Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 65

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 65

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 65
– A.40
Thâm cung bí sử, đầu đường xó chợ. Người Hà Nội bây giờ.

Mơ về, hao gầy chút ít do đi nhiều, nắng gió đường xa, ăn ngủ thất thường. Tuy đã lưu lại thành phố Hồ Chí Minh nửa tháng, dư âm Hà Nội vẫn âm ỉ. Như giận cá chém thớt, cô ta cằn rằn cẳn rẳn:

– Anh biết không, dân thủ đô rất sính cách sống Mỹ, bọn xích lô, tắc xi cũng leo lẻo tiền đô. Giới trẻ thích diện quần jeans khoác áo pull, nói năng giặm vá okay, good bye, thank you very much. Giới quan quyền, ngoài chuyện tranh ghế kéo càng nhau như cua nhốt chậu, háo hức kiếm chác, mua đất cất nhà, còn đua nhau gởi con qua Mỹ, Anh, Pháp du học, gởi tiền vào ngân hàng Thụy Sĩ, Singapore, Nhật Bản.

Một xe một vợ một chồng trên đường từ phi trường về nhà, tôi để mặc Mơ nói năng thỏa thích.

–Anh biết không, ở Hà Nội loa đài luồn sâu hang cùng ngõ hẻm ra rả chửi Mỹ suốt đêm liền ngày, nhưng dân ngồi đâu lại cạnh khóe, móc máy, nguyền rủa đảng Cộng Sản liên tu bất tận. Họ là thành phần cư dân phía Bắc tổ quốc đầu tiên nhận ra Hồ Chí Minh và đồng bọn lợi dụng chiến tranh vệ quốc để áp đặt chuyên chính lên đất Việt Nam ta như Lénine phù phép ở Nga, Staline ở Đông Âu, Mao Trạch Đông ở Trung Hoa, Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn. Khi hết chiến tranh, biết thế nào nhân dân cũng vùng lên vạch mặt độc tài, nên sau 54, vừa thu được nửa giang sơn, Hồ Chí Minh gấp rút phát động khủng bố ở nông thôn bằng chiêu bài đấu tố địa chủ phú nông. Và, phát động đàn áp trí thức ở thành thị bằng học tập tẩy não văn nghệ sĩ, hình thành đội ngũ bồi bút như Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên (*)… bằng bổng lộc ban phát hậu hĩ. Tới khi phát động khủng bố đàn áp vượt đỉnh điểm, Hồ Chí Minh biết nếu không kịp dừng lại nhân dân sẽ quyết tử vùng lên, liền đổ vạ cho Trường Chinh buộc phải làm vật tế thần, rút Lê Duẩn từ miền Nam ra thay thế.

(*) Hoài Thanh (1909–1982): tên là Nguyễn Đức Nguyên, nhà phê bình văn học, đồng tác giả với Hoài Chân tác phẩm nổi tiếng Thi Nhân Việt Nam. Nguyễn Đình Thi (1924–2003): nhà văn, nhạc sỹ, quan chức cao cấp quản lý văn nghệ ở Việt Nam. Tô Hoài (1920–200?): tên là Nguyễn Sen, nhà văn, được đảng Cộng Sản sủng ái. Cù Huy Cận (1919–2005): nhà thơ. Chế Lan Viên (1920–1989): nhà thơ.

Anh biết không, giờ này dân Hà Nội thấy rõ mồn một bộ mặt thật của bè lũ chuyên chính. Cũng như Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn, ông Hồ là tay sai mạt hạng của Staline, ăn lương tháng của điện Kremlin, thi hành nhiệm vụ của quốc tế Cộng Sản, chẳng có chút nào vì nước vì dân. Nhờ thủ đoạn, ông ta chỉ giỏi đóng kịch và khéo lừa bịp. Đằng sau bộ mặt giả nhân giả nghĩa là một con người tham lam, tàn bạo, dâm loạn. Ngoài chức năng đề ra sách lược, Bộ Chính Trị còn là một lũ ma cô cung phụng gái cho ông ta rất bài bản. Anh có tin Hồ Chí Minh rất thích thứ còn trinh, đặc biệt gái miền Nam. Thế là Nguyễn Chí Thanh phải tuyển cung nữ từ trong ấy đưa ra. Đến khi chán ruộng đồng sông nước phù sa, ông quay về sơn nữ, bộ chính trị phải cho người mò đến tít tận Cao Bằng, Lạng Sơn. Nhưng muốn được ngợi ca như thánh sống, phải xóa đi dấu vết thế tục, chơi xong ông cho bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn bòn xái rồi mật lệnh thủ tiêu phi tang. Anh không tin hả? Bộ trưởng phủ chủ tịch Vũ Đình Huỳnh đã chết, nhưng Vũ Thư Hiên, con trai ông ta, còn sống nhăn ở Pháp đã can đảm lên tiếng. Nhằm thao túng quyền hành, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ bày ra cái gọi là Ban Bảo Vệ Sức Khỏe Trung Ương với chiêu bài bồi dưỡng thể lực, ngăn chận bệnh tật, tăng cường tuổi thọ cho lãnh đạo, kỳ thực đưa gái đến phục vụ tận nhà các khai quốc công thần xã hội chủ nghĩa như Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng (*)

