Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 64

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 64

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 64
– A.39
Những thông tin từ Hà Nội. Không ngủ được, chỉ biết đùa với Miki.

Đột ngột chuông điện thoại reo, tôi sực tỉnh, có lẽ trong phòng tôi ở lầu một. Gần đây những cú điện thoại khuya khoắt làm tôi giật thót ruột gan.

– A lô! Tôi với kịp, lên tiếng ngay nhưng dè chừng không xưng tên, phòng khi cần ngắt ngang.

– Anh phải không? Giọng Mơ. Tôi ghìm thở.

– Em đang ở đâu? Tôi hỏi rồi tự dưng bật cười.

– Em còn ở Hà Nội, khách sạn Thăng Long, cùng phòng với chị Đặng Thị Ga.

– Lần này du lịch thủ đô có bầu có bạn, thích chứ?

Tôi hỏi, cố lấy lòng vợ.

– Biết nói với anh thế nào đây! Mơ than.

Tôi tưởng như vừa vấp phải vật gì.

Lập chập một lúc, cô ta miễn cưỡng nói tiếp:

– Mười ngày nay em bỏ công thăm viếng nhiều nơi, bây giờ mới nhận ra mình có mắt như mù, Hà Nội không như mình tưởng. Nói cho đúng, cái cũ một thời các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn ngợi ca không còn nữa, cái mới đêm ngày đài báo huênh hoang sờ sờ ra đó toàn tô vẽ tân trang phóng đại. Hà Nội năm cửa ô, lớp lớp đoàn quân tiến về, như Văn Cao hò hét một thời! Tìm mãi mới thấy một, mà không biết có phải đó không? Hà Nội ba mươi sáu phố phường, như Thạch Lam tô vẽ, giờ bán buôn hổ lốn hổ láo, có còn phường nào đâu? Hà Nội ngàn năm văn hiến, như bao sách sử đã ghi, sao nhiều hàng thịt chó quá? Hà Nội đa phong cách! Nhưng sao rặt màu cỏ úa kaki Bắc Kinh từ đầu đến chân, nhìn xa tưởng chừng cả thành phố đang hành quân. Em đến đền Trấn Quốc, tưởng linh thiêng trang nghiêm, hóa ra quần tụ một lũ buôn thánh bán thần, xăm quẻ vung vãi mời chào, khách hàng đủ thành phần. Buồn cười nhất, quý phu nhân xã hội chủ nghĩa của các quan duy vật biện chứng cũng lết lê bái lạy cầu xin danh lợi cho chồng cho con, và bao thứ diêm dúa khác. Em đến hồ Hoàn Kiếm, hồ Gươm đấy anh ạ, nhà cửa tư nhân lô nhô cơi nới lấn chiếm, phóng uế bữa bãi, nước nôi cáu bẩn, không biết các cụ rùa sống nổi không? Đến thăm Văn Miếu, Quốc Tử Giám, tìm mãi mới thấy một trụ “khuynh cái” xiêu vẹo do bộ hành giẫm đạp và bọn phu xe gác chân chờ khách, còn trụ kia, “hạ mã” (*), chắc đã tiêu tán từ lâu. Ngớ ngẩn làm sao khi em đối mặt chùa Một Cột! Ngẫm lại trước đây nghe đài báo mà kinh! Chẳng qua chỉ là cái trang thờ kích cỡ nhỉnh hơn bình thường chút đỉnh, Huế mình thiếu chi, xó vườn nào chẳng có. Một người ngoại quốc cũng ngỡ ngàng, tẽn tò như em. Hướng dẫn viên du lịch đưa đến tận nơi, đứng ngay bậc cấp chùa, anh ta còn ngơ ngác nhìn quanh hỏi “where is it”!

(*) Khuynh cái – Hạ mã: Cất nón – Xuống ngựa (Khuynh: ngả, cất. Cái: vật che đầu như nón, mũ. Hạ: xuống. Mã: ngựa). Ý nhắc qua đây phải cất mũ nón, xuống ngựa để tỏ thái độ kính trọng. Hai trụ có bốn chữ này thường đặt ở hai phía tả hữu của những nơi phô bày văn hiến quốc gia như Phu Văn Lâu–Huế, Văn Miếu–Hà Nội)

Mơ kể với cái giọng dấm dẳn, chan chát, tưởng chừng vừa trải qua kình cãi với ai.

– Đã đi thăm lăng Hồ chủ tịch chưa?

Nhiều lần tôi ra Hà Nội, ai cũng mồi chài như thế. Nay cũng đề tài đó, tôi muốn vợ có được cảm quan thay đổi tâm trạng. Nhưng không ngờ!

