn đặc biệt của triều đình đến kiểm tra. Ba chiếc vò được tù nhân tôn xưng làm “Ông Vò”, còn những lính canh ngục gọi là “Chúa Ngụy”. Năm 1885, sau vụ binh biến ở kinh thành Huế, “Ba Ông Vò” biến mất (…).

Sự mất tích của “Ba Ông Vò” trong những ngày biến động đã làm hẫng đi một sinh hoạt tinh thần, tình cảm và tín ngưỡng vốn có từ lâu của một bộ phận người dân xứ Huế (…) nên họ truyền rằng “Một trong ba cái sọ ấy đã hiện ra trong cung điện nơi vua ở, khi Đồng Khánh vừa nhận ra, chiếc sọ biến thành con mèo rừng. Đồng Khánh đưa súng lên (…) lập tức con mèo hóa thành con gà vàng, nhảy lên trên chiếc tủ, rồi biến mất. Sau đó, Đồng Khánh ngã bệnh, rồi chết giữa lúc tuổi mới 25 và mới làm vua 3 năm” (Nguyễn Đình Hòe, Notes sur les cendes des Tây Sơn dans la Prison du Khám Đường, BAVH.1914, tr.145 – 146).

Từ lâu người dân Huế đã chỉ cho tôi (tức tiến sĩ Đỗ Bang) rằng – sau vụ binh biến kinh thành Huế 1885, có một nhân vật quan trọng trong triều đã trộm chiếc vò mang về hướng đông-nam kinh thành. Chúng tôi ngờ người mang “Ông Vò” đã vào Bình Định, quê hương các lãnh tụ Tây Sơn, nhưng sau nhiều lần sưu khảo vẫn không thấy kết quả. Có người cho nhân vật đó ở làng Thanh Thủy Chánh (…), từng coi sóc ở Khám Đường. Từ 1997, đã nhiều lần tôi đi khảo sát ở Thanh Thủy Chánh và một số làng phụ cận thành phố Huế, nhưng chưa thể kết luận được. Chuyến chuyên khảo gần đây, vào tháng 3-1988, cho phép tôi thông báo một tín hiệu đáng lưu ý: Lúc còn sống, ông Trần Công Toản (1880–1950) có thời làm lãnh binh, giữ vị trí thứ chỉ trong làng Thanh Thủy Chánh, từng kể: Sau vụ binh biến (…) hai ông Phan Công Hắc và Phan Công Vá đã cẩn thận “giải phóng” cái “sọ đầu” trong chiếc vò, đem để vào một thạp đồng mang về chôn ở làng Thanh Thủy, nơi chôn gần Miếu Đôi. Hai ông Phan Công Hắc và Phan Công Vá vì mang tội đưa sọ đầu Quang Trung về chôn, bị phác giác, vua Đồng Khánh đã ra lệnh xử tử hình. Con cháu họ Phan từ đó không được lót chữ Công nữa nên họ phải đổi thành Văn… Trong buổi tọa đàm với bô lão trong làng ở nhà thờ tộc Phan ngày 25-3-1988, chúng tôi đã xác minh lại truyền thuyết đó và được xem các bản tộc phả, gia phả có trong nhà thờ họ Phan. Có bản chép năm Thành Thái thứ 7 (1900), bản Duy Tân thứ 3 (1909), bản có phiên âm quốc ngữ, sao chép sau này (1952). Ở chi 2, phái II, của bản gia phả, thuộc chi phái của cụ Phan Văn Tế (70 tuổi) hiện nay là đời thứ 13. Bản gia phả ghi như sau: Đời thứ 8: Phan Tất Mâng có vợ là Lê Thị Lâu, sinh hạ: Phan Công Hòa, Phan Công Hiên, Phan Công Hắc, Phan Công Hiền, Phan Công Hảo, Phan thị Dư, Phan Thị Môn… Đời thứ 9: Phan Công Hắc cải là Phan Công Quý – Kinh kỳ Thủy sư Vệ úy Cáo thọ Phấn Dũng tướng quân. Kỵ ngày 9 tháng 6 – Tam phẩm thục nhơn.