(*) Nguyễn Chí Thanh (1914–1967): tướng lĩnh, nhà chính trị. Trần Quốc Hoàn (1916–1986): bộ trưởng công an, tay sai đắc lực và thân tín của chủ tịch Hồ Chí Minh. Lê Đức Thọ (1911–1990), tên thật là Phan Đình Khải, đảng viên cao cấp của Cộng Sản Việt Nam, rất hống hách và giảo hoạt. Tôn Đức Thắng (1888–1980): Chủ tịch thứ hai của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chủ tịch đầu tiên của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nguyễn Lương Bằng (1904–1979): nguyên phó chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Võ Nguyên Giáp (1911–2013): đại tướng, người chỉ huy trận Điện Biên Phủ. Văn Tiến Dũng (1917–2002): đại tướng, người chỉ huy trực tiếp chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 tiến chiếm miền Nam Việt Nam.

Ăn xôi chùa ngọng miệng, các cụ phó mặc cho gian thần lộng hành, mãi quốc cầu vinh và đẩy mạnh chiến tranh Nam-Bắc! Năm 1958, Mao Trạch Đông cho công bố bản đồ lãnh hải Trung Quốc, vơ luôn cả Hoàng Sa và Trường Sa của ta vào, Hồ Chí Minh và toàn bộ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam họp bàn rồi nhất trí, giao cho thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm thừa nhận. Đầu năm 74, Trung Quốc đánh bại hải quân Việt Nam Cộng Hòa, chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa, đích thân Phạm Văn Đồng còn đánh điện chúc mừng! Cháy nhà mới ra mặt chuột, bè lũ Cộng Sản chỉ biết có đảng thôi, coi non sông tổ tiên để lại như chiến lợi phẩm bỏ túi, tiêu xài tùy tiện vô tội vạ. Trắng trợn cống nạp thượng quốc kiểu đó, xưa có cha con Mạc Đăng Dung, nay có Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng Sản Việt Nam mà thôi! Anh biết không, thì ra Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là đệ tử trung thành của trùm khủng bố quốc tế Borodine lúc ở Trung Hoa. Về nước, hai ông bày trò vu vạ Việt gian chỉ thị cho du kích thôn xã thực hiện, tàn sát bất kỳ ai bất đồng chính kiến. Anh biết không, dân Hà Nội căm ghét Lê Duẩn và Lê Đức Thọ tận xương tủy. Hai ông này đã bần cùng hóa nhân dân, khủng bố trấn áp đối lập, huyễn hoặc căm thù giai cấp để tận dụng xương máu thanh niên, cao rao hứa hẹn mai sau sẽ xây dựng một Việt Nam dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư sản. Ba hoa khoác lác tấc lưỡi thấu trời, nhưng Mỹ cút Ngụy nhào rồi dân vẫn khố rách áo ôm, sống đời nô lệ. Anh biết không, té ra Trường Chinh chỉ giỏi đạo văn và già mồm ngụy biện, cuốn sách nói về văn hóa văn nghệ của ông ta [“Đề Cương Văn Hóa Việt Nam”, tháng 2 năm 1943] là sao chép nguyên xi của Mao Trạch Đông…

– Những chuyện ấy đều khẩu thuyết vô bằng, có đáng tin không? Tôi ngắt lời Mơ không ngờ tăng thêm kích động.

