Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 67

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 67

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 67
– A.42
Pháp luật và mạng nhện. Màn trời và mái ấm. Nước mưa và nước mắt.

Sáng hôm sau, tôi gọi hỏi Cẩm Bình về việc chuyển nhượng và thủ tục xin cấp quyền xử dụng đất đai. Cô ta cho hay đã đến ủy ban phường làm việc với cán bộ địa chính. Họ quanh co dẫn rất nhiều nghị quyết, nhiều thông báo như thể khoe nắm vững đường lối chính sách nhưng không hé lộ hướng dẫn cụ thể nào. Đó là quỷ kế cò cuốc tung hỏa mù trước khi há miệng chờ mồi, tôi lựa lời an ủi cô ta. Chuyện bùng nhùng kiểu này nếu qua tay Mơ thì xong ngay. Tôi vừa suy nghĩ vừa thay áo xống. Nhưng nếu cô ta có mặt ở nhà, liệu mình có dám nhờ? Chắc là không! Tôi cố nhớ cách thức Mơ thường xử lý. Từ đó tôi rà lại một số chi tiết trong hợp đồng sang nhượng đất mình đang nhắm tới. Đúng như Cẩm Bình tiên đoán, họ kêu giá khá rẻ. Và tôi đã mua ngay, đã chuyển đủ tiền. Tại sao mình không dùng một phần sai biệt chênh lệch này để chung chi đấm mõm. Của thiên trả địa, mất gì đâu! Tốt thôi! Đang trên đường đến tổng công ty, tôi ghé nhà Cẩm Bình, thu gom hồ sơ, thống nhất với cô ta một số nội dung khai báo rồi đi ngay. Theo hiến định, đất đai là sở hữu của toàn dân, nghĩa là ai cũng có phần, nghe sướng đến mê! Nhưng liền sau đó lạnh toát mồ hôi trán. Cuộc đất bao đời tổ tiên khai phá bằng mồ hôi và nước mắt, nay nhà nước xã hội chủ nghĩa chỉ cho phép con cháu tạm thời xử dụng, đóng đủ thuế hàng năm, thời hạn thuê bao lâu tùy nóng lạnh thất thường của đảng. Do đó, không ai có quyền bán buôn, dù thực tế vẫn bán buôn, không cấp nào có quyền chứng thực, dù thực tế vẫn chứng thực. Chữ ký và con dấu vẫn có tác dụng và hiệu lực. Sao vậy? Với mê đồ luẩn quẩn, đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, sau một loạt vo tròn bóp méo bằng những thuật ngữ rất kêu, rốt cuộc, giang sơn này là sở hữu của bè lũ chuyên chính. Luật pháp do quốc hội bù nhìn nặn theo ý đồ của đảng, không phải để bảo vệ quyền lợi nhân dân mà nhằm tấn bí nhân dân, không phải để bang giao quốc tế mà nhằm bợm bãi quốc tế. Do cấu trúc như thế, luật pháp ấy có tính năng bùng nhùng. Vài ba luật sư quen biết đã mách nước cho tôi, mớ chữ nghĩa nghễu nghện ấy chẳng khác cái mạng nhện, giỏi ví bắt ruồi muỗi nhưng khi gặp loài bọ to xác thì toạc ngay. Vậy ta còn chờ gì nữa? Chợt nghĩ, tôi tự hỏi, rồi gọi máy hẹn gặp trưởng phòng địa chính thị ở một quán cà phê nhỏ trên đường đến ủy ban.

Tuy không thường xuyên, nhưng chúng tôi cũng từng chè chén với nhau trong những cuộc liên hoan tổng kết ty này sở kia. Chẳng cần úp mở, tôi nói rõ ý muốn rồi khoán trọn gói khá đậm cho anh ta bao gồm sở phí lót đường cả ba cấp, với yêu cầu thời hạn không quá hai tuần. Ban đầu anh ta bảo không dám, chỗ anh em giúp nhau thôi, làm vậy khó coi. Nhưng khi tôi vạch túi nhét xấp tiền vào, anh ta im ngay, còn cẩn thận cài khóa. Và cung cách ứng xử cũng theo đó mà thay đổi. Sau một lúc tập trung xem xét, anh ta trả lại mớ hồ sơ trích lục do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cấp cho chủ cũ.

