Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 61

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 61

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 61
– Z.25
Vỡ mặt trận, Mơ ôm súng chạy về làng, mẹ đẩy xuống hầm. Đầu lạ, sau quen, cởi mở tâm tình

Ngay sau đêm ấy, ông Ne vắng nhà, bà Nậy thay chồng chăm sóc, giúp đỡ tôi. Về phần mình, chỉ vài hôm tôi đã thuộc nề nếp sinh hoạt mới và nghiêm chỉnh tuân thủ. Ban ngày ở dưới đất, ban đêm ở trên đất, không lệch đường đi nước bước. Ăn uống thấp hơn chế độ dinh dưỡng ở ký túc xá nhưng tôi không thấy thiếu thốn. Bà Nậy ít khi chuyện vãn với tôi. Hình như bà không nghe quen thứ giọng hơi nhòe và nhão của tôi.

Một buổi sáng tinh mơ, bà Nậy giúp tôi xuống hầm, chừng vài giờ sau, nắp lại được bật lên. Đột xuất, tôi vô cùng kinh hãi. Sau tiếng chạm đất của một vật rơi, nắp được đóng lại ngay. Đang lúc hồ nghi, từ cuối hầm tôi bấm đèn chiếu tới. Trong chùm sáng phân kỳ, một người con gái đội mũ tai bèo, áo bà ba nâu quần đen xắn tới gối, đi về phía tôi. Trời ơi, trong đất mà cũng có ma! Suýt nữa tôi đã kêu lên.

– Em là Mơ, con gái út nhà này!

Tới giữa hầm, cô ta nói, tháo nịt đạn máng lên đòn dông, ngồi xuống đầu chõng. Tôi vẫn bấm đèn chiếu tới, sau lưng cô ta tòn teng khẩu AK đen ánh.

– Mạ em nói đợt trước em về thăm nhà, đi được ba hôm thì anh đến!

Cô ta chua thêm, vói ấm nước, ngửa mặt chúc vòi rót thẳng vào miệng. Tôi tin cô ta nhưng thắc mắc.

– Em đã quen bóng tối trong hầm, anh tắt đèn đi!

Uống xong, cô ta nhắc. Tôi làm theo, nghĩ đến từ nay phải chia đôi phần dưỡng khí hiếm hoi ẩm mốc. Một tiếng động khô khốc. Tôi đoán cô ta tháo súng đặt lên mặt chõng.

– Sao anh đứng mãi, không mỏi à? Cô ta nói.

Tôi lần mò ngồi xuống. Thứ mùi cô ta mang theo không phải toàn mồ hôi khao nắng, cũng không hẳn rạ úng bùn chua, tôi nghe khen khét, hăng hắc.

– Anh có nhận ra tiếng súng bên trên không?

Sau một lúc cả hai đều im lặng, cô ta hỏi.

– Thoang thoáng! Tôi ra vẻ tập trung nghe ngóng.

– Em vừa đụng trận, hỏa lực của chúng mạnh khủng khiếp. Mẹ kiếp, đồng không mông quanh!

Cô ta bực dọc tháo mũ lau mặt.

– Đã thế còn pháo chùm pháo chụp hạng nặng từ hạm đội [hạm đội Thái Bình Dương tức hạm đội 7 của Mỹ] bắn lên với máy bay oanh kích từ Đà Nẵng. Hỏa lực du kích là thứ gãi ngứa, rứa mà thằng xã đội trưởng cù lần một mực vâng theo cấp ủy cứ bắt chúng em nằm lì, chẳng mấy chốc trung đội bị bao vây rồi ăn đạn, ngoại trừ em, chắc không còn mống nào sống sót!

 Giọng Mơ tưng tức nghèn nghẹn.

– Mạ em bố trí cơm nước dự phòng cho anh chưa?

Tôi chưa kịp trả lời, cô ta nói tiếp.

– Nhổ chốt xong, thế nào chúng nó cũng tràn qua làng, rồi còn dừng lại cả buổi để lùng và diệt Vi-Xi.

Sau thông tin sốt dẻo ấy, tôi bớt xa lạ với Mơ nhưng nhận ra hiểm nguy đang cận kề.

– Đã vào hoàn cảnh này, anh cứ tự nhiên!

Cô đưa chiếc ấm qua cho tôi. Rõ ràng đánh đấm bám theo chân Mơ. Ngay lúc đó tiếng súng bên trên rõ hơn, mặt đất rùng rùng từng đợt. Tay cầm chiếc ấm, tôi lần về phía miệng hầm nghe ngóng một lúc rồi trở lại.