– Không có lửa làm sao có khói? Trước đây ở miền Nam, DiệmNhu và kế đó là ThiệuKỳ, điên cuồng chống Cộng, có tay nào nghĩ ra được những chuyện động trời như thế mà đơm đặt bôi bác đối phương?

Cô ta cãi, giận dỗi, ngồi im. Tôi thừa nhận tâm trạng của Mơ phát xuất từ những trực quan thực tế rồi tự thân phản tỉnh. Phản ánh của Mơ không phải do đi xa về bịa chuyện mua vui, khoe mẽ. Nhiều lần ra thủ đô, những lúc rảnh rỗi la cà đàn đúm hát hò, bù khú nhậu nhẹt tán gẫu ở mấy quán chui, tôi cũng được cán bộ và dân phố Hà Nội kể cho nghe hàng trăm chuyện tiếu lâm chính trị, tiết lộ hàng chục chuyện tình ái bẩn thỉu thâm cung bí sử của vua quan vô sản, khối lượng thông tin còn đồ sộ và đáng tin hơn Mơ thu được. Tiếc thay tôi không phải nhà báo, nghe nhiều nhưng chẳng bao giờ đưa tin; không phải nhà nghiên cứu sử, nghe nhiều nhưng không bao giờ ghi chép, và cũng không phải nhà văn, nghe nhiều nhưng không dám cấu trúc thành truyện để luu lại mai sau. Về khả năng dâm dục, họ bảo do bắt nguồn từ zen ông nội là thầy đồ trắc nết Hồ Sỹ Tạo nên Hồ Chí Minh chẳng khác heo nọc, đi đến đâu thả giống tới đó. Lúc ở Paris, ông lăng nhăng hết bà sến này đến cô sến nọ, rõ nét nhất với Marie Bière. Qua Trung Hoa, ông giả cưới Tăng Tuyết Minh. Trở lại Nga, ông lang chạ với Nguyễn Thị Minh Khai. Về hang Pac Bó, ông tù ti với Đỗ Thị Lạc, nhân viên phụ trách cấp dưỡng. Sau năm 1954, ông muốn giải quyết sinh lý với Nguyễn Thị Phương Mai. Cô này đòi có cưới hỏi hẳn hoi mới chịu động phòng nên bất thành. Khi 65 tuổi, vẫn còn động dục mãnh liệt do thang dược bổ dưỡng quá mức, ông cho tuyển Nông Thị Xuân và ham đú đởn đến nỗi có con nhưng không chịu thừa nhận. Kẹt số de, ông thả cho Trần Quốc Hoàn léng phéng chấm mút rồi ban lệnh thủ tiêu… (*)