– Sao vậy? Thấy lạ, tôi hỏi.

– Em chỉ cần mảnh giấy này thôi!

Anh ta nói, cầm lấy bản sao photocopy biên lai nhận tiền của người em vợ chủ đất cho vào cặp rồi ghi tên họ và một số chi tiết về nhân thân người chủ mới.

– Trường hợp này phải vận dụng!

Anh ta nói thêm, nhỉnh mép cười.

– Đường tắt hả? Tôi hỏi nôn nao, dè chừng.

– Vâng! Anh ta nói.

– Lỡ có… làm sao…? Tôi quan ngại.

– Chúng em sẽ hiệp đồng lập biên bản xác nhận hồ sơ trích lục đất và nhà mang tên bà Hồ Thị Cẩm Bình thất lạc vì chiến tranh, có đầy đủ xác minh của ba công dân liên cư liên địa, tổ trưởng dân phố, đại diện Mặt Trận Tổ Quốc, cán bộ địa chính phường, bí thư tổ đảng.

Anh ta cặn kẽ giải thích.

– Biên bản ma? – Tôi lại hỏi.

– Ma nhưng qua được thánh. Anh ta khẳng định.

Tôi thắc mắc sao không theo cách thông thường. Anh ta cho hay, dù gì cũng là công dân đất nước xã hội chủ nghĩa, sau 1975, ông ta không ở lại vào vai nhân dân làm chủ, quay lưng chối bỏ tổ quốc, chạy trốn tít tận bên Canada, may là đảng chưa kịp ra lệnh tịch thu.

– Nghĩa là bán mà không bán, mua mà không mua, cho mà không cho? Tôi hỏi cho chắc.

– Vâng! Anh ta khẳng định.

– Vậy tập hồ sơ này có còn tác dụng gì không?

Tôi hỏi, dằn tay lên mớ giấy tờ trích lục có tấm bản đồ lô đất to bằng nửa mặt bàn. \

– Nếu muốn anh cứ giữ lại, và cả tờ giấy ủy quyền kia! Anh ta căn dặn. – Quan trọng nhất là biên lai nhận tiền của người đại diện! Ngẫm nghĩ một lúc, anh ta nói thêm. – Tất cả chỉ là thứ phòng hờ nhằm đối phó nếu về sau có bất trắc.

Thoáng nghe, tôi ngỡ như mới bắt đầu, nhưng anh ta cười cười, cho các thứ vào cặp, bắt tay từ biệt.

Thú thật, tôi bán tín bán nghi cho đến khi nhận được hai tấm bìa màu đỏ mới toanh, một xác nhận quyền xử dụng bảy trăm mét vuông đất thổ cư, một xác nhận quyền xử dụng gần mười ngàn mét vuông đất nông nghiệp. Tuy chia hai loại để tiết giảm thuế, quyền xử dụng chỉ có một người. Tôi hoàn toàn mãn nguyện.

– Chị còn nhớ cơ ngơi ngày trước không?

Trên đà phấn khởi ấy, buổi sáng chủ nhật tôi đến thăm và hỏi Cẩm Bình.

– Ý cậu muốn gợi lại ngôi nhà ở thôn Vĩ Dạ phải không? Cẩm Bình tỏ vẻ dè dặt.

– Vâng! Tôi nói, trao toàn bộ hồ sơ địa chính, cả cũ và mới, qua tay cô ta.

– Đó là một ngôi nhà rường, nền cao, móng bằng đá tảng, xây cất từ thời cố tôi còn đương chức tư nghiệp Quốc tử giám. ([1]) Nhà không hẳn toàn theo phong cách cổ điển đông phương, có cải biên chút ít, tường bằng gạch, vữa tam hạp, các phòng cách ly, bồn nước, nhà vệ sinh và nhà bếp theo kiểu Tây. (*)

(*) Tư nghiệp Quốc tử giám = Hiệu phó Quốc tử giám. Tế tửu Quốc tử giám = Hiệu trưởng.