– Rồi! Mơ thở dài, ảo não. – Sau mùa xuân đại thắng 1975, cán bộ vào Nam không tiếc lời khoe lăng mộ ông cụ, nào là khổ công sàng lọc bao nhiêu trí tuệ kiến trúc tài ba trong và ngoài nước, bộ chính trị mới chọn được một đồ án xứng tầm, nào là cơ quan này đoàn thể nọ tranh nhau cử các nghệ nhân có đôi tay vàng đến phục vụ xây cất, nào là đá hoa cương Thanh Hóa, gỗ trầm hương Tây Nguyên, cát vàng Tiên Sa, Quảng Nam chở ra… Có gì ghê gớm đâu, một bản sao chép vụng về và thu nhỏ mô hình lăng mộ Lénine, khối lượng không lớn mà gây cảm quan trì trịch, Tây chẳng ra Tây, Tàu chẳng ra Tàu, Âu chẳng ra Âu, Á chẳng ra Á, còn phong cách Việt Nam thì mù tăm! Rêu rao một đời ông cụ chiến đấu vì độc lập dân tộc mà khi chết lại xa cách bản sắc văn hóa truyền thống đến thế! Bốn ngàn năm văn hiến, có vua chúa nào, danh nhân văn hóa nào, anh hùng dân tộc nào muốn chình ình an giấc ngàn thu giữa lòng đô thị ngập ngụa nhố nhăng, ngựa xe rầm réo! Đúng là sống thế nào chết thế đó…

– Vậy cái nhà sàn của Bác không đặc sắc sao?

Tôi ngại cô ta chê bai lung tung.

– Ở Tây Nguyên rải khắp buôn bản còn khối cái đẹp hơn thế. Chán chi của tiền và công sức sẵn sàng cung phụng, nhưng ngẫm lại dừng ở tầm mức ấy cũng phải thôi, ông cụ có ngủ nghê tại đó bao giờ, chẳng qua chỉ là vật cảnh, cái thứ làm ra để biểu diễn, để chụp ảnh, để tuyên truyền, để lòe bịp ngu dân và du khách nước ngoài rằng một đời ông cụ chân chất đạm bạc! Anh biết sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh ăn ngủ hú hí ở đâu không? Trong cái tòa hầm bê-tông phía trái nhà sàn, được ngụy trang dưới một gò nổi đủ sức tránh bom xuyên phá và đầu đạn hạt nhân, ai tinh mắt sẽ thấy cửa vào cung A phòng khuất sau mấy lùm cây cỏ lấp xấp…

– Thôi! Dù gì em đã từng lăn lóc trận địa đổ máu chiến trường, mai đi xem bảo tàng Quân Đội cho biết!

Tôi chuyển đề tài và cũng để dứt húy kỵ phạm thượng, lỡ tai vách mạch rừng. Không ngờ cô ta hét lên.

– Rồi! Rồi anh ạ! Vẫn giọng ngao ngán, pha thêm bi phẫn. – Mất gần hai tiếng đồng hồ ngồi trước sa bàn điện tử nóng chín người, nghe hướng dẫn viên hùng hồn thuyết minh về trận Điện Biên Phủ, khi ra khỏi phòng một du khách Trung Quốc bảo chiến công này là của cha ông chúng tôi. Em yêu cầu xuất dẫn chứng cứ, hắn nói quyết định thắng lợi là trận địa pháo trực xạ mà thời ấy các bạn chưa có đại pháo, xe kéo và cả xạ thủ. Ức quá, em phang lại tại sao không. Hắn hỏi ai cho mà có, giấu ở đâu, lấy gì vận chuyển, ai dạy cho mà bắn. Em cứng họng. Hắn bảo trước giờ khai cuộc chúng tôi mới đưa sang 550 khẩu đại pháo, đầy đủ cấp số người và đạn. Em đốp ngay, dàn trận thế nào là do đại tướng của chúng tôi. Hắn nói vậy đại tướng cố vấn Trần Canh để đâu, có biết chức năng cố vấn của Trung Hoa vĩ đại thế nào không? Việt Nam các người chỉ tài đánh tráo thổi phồng. Điện Biên Phủ là một trận địa cấp sư đoàn, một đại tướng trực chiến với một đại tá, huy động bao nhiêu đại đoàn và dân công của nửa nước đánh với mười hai ngàn quân Pháp, không thấy nhục sao mà cứ huênh hoang. (*)

(*) Trần Canh (1903-?): Tên là Trần Thứ Canh, tốt nghiệp Hoàng Phố, đại tướng, một trong mười vị tướng khai quốc công thần của Trung Hoa Cộng Sản, đã có mặt tại Việt Nam trong chiến dịch Biên Giới (1950), chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), và nhiều lần hội kiến với Hồ Chí Minh. Năm 2004, Việt Nam rầm rộ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên, báo đài Trung Quốc công bố một số tài liệu chứng minh đó là thành quả của họ, phóng viên đài BBC phỏng vấn thượng tướng Ước, ông ta thừa nhận Trung Quốc có mà ta cũng có.