(*)  Tăng Tuyết Minh (1905–1991). Nguyễn Thị Minh Khai (1910–1941), về sau là vợ của Lê Hồng Phong. Đỗ Thị Lạc (?–?) sinh ra Nông Đức Mạnh – tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam (2001–2011). Nguyễn Thị Phương Mai (?–?) sau 1954, là tỉnh ủy viên Thanh Hóa. Nông Thị Xuân (1933–1957), người Cao Bằng. Năm 1955, Trần Đăng Ninh, tổng cục trưởng tổng cục hậu cần, tìm được cô Nông Thị Xuân (tức Nguyễn Thị Xuân), mới ngoài 20 tuổi, đang làm hộ lí trong một đơn vị quân nhu. Ninh đưa Xuân về Hà Nội để phục vụ ông Hồ. Xuân xin cho hai em họ là Vàng và Nguyệt về cùng. Họ được bố trí trên tầng lầu căn nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm – Hà Nội. Nhà này thuộc bộ công an quản lý. Bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn được ông Hồ giao cho nhiệm vụ quản lý cô Xuân và cả hai cô em. Mỗi tuần, Hoàn cho xe chở Xuân vào phủ cho Hồ chủ tịch giải quyết sinh lý, có lần ở qua đêm, có lần lưu lại vài ba ngày (…) Năm 1956, Xuân sinh con trai, ông Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Xuân ngây thơ, cứ tưởng ông Hồ coi mình là vợ. Bởi vậy, cô xin được công khai. Ông Hồ bảo đó là nguyện vọng chính đáng nhưng phải xin ý kiến Bộ Chính Trị. Sau đó, vẫn theo tố cáo của lá thư viết bằng máu hòa nước mắt 25 năm sau, Trần Quốc Hoàn đã hiếp cô Xuân tại nhà số 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm. Rồi ngày 11-02-1957, tên Ninh Xồm, cận vệ của ông Hồ, cùng Tạ Quang Chiến, lái xe cho ông Hồ, đến chở cô Xuân bảo lên gặp chủ tịch. Sáng hôm sau, người ta phát giác xác Xuân bị xe cán ở dốc Cổ Ngư, đoạn lên Chèm, công an báo cáo nạn nhân chết trước khi bị xe cán (…), bác sĩ khám nghiệm tử thi xác nhận nạn nhân bị chùm chăn và đặp vỡ sọ bằng búa. Nhưng Trần Quốc Hoàn ra lệnh chôn gấp (…). Vẫn theo báo cáo công an, xe gây tai nạn chạy từ phủ chủ tịch ra (…). Cũng theo thư tố cáo này, sau đó cả cô Vàng, cô Nguyệt, và những họ hàng, bạn bè của các cô biết chuyện rùng rợn này không kín miệng đều bị giết hết. (Thư tố cáo của anh thương binh – chồng chưa cưới của cô Vàng, đề ngày 24-7-1983, gởi chủ tịch quốc hội Nguyễn Hữu Thọ – Nguyễn Minh Cần – Công Lý Đòi Hỏi, Văn Nghệ xb. 1997). Ngay sau khi giết Xuân, công an vào nơi chị em Vàng ở, mang Nguyễn Tất Trung đi, giao cho Nguyễn Lương Bằng nuôi, khoảng bốn tuổi, giao cho Chu Văn Tấn, đến năm 13 tuổi (1969, lúc Hồ Chí Minh mất), giao cho Vũ Kỳ – nguyên thư ký riêng của ông Hồ (Vũ Kỳ có hai con đẻ là Vũ Ninh và Vũ Quang, Vũ Trung là con nuôi).

Chuyện Hồ Chí Minh viết “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” ký tên Trần Dân Tiên và “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện” ký tên T. Lan, để tự khen mình. Bỉ ổi này, trước khi mất nhà sử học Trần Quốc Vượng tiết lộ trên tạp chí Sông Hương. Chuyện tập thơ “Nhật Ký Trong Tù” viết bằng chữ Hán ký tên Hồ Chí Minh không đáng tin sáng tác của ông ta. Lê Hữu Mục, một Việt kiều ở Mỹ, đã có đơn thư khiếu tố Hồ Chí Minh đạo văn lên UNESCO vì tổ chức này suýt tấn phong Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới. Riêng tôi, sau khi đọc “Nhật Ký Trong Tù, thường tự hỏi tại sao cùng một con người mà làm thơ quốc ngữ dở ẹc, làm thơ tiếng nước người lại khá hay! Và tại sao khi lên án đồng bào mình thông đồng với ngoại xâm, ông ta lại dùng từ Hán gian thay vì Việt gian, một từ thuộc loại nằm lòng mà ông từng nhồi nhét vào sọ thuộc cấp.

Nghe nói nhà văn Đặng Thai Mai là người nắm giữ bí mật khi nhuận sắc tác phẩm này nhưng ông ta không có dũng khí mở miệng vì đã tràn trề ân sủng của lãnh tụ. (*)

(*) Đặng Thai Mai (1902–1984): nhà giáo, nhà văn, nhà phê bình văn học, nguyên bộ trưởng giáo dục, viện trưởng đầu tiên Viện Văn Học Việt Nam.

Chuyện lính Trung Quốc tham chiến ở Việt Nam được ngụy trang thế nào, sẵn xe nhà, người ta đưa tôi tới nghĩa trang chí nguyện quân, nơi những người lính Trung Quốc nằm lại vì không may trong khi làm nhiệm vụ quốc tế. Chuyện hồng quân Liên Xô bắn rơi B52 của Mỹ chứ chẳng phải do Trần Đại Nghĩa độ chế Sam 2 và phòng không Không Quân Việt Nam tác xạ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, những hồng quân viễn chinh năm xưa còn sống tập hợp lại, đã lên tiếng trên mạng internet đòi quyền lợi. Thế mà cuối thập niên 60, Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tố cáo với quốc tế, Hà Nội chối bai bải, gạt luôn cả việc quân đội Bắc Việt có mặt tại miền Nam. (*)