Cô ta sơ lược miêu tả, tôi chăm chú tiếp thu. Lâu lâu Cẩm Bình nhíu mày nhớ lại vài chi tiết rồi vạch từng nét đậm lên mặt giấy. Tuy nguệch ngoạc, mô hình ngôi nhà cũng từ từ hình thành. Theo đó, trong tôi dấy lên một khu vườn màu ngọc, đầy đủ cỏ hoa hương sắc. Kìa là lối đi đã hút tôi qua ngõ. Kìa là bức bình phong cổ kính đổ bóng xuống bể cá vàng. Chiều đó, tôi dừng lại khá lâu bên hòn non bộ, mãi ngắm Khương Tử Nha ([2]) mỏi mòn câu cá. Người đầu tiên tôi gặp là Cẩm Bình, chính cô ta đã ân cần chào khách rồi gióng gọi em gái, cứu tôi thoát khỏi ngẩn ngơ rụt rè. Một hành lang rộng thông thoáng, phía trước dẫn đến gian thờ, phía sau thông với thư viện, những chiếc đôn màu da lươn bóng mướt. Đang hồi hộp trông chờ Cẩm Khuê xuất hiện, tôi có một khoảng thời gian lơ ngơ ở thềm đá lam xanh.

Bây giờ lần theo nét vẽ, tôi hạ quyết tâm xây bằng được ngôi nhà theo mô hình còn lưu lại ít nhiều trong đầu hai chúng tôi.

– Chị có nhớ đài vọng nguyệt nằm ở đâu không?

Tôi hỏi khi Cẩm Bình dừng bút.

– Ở đây!  Cô ta nói, cúi xuống mặt giấy. – Nhưng thời buổi bây giờ có ai ngắm trăng nữa đâu!

Cô ta gượng cười nhưng không quên nắn nót một cái nền nhỏ hình lục giác ở mé phải sơ đồ. Đúng! Có một thời người ta rất ghét trăng và chó. Tôi thầm nghĩ. Nhưng trăng vẫn ở trên cao tỏa sáng xuống thế gian và chó chưa bao giờ đổi thay bản tính ghét kẻ gian tà.

Lần thứ hai tôi đến trả lại quà tặng, Cẩm Khuê tiếp tôi ở đó, dưới mái vòm ngói lưu ly cong cong ấy, bên mấy pho truyện Tàu yên nằm trên ngăn kệ, chiếc quạt giấy có đề thơ Hoàng Hạc Lâu của Tô Đông Pha, nắng chiều le lói như tơ vàng vắt ngang qua từng ngọn cau, tình yêu của chúng tôi hé nụ như một đóa hoa quỳnh e ấp sắp sửa vào đêm.

– Chịu thôi, tôi không thể nhớ hết mọi chi tiết, đặc biệt hoa văn và kích cỡ!

Đang lơ mơ, bất chợt nghe Cẩm Bình than, tôi giật mình, nhìn quanh.

– Ủa, mà cậu sao thế?

Đã thấy gì bất thường ở tôi, cô ta buông viết la lên. Tôi nghe nhưng vẫn chưa ra khỏi bơ lơ lạc lõng.

– Chúng ta đang ở đâu nhỉ?

Đang bần thần, tôi ngớ ngẩn hỏi.

– Đêm qua cậu không ngủ phải không?

Cô ta ngoái nhìn chiếc giường sát bên cửa sổ, ý muốn rời đi để tôi được tự ý chợp mắt.

– Có chứ… Tôi lập chập. – Nhưng… Ờ, hình như, tôi vừa trải qua….

Tôi lờ đờ vói rút tờ giấy dưới tay Cẩm Bình, lặng lẽ cho vào cặp.

– Để làm gì..? Cô ta nhìn theo, lấy làm lạ.