Như vậy Phan Công Hắc đứng vào hàng tam phẩm ở triều đình là tướng chỉ huy đội quân Phấn Dũng ở kinh đô. Chúng tôi không tìm thấy ông Phan Công Vá trong các bản gia phả, nhưng các cụ cho biết đó là tục danh của ông Phan Công Hiền. Trong gia phả ghi ông Hiền làm quan tam phẩm, kỵ ngày 19 tháng 3.(…)

Như vậy, chuyện kể ông Phan Công Hắc mang sọ đầu vua Quang Trung về chôn ở làng Thanh Thủy do một số quan chức trong làng đương thời truyền lại và việc ghi chép trong gia phả họ Phan khoảng 20 năm sau vụ binh biến kinh thành có điểm khớp nhau. Chuyện kể về ông Phan Công Hắc ở làng Thanh Thủy Chánh có liên quan đến chuyện kể về cái chết của vua Đồng Khánh“. (Đỗ Bang – Những Khám Phá Về Hoàng Đế Quang Trung – tr.173–178, NXB Thuận Hóa,Huế – Tái bản lần IV).

Kể đến đó, như chợt nhớ ra điều gì, tôi chưa kịp hỏi vị trí và sự tồn tại của ngôi tháp, ông Ne đã vội lên khỏi hầm. Tôi lại một mình với bóng tối. Giấc ngủ trưa kéo dài giúp tôi vượt qua buổi chiều nhẹ nhàng. Tiêu tiểu xong, người vẫn bần thần, lại nằm dài ra, tôi nghĩ ngợi lan man như nối dài bực dọc trong lúc mơ màng. Thời điểm này bên trên đã dịu nắng nhưng bên dưới nhiệt độ tăng, người tươm tướp mồ hôi.

Cố quên cảm giác nhớp nháp, tôi ôn lại những gì ông Phan Ne vừa cho biết. Quả thật giao tình hai nhà rất sâu nặng, quá hy hữu, hết sức đặc biệt! Vậy Bửu Dương chỉ đường và gởi tôi về đây không phải tình cờ, tùy tiện. Nhưng mục đích sâu xa của tay đại úy an ninh quân đội là gì nhỉ? Đáo bỉ ngạn!  Anh ta đã nói thế. Có đáng tin không? Cho đáo bỉ ngạn để đốn ngộ hay ngu xuẩn thả hổ về rừng? Đó là ý riêng của Bửu Dương hay chủ trương của nhà nước được coi là tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á? Nếu riêng, tôi cắn cỏ ngậm vành tri ân cứu tử, bái phục một tâm hồn cao cả khoan dung đại lượng, dám làm dám chịu. Nếu chung, anh ta là thứ thâm hiểm, chọn tôi làm công cụ mang chíp điện tử phát sóng cho biệt kích theo dõi, săn lùng tung tích, rúc sâu vào sào huyệt đối phương. Nghĩ đến đó, tôi hốt hoảng dốc ngược túi xách, đổ vãi những gì tôi mang theo lên mặt chõng, soi đèn vào từng chi tiết. Chưa hết, tôi lộn ngược chiếc túi, rà mắt lên mặt bố phía trong, săm soi từng đường khâu. Chẳng có gì! Tôi khẳng định. Sau đó tôi ngồi im như phỗng, tâm trí rối như tơ vò.

Bất chợt có tiếng động từ phía cửa hầm. Không khí bao quanh có phần giảm nhiệt. Tôi nhìn tới, không nhận ra cái ô khung chữ nhật tràn ngập ánh sáng như mấy lần trước.

– Túi rồi, anh lên đi!

Giọng ông Phan Ne gióng xuống. Tôi trờ tới, đưa một tay qua khỏi miệng hầm, ông nắm lấy. Tay còn lại tôi chống vào mặt đất bên trên, rút người lên. Ngay sau đó, ông Ne giục tôi bước nhanh nhưng đưa đến một nơi khác trong ngôi nhà, khoảng trống sát bồ lúa. Tôi ở chung với mớ nông cụ thô sơ cuốc, cào, trang, liềm…

Bà Nậy mang mẹt cơm đặt xuống mặt đất, hai cái chén và hai đôi đũa. Ông Ne túm một về rơm khô lót đít, tôi cũng làm theo và ngồi xuống.