 – Kiểu này chắc còn lâu mới dứt!

Tôi nói và nhận ra Mơ đã nằm vắt lên chõng.

– Chúng nó sẽ bất ngờ đụng phải quân chủ lực huyện đang ở tuyến sau bọn em!

Mơ vùng lên, xích tới đầu chõng tôi đang ngồi. Ngại suồng sã, tôi đứng bật dậy và đồ chừng:

– Có khả năng ta dùng du kích để nhử?

– Có thể! Nhưng chưa biết mèo nào cắn mỉu nào.

Mơ nói. Cả hai chúng tôi cùng im lặng, gởi hết tâm trí lên bên trên. Đất rùng mỗi lúc một mạnh. Từng đợt pháo gióng giả.

– Chắc chúng có tăng viện!  Mơ suy đoán.

– Làm sao biết? Tôi hỏi.

– Bọn Mỹ Ngụy rất nhát gan, quen đánh đấm theo kiểu nhà giàu, thấy ngang ngửa là chúng nằm chờ, gọi pháo với máy bay tới. Nếu cục diện diễn biến đúng như thế, mặt trận phải nằm bên kia cánh đồng, cách xa làng hai con hói với một đạc ruộng. Giờ như giã gạo trên đầu mình, nhất định tuyến ta đã vỡ.

Mơ bồn chồn, như muốn đội nắp mà lên trở lại.

Có tiếng thình thịch, Mơ chộp lấy súng. Cả hai chúng tôi đều lui về cuối hầm. Lúc này đất đã hết rùng từng cơn, bên trên cũng không còn tiếng nổ vọng xuống.

– Chắc chúng nó đã vào tới và đang xăm xỉa.

Mơ nói, gạt tôi qua bên. Hai tay không, tôi vâng theo nhưng vẫn áp tai vào thành hầm. Tiếng thình thịch mạnh hơn. Tôi giật lấy súng và tranh thủ vượt lên trước.

 – Em có thủ pháo không? Ngoái lui, tôi hỏi.

Mơ vươn tới vói đai nịt.

– Còn một quả!  Cô ta nói.

Từ giây phút ấy, yên ắng trở lại. Chúng tôi vẫn kiên thủ chờ đón tình thế phải đối phó. Một lúc sau, bất chợt chúng tôi xấu hổ, choàng vai sát cánh mà chẳng có gì xảy ra.

– Chắc là qua rồi! Không biết mạ em ra răng?

Khỏa lấp bẽn lẽn, cô ta nói, vừa mừng vừa lo. Tôi cũng hùa theo. Nhưng cả hai không ngu đến mức nóng ruột đội nắp trồi lên lúc này. Sống chết là do bên trên quyết định. Cái thứ tân tòng như tôi còn thuộc nằm lòng huống hồ Mơ. Cô ta ngồi trở lại chõng, súng và đạn để ngay trước mặt. Lâu lâu tôi chớp đèn quét quanh gian hầm. Cô ta vẫn ngồi im, ngước mắt nhìn trần.

– Cha em có ở nhà, thế nào chúng ta cũng nhận được tín hiệu!  Mơ cho hay.

 – Bằng cách nào? Tôi hỏi.

Mơ kéo tôi về phía thông hơi, cầm cái ống bằng vỏ lon sữa bò áp sát tai. Tôi hiểu, chợt nhớ trò chơi thông tin do thầy giáo bày sau tiết khoa học thường thức ở bậc tiểu học. Hai cái vỏ lon, một cuộn chỉ, chúng tôi có thể nói chuyện từ đầu ngõ đến cuối vườn.

– Ai bày ra cái chước này?

Tôi hỏi, tỏ vẻ phục người áp dụng. Mơ chỉ tay vào mình. Hiểu ý, tôi không dám manh động linh tinh.

– Không nghe chi hết! Cô ta than.

Tôi chộp chiếc ống, áp sát tai, chờ chực, mỏi ê cả người. Chúng tôi trở lại chõng tre, không còn sợ nữa, chỉ lo lắng. Không khí trong hầm nóng hâm hấp.

– Anh cởi hẳn cho mát!