– Từ đây…. Tôi vỗ tay lên mặt chiếc cặp. –  …tôi sẽ tái hiện ngôi nhà xa xưa ấy ngay trên đất này.

Tôi bày tỏ, chờ đợi cô ta đồng tình.

– Không nên! Cô ta nói.

– Vì sao? Tôi hơi gắt vì không ngờ cô ta cản ngăn.

– Chỉ tổ lãng phí và hoài công thôi!

Cô ta tỏ vẻ dứt khoát, ánh mắt như hất đổ theo một cái gì ngoài hiện thực.

– Tại sao không? Tôi kiên định.

– Cậu đã quên lời triết gia Héraclite ([3]) rồi hả, cũng là sông ấy nhưng nước đã khác rồi! Cô ta nhắc. (*)

(*) Heraclite, viết theo tiếng Pháp : Người Hy Lạp (khoảng 535–475 TCN). Xuất thân một gia đình quí tộc ở Ionia nhưng ông sống rất nghèo khổ và cô độc. Về cơ bản, ông là một nhà triết học duy vật và được coi là ông tổ của phép biện chứng. Tư tưởng biện chứng của ông rất sâu sắc và cách thức thể hiện hết sức phức tạp và khó hiểu. Vì vậy ông thường được gọi là nhà triết học tối nghĩa. Một trong những danh ngôn bất hủ của ông: “Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”.

– Biết vậy, nhưng có đêm nào tôi không ngược dòng tìm về bến bãi. Tôi thú thật.

– Ngoài xót xa, cậu sẽ không gặp được cái gì.

Cô ta dằn giọng.

–Bếp lửa nào không để lại tro tàn! Tôi khẳng định.

Cô ta mở to đôi mắt nhợt nhạt, cần cổ rung rung. Bỗng dưng tôi cũng luống cuống, biết cô ta sắp ngất mà cứ trơ ra. Khi Cẩm Bình gượng được, tôi chưa kịp nói gì, cô ta đã lui vào trong. Ngồi lại một mình, tôi bàng hoàng như người lạc lối. Có nên kéo dài trao đổi? Nhìn quanh, tôi tự hỏi và không tìm thấy câu trả lời. Quả thật không tiên liệu hết khó khăn quanh chuyện xây dựng ngôi nhà. Tôi đang do dự, Cẩm Bình trở lại, mang theo khay tách và cả bình thủy. Tôi bước đến rước lấy, đặt xuống bàn. Cẩm Bình ngồi vào ghế, thư thả pha trà. Dầu mỗi người một hướng suy nghĩ, tôi vẫn hy vọng ước muốn được chấp nhận. Tôi chỉ ngại cô ta không vui thôi. Và ngôi nhà sẽ lạnh lẽo như phế tích. Tôi thầm nghĩ rồi đâm lo. Hay ta sẽ đưa đến đây một kiến trúc sư, xây cất thế nào tùy sở thích dì cháu Cẩm Bình?

– Xin hỏi và yêu cầu cậu phải thành thật trả lời.

Đến lúc tôi muốn thay đổi ý định, bất ngờ cô ta lên tiếng, cung cách khác hẳn.

– Xin cứ tự nhiên!

Tôi gợi mở, nhưng Cẩm Bình tần ngần, giữ kẽ. Cô ta chậm rãi rót trà ra tách, mời khách như không có gì phải vội. Tôi uống hết tách trà, cô ta vẫn im lặng.

– Chị còn nợ tôi một câu hỏi đấy! Tôi nhắc nhở.

– Tôi chưa lẫn cẫn đâu, chỉ do còn chút lướng vướng chưa biết diễn tả thế nào!

Cô ta nói, đôi mắt mệt mỏi nhìn tôi.

– Không lẽ khó khăn hơn cả lúc đứng trên bục cao bảo vệ luận án? Tôi động viên.

Cô ta nhỉnh cười, pha một tí ngượng nghịu.

– Vậy thì thế này, hiện nay cậu là người rất giàu phải không? Cô ta hỏi.