Mơ ca cẩm mỗi lúc một hăng. Một lần nữa tôi sợ có người nghe lén điện thoại.

– Tranh chấp này còn lâu mới ngã ngũ trắng đen, không nên dính vào làm gì! Đó là trách nhiệm và liêm sỉ của các nhà viết sử, không việc gì ta lấn sân!

Tôi cố tình đánh lạc hướng vợ. Nhưng xem ra chẳng tưới tắt được gì!

– Còn chuyện này nữa anh ơi! Họa vô đơn chí!

Mơ vẫn kể lể bằng được:

– Tối hôm đi xem bảo tàng quân đội về, một bà cán bộ chức vụ phó đoàn vào toa lét, không biết quỷ ma nào xui khiến lại thượng lên la-va-bô mà trút cái của nợ cho kỳ được. Cả khối thịt nặng sáu bảy chục ký đè xuống, nó phải gãy đổ, vỡ tan hoang. Bồi thường, đương nhiên rồi! Nhưng hành trạng kém văn minh cỡ đó xấu hổ quá! Bà Đặng Thị Ga giận tím tái cả mặt mày, phải uống thuốc an thần mới ngủ được!

– Hà Nội không gây cảm quan nào đáng nhớ trong em sao? Tôi cố gắng vớt vát.

– Có chứ! Mặt bằng Hà Nội hội đủ vẻ đẹp của bức tranh thủy mặc. Trên cao nhìn xuống, Hà Nội như một hòn non bộ cổ kính. Phố xá nhiều cây xanh tạo ra bóng mát, chỉ tiếc lòng đường quá hẹp còn bị quán xá lấn chiếm và người xe đi lại không theo một luật lệ nào. Các hồ ở Hà Nội là quà tặng của thiên nhiên làm thỏa mãn khát khao tầm mắt nhiệt đới và chuẩn mực hóa điều hòa khí hậu. Món ăn Hà Nội cổ kính, thanh lịch nhưng phải chui lủi vào hóc hẻm mới tìm thấy! Mơ nói.

– Còn người Hà Nội?

Thấy chiều hướng phấn khởi, tôi khai thông thêm.

– Mẫu người thanh lịch Hà Nội sau 1954 di cư vào Nam, một ít dừng chân ở Huế và làm thầy chúng ta, không còn nữa! Bây giờ đâu đâu cũng nghe nói năng bạt mạng, ở trần trùi trụi phơi bụng chạy ngoài phố, chửi thề không thua dân vỉa hè Sài Gòn, bốc phét hơn cả phu phen bến bãi Quảng Nam, thượng cẳng chân hạ cổ tay không thua dân xứ võ Bình Định, so kè lừa lọc chẳng thua gì Huế! Anh biết không, hớ hênh hỏi đường mà không boa, nó chỉ bậy ngay. Ra phố thấy của rơi chớ nhặt, không phải dân thủ đô vươn tới hoàng kim thời đại đâu, bọn lưu manh đặt mồi giả gài bẫy đấy. Không như ở miền Nam, vào tiệm ăn xong nhớ đi chỗ khác uống nước và phải thêm một lượt trả tiền.

Mơ chuyển sang đay nghiến.

– Đến nhà nào, nhớ mang quà theo, nếu không đừng hòng tiếp với rước…

Thấy không nên kéo dài cuộc gọi, tránh lãng phí cho đoàn phụ nữ tỉnh, tôi đề nghị cúp máy và Mơ đồng ý. Nhưng tôi vừa ngả mình lên giường, chuông lại báo.

– A lô! Ai đấy? Tôi lên tiếng.

– Mơ đây! Em gọi bằng di động! Cô ta nói.