Thấy tôi mở bớt mấy hạt nút áo, Mơ nói rồi tự mình cũng làm theo. Trên người tôi chỉ còn mảnh xà lỏn, còn cô ta chỉ có cái nịt vú màu đen với chiếc quần xì. Ban đầu tôi hơi ngượng nhưng mấy phút sau không còn cảm giác ấy nữa, có lẽ do chỉ có hai người, và vài lề thói cấm kỵ bên trên xuống đây hóa thành thứ yếu.

– Chú thím có cho Mơ hay vì sao anh trôi nổi về đây không?

Thấy đã tới lúc nói rõ với cô ta, tôi bày tỏ.

– Em có mấy khi ở nhà! Cô ta nói. – Ba bốn năm nay thoát ly, em ăn bờ ngủ bụi. Vừa rồi trung đội tan nát, em băng đồng chạy về làng rồi ghé nhà, mạ hoảng hốt đẩy ngay xuống đây.

Tôi biết thêm gia cảnh ông Phan Ne một tí. Họ nghiêng hẳn về phía Cộng Sản. Tốt! Tôi yên tâm.

– Nhờ Bửu Dương giới thiệu, anh từ thành phố về đây tá túc! Tôi nói và cố giảm nhẹ tình huống.

– Bửu Dương ở gần cầu Kho Rèn phải không?

Mơ hỏi, vui vẻ.

– Phải! Nhà ở bờ nam sông An Cựu. Tôi đồ thêm.

– Rứa anh có biết Diễm Thúy không?

Mơ ngồi xích lại gần tôi hơn.

– Có! Tôi nói.

– Diễm Thúy là bạn em!  Mơ nói.

– Thế hả? Tôi sửng sốt.

– Chính xác, một đứa là con gái chủ nhà, một đứa là kẻ ở trọ. Năm ấy chiến tranh chưa lan tràn, học hết cấp tiểu học ở xã, em lên thành phố thi vào trường nữ công lập Đồng Khánh. Nghe tin con đỗ, mạ em lo lắng đến bỏ cơm. Không nơi thân thích, biết tá túc nơi mô mà học với hành! Bà than thở cả lúc ăn lúc làm. Sau mấy ngày suy nghĩ, cha dẫn em lên phố, đưa đến gặp mẹ anh Bửu Dương. Cha nói cơm nước và các khoản chi phí em lo, chỉ xin chị chỗ nằm với sự bảo ban. Bà cười, nói xưa nay chật bụng chớ chật chi nhà! Chú về báo với thím như rứa, yên tâm mà lo cho cháu. Khóa ấy, Diễm Thúy cũng đỗ vào Đồng Khánh. Bà cho em ở chung phòng với con gái. Từ đó hai đứa thành đôi bạn. Chúng em thân nhau nhờ có những cái chung, Thích của chua, thích hát ca, thích xem phim tình cảm, thích ăn cay, ghét phấn son lòe loẹt, ghét mặc áo dài, ghét đi guốc cao, ghét thói đỏng đảnh. Nhưng chúng em cũng có lắm cái riêng. Nó nhu mì, ít nói, thâm trầm, còn em, mạnh mẽ, xốc nổi, thẳng tính, nó học hành chỉn chu, cơ bản, ý tứ, còn em, thích chi làm nấy, văn học với sinh ngữ thì dốt tệ!… Bốn năm sau, thi Trung Học Đệ Nhất Cấp, nó đỗ em rớt. Diễm Thúy vào trường Mỹ Thuật, em rút về quê với dự tính ôn tập để thi lại kỳ hai. Rồi chiến tranh mở rộng. Một người anh đi tập kết năm xưa trở lại hoạt động tại địa phương, hứa với mạ đưa em lên bưng rồi xin cho ra Bắc học. Nhưng do nhu cầu chiến trận, vừa tới huyện em được đưa đi thụ huấn khoá quân sự hai tuần, điều về bổ sung du kích xã, chủ yếu hoạt động ở địa bàn thôn…

Nắp hầm bật mở, chúng tôi vớ lấy vũ khí.

– Mạ đây! Giọng bà Nậy gióng xuống.

Không nghe chúng tôi lên tiếng, bà hỏi tiếp:

– Hai đứa có can chi không?

Đặt khẩu AK trở lại mặt chõng, Mơ lần về phía cửa, tôi men theo.

– Răng mà lâu rứa, tưởng có chuyện chi!

Giọng Mơ khao khao, bương bướng. Không nghe bà Nậy nói năng, chúng tôi yên tâm lên khỏi hầm.