Tôi có cảm giác đường phóng thẳng như kẻ chỉ và trúng ngay đích.

– Vâng! Tôi khẳng định. Cô ta nhìn vào mắt tôi.

– Xếp hạng trong tỉnh ta, cậu thuộc vị thứ nào?

Cô ta muốn cụ thể. Tôi không ngờ cô ta đòi hỏi thứ rõ hình bén cạnh đến thế. Rát buốt, chói chang mặt mày, tôi muốn đề nghị thay một câu khác, nhưng chợt nghĩ đã lỡ hứa. Lại nữa, tôi không muốn Cẩm Bình coi thường sức chịu đựng của mình.

– Thứ ba! Theo cách đánh giá từ dư luận có lần Mơ học lại, chắc không được chính xác lắm. Tôi nói.

– Thế mà bấy lâu ở bên cậu, sao tôi không nghe thấy khí sắc của hàng phú gia địch quốc nhỉ? Cô ta vừa châm biếm vừa hồ nghi.

–Vì mỗi khi đến đây tôi luôn cảm thấy mình chưa đủ trả nợ! Tôi nói.

Cô ta hiểu tôi nói đến nợ gì, khẽ rùng mình. Như muốn thoát khỏi cảm giác đột biến, cô ta đổi thế ngồi.

– Xin cho biết hai vị thứ ở trên là những ai?

Cô ta hỏi tiếp. Đây là lần đầu từ khi gặp lại, tôi thấy Cẩm Bình để lộ quan tâm đến xã hội, đến thời thế.

– Đương kim bí thư Nguyễn Thanh Cưỡng và phó chủ tịch tỉnh Phí Đu. Sau mấy giây cân nhắc, tôi nói.

– Vậy ông chủ tịch long trời lở đất kia nằm ở đâu?

Cô ta hỏi như vừa nhìn vào một khe hở. Thì ra Phạm Tư khá nổi tiếng, đến như Cẩm Bình, một người đã phó mặc sự đời mà không thể bàng quan.

– Tuy long trời lở đất, ông ta vẫn là ẩn số! Tôi nói.

– Nếu kể tiếp, người thứ tư là ai? Cô ta hỏi, nét mặt có phần thư giãn.

– Nguyễn Thị Là! Tôi nói. Cô ta chớp mắt thỏa mãn như nhà nghiên cứu nắm bắt được cứ liệu.

– Ai dám bảo nhà giáo không thể làm giàu!

Cô ta lại nhỉnh cười.

– Nhưng không phải từ phấn viết mà bằng phấn son. Tôi nói.

– Điều đó đã rõ dưới ánh mặt trời, ai không biết.

Cô ta nói.

– Chị quen bà ta? Tôi hỏi, muốn xua nỗi xấu hổ vừa thoáng hiện trong mắt Cẩm Bình.

– Một người như tôi làm sao có được cơ duyên ấy! Trước đây chỉ nghe người ta chào xáo này nọ, giờ có thể tin được… Cô ta nói. – Còn điều này nữa, nhưng nếu thấy khó xử cậu có thể không trả lời!

Đột ngột, Cẩm Bình mở sang một hướng khác.

– Xin chị cứ mạnh dạn! Tôi tỏ ra sẵn sàng.

– Vì sao cậu giàu? Cô ta hỏi, đơn giản nhưng sắc bén như con dao mổ.