– Suýt nữa quên báo với anh, em đã gặp các quý ông quý bà ở bộ. Tất cả đều bố trí tiếp em ở nhà riêng và vui vẻ nhận quà. Nói chung công việc tương đối tốt. Hồ sơ anh Tư chủ tịch nhờ sẽ được thông qua và họ sẽ gởi theo đường bưu điện để tránh tiếng. Trước đây nhà máy Chế Biến Ván Lạng tỉnh ta giao hàng cho Liên Xô nghe nói bị trừ nợ chiến tranh là chuyện có thực trăm phần trăm. Nếu tổng công ty ta tiếp nhận nhà máy làm công ty con, anh phải coi lại đầu ra, xuất đi đâu, khách hàng là ai. Nhà nước có đề nghị bao tiêu sản phẩm, coi chừng giao trứng cho ác, anh phải tìm cách thoái thác. Có lưu số phone của các vị trong tập đoàn đa quốc gia không? Còn hả? Anh hãy liên hệ ngay với Pierre Fourier xem sao. Theo em, bọn tư bản sòng phẳng, chơi được. Vừa rồi mấy ngài UNESCO [Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên Hiệp Quốc] từ Nam Vang bay sang Hà Nội khuyến cáo với bộ lâm nghiệp một số rừng nguyên sinh ở sát biên giới tây nam bị tàn phá do giới quân phiệt Campuchia cấu kết với lâm tặc Việt Nam. Anh bảo bọn Lê Viết Kỳ thôi đi, việc vận chuyển gỗ về lâm trường nội tỉnh cũng tạm hoãn. Đụng bọn thanh tra môi trường quốc tế thì gay đấy! Nghe nói cùng chuyến bay với viên chức Unesco từ Djakarta sang Phnom Penh có cả phóng viên của BBC và CNN, bọn này chẳng sợ ai đâu, chúng cứ theo quốc tế công pháp với nghiệp vụ mà phang tới thôi! À, còn chuyện này nữa, anh có muốn chuyển công tác ra trung ương không?

– Bộ nào? Tôi hỏi cho vui.

– Bộ nào cũng được nếu anh muốn! Mơ nói.

– Sao em lại có ý nghĩ ấy?

Được chăm chút, tôi cười nựng vợ qua điện thoại.

– Đến một lúc nào đó nên chọn bãi đáp để hạ cánh an toàn chứ? Mơ nói.

–Nội Bài chưa hẳn an toàn bằng Tân Sơn Nhất!

Tôi hàng hai cho vợ vui lòng và cũng thấy những việc thuộc loại này không tiện nói năng tùy tiện. Một người nhanh nhạy quá mức như cô ta đôi khi sơ hở.

– Khuya rồi, chúc em ngủ ngon!

Tôi tranh thủ ngắt lời Mơ rồi cúp máy.

Đồng hồ treo tường gõ đúng mười hai tiếng. Một ngày qua, nhìn chung mọi việc xa gần đều tốt đẹp. Tôi vào giường, cố dỗ giấc ngủ, mong hồi phục sức khỏe. Nhưng chỉ tội hai mắt, càng nằm càng tỉnh. Và cái đầu năng động mãn tính kéo về vô khối công chuyện buộc phải nghĩ suy, trằn trọc. Có lẽ khi quá vui cũng khó ngủ hơn cả lúc buồn bực. Đồng hồ treo tường lại thánh thót gõ. Tôi vẫn không chợp mắt. Thay vì bày rượu ra uống hoặc đọc sách như mọi khi, tôi xuống lầu, lui vườn sau chơi với Miki. Trăng đã bợt bạt chếch về phía núi. Trong vườn, những ngọn cây le lói lặng lẽ rực sáng nhưng mặt đất âm thầm ngả màu sâm sậm. Cùng ngồi chung chiếc ghế đá, chúng tôi thầm thì với nhau đủ chuyện, chính xác, chỉ tôi nói và nó im lặng lắng nghe. Chán rồi tôi đưa Miki đến sân luyện võ. Ở đó, ngoài mấy dụng cụ thể dục như bao đấm, xà đơn, xà kép, tạ cử, còn có một sợi thừng thòng qua ròng rọc treo lên một cành cây ngang, đầu này buộc vào nịt cổ hình cẩu nộm khoác áo gi-lê của Bull, đầu kia có một tay quay dành cho người huấn luyện. Tùy theo cách điều khiển, hình nộm có thể nhấp nhổm lết lê trên mặt đất, nhảy nhót lấc khấc, hung hăng lao tới, lửng lơ lượn vòng hoặc lủng lẳng giữa thinh không. Ứng với mỗi tình huống, Miki sẽ lựa thế tung đòn. Hôm nay tôi thay cẩu nộm bằng hình bù nhìn rơm với hai bản mặt, phía này là ảnh Bùi Phước, phía kia là ảnh Hồ Minh Dũng, rồi luyện cho Miki thế sư tử nhập hầu, bất ngờ tấn công đối phương bằng miếng ngoạm vào cổ. Người ta luyện chó bằng mùi bằng vị, tôi luyện Miki bằng nộm bằng màu. Người ta luyện chó như một điệp viên dò tìm kẻ trộm kẻ cướp, tôi luyện Miki như một dũng sĩ tấn công kẻ gian kẻ ác. Và cũng như bao lần trước, đến khi thầy mỏi trò mệt mới thôi. Trở lại hành lang nhà ăn, chúng tôi nằm vật ra sàn nghỉ ngơi một lúc rồi cùng nhau đi tắm.

(Hết Chương 64)

Share this post