– Làng có mấy người chết, mạ phải tới lo!

Đến hiên nhà, bà dừng lại ghé sát tai con gái.

– Cơm nấu rồi, hai đứa ăn trước!

Nói chưa dứt, bà đã dớm bước.

– Mạ! Mơ níu lấy tay mẹ. – Lỡ có đột xuất lấy ai đậy nắp hầm cho tụi con?

Bà Nậy quay lại vừa lúc tôi đi tới.

– Bộ đội ta rút lui, bọn Ngụy áp tới, mặt trận đã dời qua Sư Lỗ, Xuân Ổ, Xuân Đợi.

Bà nói, vớ chiếc nón cời rồi lẩn ngay vào bóng tối. Tôi theo Mơ vào nhà. Đêm nay không ngủ hầm nhưng không được yên ổn. Làng vừa trải qua trận càn lớn, tất cả đang thấm máu và nhuốm mùi khói súng. Lẻn ra đầu hồi quan sát, tôi chẳng thấy gì ngoài mấy đám cháy le lói ánh lửa cỏn con, vết tích bom đạn tàn phá đã lắng chìm dưới bóng tối mênh mông.

– Anh ơi, ăn cơm! Mơ khẽ gọi.

Tôi lần xuống nhà dưới theo một lối đi hẹp xông mùi mốc rạ ẩm.

– Không ra biền hái rau được, em phải giật tạm mấy cái trứng gà đang ấp.

Mơ nói, dập lửa, bê cái chảo nhỏ đặt cạnh nồi cơm. Trong bóng tối, tôi lần tìm góc chạn lấy chén đũa. Bà Nậy vẫn chưa về. Chúng tôi ăn ngay ở bếp bên cây đèn hột vịt tù mù.

– Anh biết chi về Bửu Dương? Bất ngờ Mơ hỏi.

 – Đã gặp nhau nhiều lần, từng đọc chung một bộ sách, từng đấu đá chính trị, từng đưa nhau đi trốn, từng ăn cùng mâm, từng ngủ cùng nhà, nhưng cho đến nay anh khó mà hiểu hết tay đại úy ấy! Tôi nói.

Mơ cúi mặt như giấu một nụ cười.

Tôi thấy mình thành thật hơi lố và không đúng lúc.

– Đời em, có hai người đáng ra phải tường tận thì em mù mờ!

Có lẽ tôi không khớp khao, Mơ tìm cách hòa đồng.

– Đó là cha em và anh Bửu Dương! Mơ vói cái chén trong tay tôi. – Chẳng biết nước ở mô trên trời mà rơi xuống mãi và đất vì răng mà cứ lơ lửng giữa thinh không, nhưng cha em nhất quyết bảo vệ cả hai thứ ấy. Không thể nói cho ai rõ đạo lý là chi, nhân nghĩa là chi, nhưng ông chẳng nề hà đội mưa gió và cả bom đạn lên phố đúng ngày húy kỵ ngài tham tri. Còn Bửu Dương, con vua cháu chúa mà không thờ vua kính chúa, học trường Tây mà không theo Tây, thông thạo văn hóa Anh Mỹ mà không theo Mỹ, ăn lương quân đội Việt Nam Cộng Hoà mà không ngừng phê phán từ Ngô Đình Diệm tới Nguyễn Văn Thiệu. Thâm trầm như thế, kiêu căng như thế, khó tính như thế nhưng mỗi lần cha em lên tới, Bửu Dương hết mực ân cần, đón đưa tận ngõ… 

Do mong muốn được bảo đảm bình an trong ngôi nhà này, tôi rất thích nghe Mơ nói về mối quan hệ của ông Phan Ne với Bửu Dương, nhưng không dám dồn dập khai thác, sợ bị nghi. Tới lúc Mơ hết chuyện, không lẽ mình cứ cúi mặt ăn, tôi bắt sang đề tài vua Quang Trung và cái tháp tượng ở miếu Văn Thánh, nhưng cô ta chẳng biết gì hơn và không mấy ưa thích.

– Anh vào đảng chưa? Cuối bữa, Mơ hỏi.

 – Đảng nào? – Tôi hỏi lại cho chắc.

– Đảng Cộng Sản í mà!

Cô ta nhấn nhá, ý cho tôi ngớ ngẩn.

– Rồi! Tôi nói.

– Em chỉ mới đoàn thôi mà đã đủ thứ bầm giập!