(*) Trần Đại Nghĩa (1913–1997): Thiếu tướng, giáo sư, viện sĩ, kỹ sư quân sự, nhà quản lý khoa học kỹ thuật cấp cao, cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam

Chuyện mười sư đoàn Trung Quốc chờ chật biên giới phía bắc đợi tổng thống Dương Văn Minh ở miền Nam xin cứu viện theo đề nghị của một tướng Pháp sẽ tức khắc tiến chiếm Hà Nội, tạo ra hai nước Việt Nam, một chư hầu Nga, một chư hầu Hoa. [Xem Lịch Sử Đảngxuất bản lần thứ nhất]. Chuyện mười sáu tấn vàng của miền Nam do phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo báo cho đại tá Bùi Tín, sĩ quan bộ đội miền Bắc có mặt tại mặt trận lúc Sài Gòn thất thủ, sau đó chuyển ra Hà Nội được bộ chính trị xẻ thịt như thế nào. Chuyện tổng bí thư Đỗ Mười xuất thân hoạn heo thiến gà man khai lý lịch thợ sơn để được liệt vào giai cấp công nhân, thăng tiến đến ngôi tổng bí thư, là người đào mồ chôn tư sản lại nhận đút lót của tập đoàn tư bản Samsung một tỷ đô. Chuyện Lê Duẩn mượn tay tình báo Pháp giết tướng Nguyễn Bình trên đất Campuchia (*) và suốt đời đố kỵ tài năng với tướng Võ Nguyên Giáp. Từ đó, bắc thang cho Lê Đức Anh sau này so bì võ công và coi khinh tướng Giáp hơn nữa. Chuyện Lê Duẩn vừa đọc báo cáo trong đại hội đảng vừa mang bị cứt trong quần. Ông còn mang bị cứt ấy theo khi đến Moskva vào điện Kremlin. Sao lại có việc trời ơi ấy? Đơn giản, bộ ruột của ông không còn làm chủ được việc ỉa đái nhưng vẫn tham quyền cố vị…

(*) Nguyễn Bình (1906–1951): tên thật là Nguyễn Phương Thảo, năm 1936 ly khai Việt Nam Quốc Dân Đảng, năm 1946 gia nhập đảng Cộng Sản Việt Nam, năm 1948 được phong trung tướng. Trên đường ra Bắc, ông bị Pháp phục kích bắn chết tại huyện Sê San trên đất Campuchia ngày 29 tháng 9 năm 1951.

Ối, chỉ sợ không có bụng mà chứa, không có tai mà nghe!

Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỷ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy. Họ biết lịch sử đang được rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chày như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù, cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù… Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc… tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuống đường biểu tình, họp mít-tinh vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai NgaHoa, tập đoàn phi nhân bản phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh, đòi hỏi tự do dân chủ, nói lên khát vọng chân chính, kêu gọi hòa bình… như quần chúng nhân dân Miền Nam trước đây.

– Em có đến thăm cha không?

Xe chạy được hai phần đường, muốn dẹp bỏ mớ bòng bong trong lòng Mơ, tôi bắt qua một chuyện khác. Cô ta gật đầu, nhưng cổ họng vẫn còn lướng vướng dây mơ rễ má thời sự thủ đô.

– Họ sống thế nào? Tôi hỏi dồn.

– Cha đang chờ nghỉ hưu nhưng dì còn công tác ở bộ quốc phòng! Cô ta nói, hạ thấp kính cửa, lơ đãng nhìn ra ngoài.

– Dạo này ông bà sinh sống thế nào? Tôi lại hỏi.

– Anh khỏi lo, cả hai đều là sĩ quan cao cấp, được cấp đất thành phố, nhà to không thua gì đình làng. Lương bổng một tướng một tá, sống dư dả, đầm ấm, hạnh phúc. Một cô em đã đi làm, cô kia còn học một năm nữa. Chúng nó thuộc loại xinh gái nhưng coi bộ ngôn hạnh không ra gì, chỉ giỏi đua đòi và ăn diện, rất kiêu hãnh làm người Tràng An (*) nhưng rỗng tuếch. Trước khi ra về, em có xin phép ông bà gởi lại cho hai cô chút ít, góp phần vào của hồi môn sau này. (*)

(*) Tràng An: Tên kinh đô cổ của Trung Hoa từ thời nhà Hán, hiện nay ở huyện Trường An tỉnh Thiểm Tây. Hà Nội vốn là kinh đô của Việt Nam nên từ lâu, người Hà Nội tự cho mình là người Tràng An.Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Chẳng sang cũng thể là người Tràng An (ca dao).