– Mạ mi đã kéo cổng chưa? Ông hỏi vợ.

– Rồi! Khỏi lo! Tui ăn phía trước!

Bà nói rồi đi ngay. Tôi hiểu bà vừa ăn vừa canh chừng. Trong ánh đèn tù mù, ông Ne xới cơm, mời tôi cầm đũa. Vẫn gạo lức, nhưng thức ăn phong phú hơn, ngoài hai món mắm kho, cà hấp có thêm thịt hộp. Ngon miệng nhưng tôi không dám ăn no, ngại thiếu phần. Sau bữa cơm, tôi muốn xuống hầm ngay. Ông Ne ngăn lại.

– Bọn Bình Định Xây Dựng Nông Thôn vừa rút đi, ta chỉ cảnh giác người nó cài đặt thôi! Ông nói. – Đêm nay anh được ngủ nhà.

Tôi yên tâm ngồi lại. Bà Nậy vào mang cái mẹt đi.

 – Răng mà ăn ít rứa? Bà tỏ vẻ không bằng lòng.

 – Cháu no rồi! Tôi nói vói theo.

Ông Ne rót nước, đẩy về phía tôi một chén.

– Tết Mậu Thân, từ mặt trận thành phố, bộ đội rút qua làng, bày cách cho tui làm cái hầm kiểu chữ A để tránh đạn bom, sau đó thì nuôi cán bộ, hết người nọ tới người kia! Ông nói.

– Trong số ấy có ai quay lại không? Một tia sáng loé lên trong đầu, tôi hỏi.

 – Năm ngoái có vài ba người nhưng năm ni thì chưa! Ông nói.

– Nếu họ trở lại, chú giới thiệu và gởi gắm giúp để cháu được sớm về an toàn khu! Tôi cầu xin.

Ông ngồi im vấn thuốc. Thấy vậy, tôi vắn tắt kể cho ông nghe việc tôi không hoàn thành nhiệm vụ, bị sa lưới, sau đó được Bửu Dương cứu thoát. Tuyến của tôi bị vỡ, đang cháy lan và đang trong tầm truy nã, có báo cáo nhưng trục trặc sao đó. Mong muốn của tôi bây giờ là cách ly điểm nóng càng xa càng tốt.

– Rứa Bửu Dương có yêu sách anh làm chi không?

Ông Ne hỏi.

– Không! Chỉ biết anh ta muốn cháu sống. Còn sống thế nào và sống để làm gì thì không nghe nhắc tới!

 Tôi nói, dè chừng vì chưa hiểu hết ý ông ta.

– Con dòng cháu giống, anh ấy mang truyền thống của cha ông, kiến nghĩa bất vi vô dũng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng [Thấy việc nghĩa mà không làm không phải là người dũng khí, thấy người gặp nguy mà không cứu không phải là anh hùng]. Cố nội tui không tuyệt tự cũng nhờ thứ máu đó!

Ông Ne nói muốn chứng tỏ mình hiểu Bửu Dương. Tôi lắng nghe, hết nghi ngại nhưng không hoàn toàn đồng tình với chủ nhà. Bửu Dương không giản đơn, không dân dã, không bộc trực như ông Phan Ne hằng nghĩ. Ngoài nhân cách trong sáng, anh ta là một triết gia chính trị sâu sắc. Anh ta không lầm lẫn tôi, và ngược lại. Chúng tôi là đối thủ, không chung với nhau nửa bước. Chúng tôi đang đụng độ và tiếp tục đụng độ. Anh ta đã xác định mặt trận và đang thí điểm sách lược. Còn tôi, vũ khí đã ở trong tay, nhưng lý tưởng mơ hồ, chỉ được cái nhiệt tình sục sôi, dám lăn xả vào mục tiêu.

 – Sau thời kỳ củng cố ở an toàn khu, cháu sẽ tình nguyện nhận công tác trở lại!

Thấy ông ta lừng khừng, tôi nói thêm.

– Được thôi! Nếu anh muốn bắt liên lạc ngoài tuyến để lên bưng càng sớm càng tốt tui cũng có cách.

Ông hứa.

(Hết Chương 60)

Share this post