 Mơ thở dài rồi tiếp.

 – Lúc từ làng ra đi chúng em có mười một mống, nay chỉ còn ba, kể cả một đứa đã chiêu hồi. Lần học tập nghị quyết nào lãnh đạo cũng kêu gọi phấn đấu, thư nào anh trai em cũng dặn khắc phục khó khăn, nhưng khó nuốt quá. Nghe nói sau khi vào đảng, nhất là giai đoạn thử thách, phải gương mẫu và hy sinh hơn nữa. Chắc rồi em cũng có ngày tan xác như các bạn em thôi!

Tôi lắng nghe và im lặng. Hơn ai hết, lúc này tôi sợ phải chia xẻ thứ tâm tư lừng khừng bạc nhược. Trận đánh vừa qua hẳn khủng khiếp lắm. Và tôi không ngờ di chấn ăn sâu trong Mơ đến mức ấy.

– Anh có bao giờ không chịu chấp hành lệnh của cấp ủy? Mơ hỏi.

– Chưa! Tôi nói.

– Em thì đã và không phải một lần.

– Rồi có sao không? Tôi hỏi.

– Không sao, em khéo ngụy trang! Mơ giải thích.

Tôi lén nhìn vào nồi rồi ngừng ăn. Mơ cũng buông đũa. Hình như trời chuyển mưa, phía đông, lâu lâu loe lóe ánh chớp. Thinh không im ắng. Từ đầu hôm không nghe tiếng ếch nhái, mới tối mà như đã khuya lắm.

– Anh có bao giờ giết người chưa?

 Đang dọn chén bát, Mơ hỏi.

– Chưa! Tôi nói.

– Em thì rồi. Mà không phải một lần!

Cô ta nói, giọng không vui.

– Tất cả chỉ là vì nhiệm vụ! Tôi an ủi.

– Chưa vấy máu, anh không hiểu nó khủng khiếp thế nào đâu!

Chiếc rổ nhỏ sút khỏi tay, một cái dĩa vỡ làm hai, Mơ ngồi bệt xuống đất nhưng không buồn nhặt.

– Năm Mậu Thân, hồi ấy em mới vào du kích, chúng em được lệnh tiếp quản tù và hàng binh từ mặt trận thành phố Huế. Tưởng là đưa về an toàn khu tuyên truyền, giáo dục, khai thác, ai ngờ lãnh đạo hạ lệnh bắn bỏ tất cả. Du kích chỉ năm ba tiểu đội, tù binh từng đêm dồn về hàng trăm hàng ngàn. Anh có biết phải xử lý thế nào cho đạt yêu cầu nhanh gọn không? Mơ đánh đố.

Ngày mới ra Huế, đó là đề tài nóng hổi, đi đâu cũng nghe chào xáo nhưng người kể chưa ai tận mắt hoặc là người trong cuộc. Bây giờ tôi chịu thua nhưng vẫn háo hức hóng chuyện.

– Giết lầm còn hơn bỏ sót, nghĩa là giết càng nhiều càng tốt, giết càng nhanh càng tốt, chỉ cần gọn nhẹ và ít tốn đạn! Mơ bật ngay đáp án.

Choáng ngợp, tôi tỏ vẻ không tin, cô ta cụ thể:

– Mỗi lần như thế, chọn một vị trí thích nghi trong trảng cát xa cách dân cư, bảo chúng sắp hàng, ổn định trật tự. Một cán bộ đứng ra giải thích cho chúng hay trước khi mở cuộc tổng tấn công nhà nước cách mạng đã lo liệu mọi mặt, nhưng do chưa chuyển đến vùng tự do nên mấy hôm nay các người cơm không có ăn, nước không có uống, và thiếu thốn bao thứ khác. Tình cảnh này phải sớm chấm dứt, bằng mọi cách các người sẽ được đưa về vùng tự do. Nhưng phương tiện vận chuyển không có mà từ đây tới đó còn xa, đêm nay phải nghỉ lấy sức, trong khi thằng địch cứ dùng máy móc điện tử bám theo ta từng giờ từng phút. Vậy nên, để đảm bảo an toàn sinh mệnh cho mọi người, đề phòng bọn Mỹ-Ngụy đột kích hoặc đánh phá từ xa, mỗi cá nhân phải tự đào hầm chống máy bay và pháo chùm. Nghe tới đó, tất cả tù và hàng binh đều phấn khởi tin tưởng, có kẻ còn xúc động đến rớm nước mắt. Cán bộ chỉ cần ra tay cởi trói cho một tên, sau đó, bọn họ hồ hởi tự cởi cho nhau. Chúng em dãn rộng giữ vòng ngoài, tên nào manh động bắn ngay tại chỗ. Bụng lép kẹp, cổ họng khô cháy, theo chỉ dẫn của một cán bộ, bọn họ hối hả múc cát bằng hai tay thành đường hào hình chữ chi ngoằn ngoèo nối liền nhau. Do yêu cầu đào sâu, mãi đến tận khuya mới xong, tay người nào cũng tứa máu, áo xống tả tơi, hơi sức gần như cạn kiệt. Đói lả, khát cháy, mệt phờ, nhưng chưa nghỉ được đâu, còn phải diễn tập nhiều lần trong tư thế hai tay bị trói. Bước sau cùng, khi đã thuần thục, cả hai bên đều vào cuộc. Du kích chúng em được lệnh chốt các vị trí gấp khúc và cùng phía để tránh bắn vào nhau. Còn tù và hàng binh, bất luận dân hay quân, bất luận già trẻ, bất luận nam nữ, tuân theo hiệu lệnh báo động giả, xuống hầm trở lại, nằm úp mặt sát đất. Rồi thủ trưởng khoát tay phát lệnh. Mẹ kiếp! Trước đó mỗi đứa đã tớp mấy búng rượu cay mà vẫn run tay. Rồi súng nổ, nổ đồng loạt, giòn giã, không tên nào kịp ngóc đầu dậy. Ta chỉ tốn nước bọt và ít đạn, tự chúng đào huyệt chôn mình. Còn vùi lấp, bọn dân vận mỗi xã tự lo lấy, sơ sài thôi, vài ba hôm gió sẽ mang cát và các thứ rác rê tới phủ nhòa tất cả, khỏe re!

Kể đến đó, Mơ khóc.

 – Hối hận à? Đợi một lúc, tôi hỏi.

– Một phần thôi, nhưng ức lắm! Cô ta gạt nước mắt. – Làm tốt như rứa mà trên cứ phê hoang phí đạn. Rút kinh nghiệm, lần sau tụi em xé lẻ chúng thành từng cụm nhỏ, trói gô bịt mắt, đưa tới miệng hố, bảo sắp vào vùng tự do phải ngồi chờ giao liên, rồi dùng bọng cuốc mà phang…

Bà Nậy trở về, tóc rối bù, mặt thấm đẫm mồ hôi, ngồi ngay vào mâm nhưng không màng ăn uống, bộ tịch khác hẳn ngày thường.

– Đến nước ni mà có người còn đòi truy điệu với truy hồn! Bà cằn nhằn.

– Có áo quan không?

Mơ hỏi mẹ, dùng cả hai tay quệt mắt.

– Chiếu cũng không đủ mà quấn nữa là…

Vừa cầm đũa chén lên, bà đặt xuống, nhăn nhó.

– Đã khử bùn rồi, đã chà cả lá mỏ chó rồi, đã ngâm cả người xuống hói, cọ xát đến nát cả tay chân mà vẫn cứ tanh!

Bà đứng dậy khụt khịt, muốn hắt hơi mà ngắc ngứ.

– Mạ phụ trách liệm à? Mơ hỏi.

– Chỉ đặt nằm cho ngay ngắn thôi, có xác tanh bành phải măn mo ráp mới đúng đầu đúng chân!

Bà đi ra cửa.

– Đất cát không ăn thua, mạ phải chà bằng rau muống hoặc cỏ mực với tro bếp. Máu người kinh lắm, tanh hơn cả máu chó máu cọp! Mơ nói vói theo.

Đêm yên tĩnh. Nhưng trong lặng phắc ấy, tôi mơ hồ những hồn người lãng đãng kéo nhau đi. Tiếng gáo lịch kịch, tiếng nước xè xè từ đầu hồi vọng lại, lưa thưa năm ba tiếng nhái bén uất oắt. Người đi chôn người về lẻ tẻ âm thầm qua ngõ.

“Đáo bỉ ngạn!”

Tôi chợt nhớ lời Bửu Dương.

Bờ bên kia là đây ư?

– Em đi tắm trước! Mơ nói! – Mạ mắc ăn, anh ra phía hiên ngồi canh cho em.

(Hết Chương 61 – Z.21 – Z.25)

Share this post