Nói đến đó, Mơ lục ví mở máy kỹ thuật số bấm cho tôi xem những tấm hình vừa thu cách nay mấy hôm. Đã cho xe giảm tốc, nhưng tôi không dám tập trung, chỉ liếc láy qua loa cho có.

– Tốt! Tôi vẫn khen cho vợ vui lòng.

Nhưng ngay khi ấy, tôi nhận ra trong bộ dạng của Mơ có cái vẻ ngằn ngặt, dùng dằng.

– Cũng cần nói thêm để anh rõ, dì ấy thuộc loại tham lam, ích kỷ và ngỗ ngược. Được đàng chân lân đàng đầu, thấy em rộng rãi, bà cho như thế vẫn chưa đủ. Trong từng suy nghĩ, từng nói năng, bà chỉ biết vun quén cho cái tổ ấm của mình. Tội cho cha, đôi khi ông lỡ lời nhắc tới mẹ đang côi cút trong Nam, bà vội lồng lộn ghen tuông bóng gió, nặng mặt nặng mày.

Mơ chì chiết, cằn nhằn cẳn nhẳn.

Vào thời điểm này, hình như chuyện nhà của cha tôi đối với cô ta còn bức bối hơn mớ thời sự Hà Nội, quả thật tôi không ngờ và không muốn nghe.

Vì sao vợ bận tâm mà tôi nghễnh ngãng? Có phải vì cục bộ mà tự ái? Có phải vì gia phong mà xấu hổ?

Không! Mơ chỉ thấy ao mà không thấy bùn. Mơ chỉ thấy sông mà không thấy suối. Dù gì tôi cũng đã mấy lần đi Hà Nội, đã từng ngủ nghỉ trong ngôi nhà đúc ba tầng ở đường Trần Phú ngay giữa thủ đô, đã từng nghe tiếng bấc tiếng chì của dì ấy, đã từng ngán ngẩm phong cách quý tử của hai cô em và bạn bè chúng nó. Nhưng tôi không bao giờ dám mở miệng ca thán với ai, đặc biệt đối với vợ và mẹ, còn muốn đào sâu lấp kín hơn nữa.

Một viên chức cao cấp phục vụ ở bộ Giáo Dục gốc miền Nam lấy vợ người Hà Nội có lần cho tôi hay ba mươi năm xã hội chủ nghĩa, đạo đức truyền thống đất Bắc đã bị quét sạch, thay vào đó, một cái gì hợm hĩnh gần như vô hạnh, một cái gì trần trụi gần như vô cảm, một cái gì sống sượng gần như vô sỉ, một cái gì kịch cỡm gần như vô luân. Nhưng tất cả đều được chắp vá, che chắn, sơn phết bằng phù hoa giả hiệu. Trong mọi gia đình, cha con chồng vợ đều cá mè một lứa. Trong mọi trường học, thầy trò bè bạn đều gà vịt một bầy. Trong mọi cơ quan đoàn thể sắp lớp phân cấp bằng quyền lực. Tất cả đều bị chính trị hóa và vật chất hóa.

Tình thương ăn ké hận thù, tình yêu núp bóng quan điểm, tình nghĩa núp bóng giai cấp. Hiện nay người ta chỉ biết lôm côm tích cóp, tranh thủ hơn nhau cái thẻ đảng, nhâng nháo hợm hĩnh chức quyền, lấy mê tín dị đoan làm kim chỉ nam, phục hồi vô tội vạ những hủ tục từ thôn quê theo các ngài vô sản chuyên chính mà lên thành thị…

Mãi lan man, tôi giật mình nhận ra phía trước một đoàn xe tải ngược chiều. Ai như Lê Viết Kỳ ló mặt qua ca-bin đưa tay vẫy chào. Thoáng thấy nhưng tôi vẫn không giảm tốc, tập trung cầm lái và nhân đó buông lơi mọi sự. Có lẽ đã tinh mắt nhận ra chồng không thích lún sâu vào chuyện cửa cha nhà mẹ, đang hăng tiết bất chợt Mơ im phắt, dim mắt như muốn ngủ.

(Hết Chương 65)

Share this post