Thao thức này tái khẳng định khi tôi và Cẩm Khuê yêu nhau, cả nhà cô ta biết tôi rất nghèo. Nhưng tôi không để lòng mình thương cảm xuôi về quá khứ. Quả nào mà chẳng có nhân, đã chịu bóc trần, tôi không thể ấm ớ lập lờ bao biện. Nhưng phô bày thế nào để đảm bảo trung thực, để còn mãi mãi tương kính? Tôi thầm nghĩ. Đề tài có thể mở rộng, vì sao người ta giàu? Khổng Tử từng nói đại phú do thiên, và cảnh báo, vi phú bất nhân. Tục ngữ Việt Nam dạy, có mạng làm quan có gan làm giàu. Còn kinh nghiệm dân gian, thánh nhân độ kẻ khù khờ. Chừng đó đã đủ lý giải hoàn cảnh của mình chưa? Tôi thử kiểm chứng. Có thể, nhưng xem ra mông lung như tung hỏa mù. Yêu cầu của Cẩm Bình là cá biệt của một Lê Huy thuở xưa, và đã hóa thân thành Lê Huy Phong đời nay. Vì tôi có cái lý lịch vàng son gối đầu, đảng cho sáp nhập bầy đàn, được ở chung tầu được ăn chung máng. Chợt nhớ bàn tay khôn khéo đưa đẩy của cha, ban đầu tôi định trả lời như thế, nhưng nghĩ lại cũng chưa hẳn. Vì tôi có một người vợ năng nổ nhanh nhạy, không để sổng bất kỳ cơ hội béo bở nào. Kế đến tôi định trả lời như thế, nhưng nghĩ lại cũng chưa hẳn. Vì thiếu thời tôi được trang bị một nền học vấn khá bài bản, hội đủ kiến thức chuẩn mực như khẩu đại pháo đặt đúng hướng cài đúng ly giác. Chợt nhớ những năm ở bậc trung học, đặc biệt những vật vã trầy trật ở đại học, tôi định trả lời, nhưng nghĩ lại cũng chưa hẳn. Trong lúc tôi ra sức rà xét ký ức, Cẩm Bình ngồi lặng, tai mắt tập trung chờ đợi.

– Tôi giàu vì dám nạo bỏ mớ hoang tưởng Karl Marx, Lénine, Staline, Mao Trạch Đông và cả Hồ Chí Minh ra khỏi hộp sọ mình. Tôi giàu vì dám tháo bỏ thề nguyền sáo mòn dưới lá cờ đảng khỏi con tim mình. Tôi giàu vì dám trào ói những giáo điều rẻ tiền khỏi cái ổ bụng mình đã một thời bị thương thực!

Sau cùng, tôi nói. Chừng đó vẫn chưa đủ thuyết phục người nghe. Với cảm giác đắng ngắt cổ họng vì hổ thẹn hoài công ngậm ngải, tôi nói tiếp:

– Ngay khi được trao quyền, tôi giả bộ chấp hành nghị quyết, nhưng kỳ thực âm thầm triển khai thực hiện những gì trước đây tôi kịch liệt phản bác Bửu Dương…

– Vậy kinh tế thị trường định hướng theo xã hội chủ nghĩa cậu bỏ đâu? Cô ta hỏi, khẽ nhướng mày.

– Vất! Tôi khẳng định.

– Thật không? Cô ta không tin.

– Do không đủ can đảm thú nhận sự cáo chung của nền kinh tế cộng sản trên thế giới, cùng đường, bí bức, Đặng Tiểu Bình vơ lấy râu ria của thời tư bản chủ nghĩa sơ khai rồi độ chế, mã hóa nhãn mác. Cái thứ quái thai hổ lốn ấy tuy đảng ta trân trọng nhưng việc gì Lê Huy Phong này lưu giữ cho nặng đầu. Tôi đã có rồi, căn cơ hơn, tròn đầy hơn, tân tiến hơn! Tôi tiết lộ.

Cẩm Bình im lặng, trán hằn nếp nhăn. Đoán biết những gì đang gợn lên đằng sau ánh mắt người nghe, tôi tìm cách diễn đạt ý mình theo cách khác.

– Tám mươi năm qua, kinh tế toàn khối xã hội chủ nghĩa ngưng trệ? Nhưng dưới bạo lực chuyên chính vô sản, không ai dám truy cứu, hoặc ngụy biện, hoặc trấn áp, hoặc giả bộ không biết. Vì sao? Nguyên nhân trì trệ ấy không đợi tới bây giờ mới thấy mà nó ở ngay trước mắt lúc bắt đầu. Tổ sư Karl Marx và các tông đồ kế tục không ngừng lên án tư hữu. Khốn nỗi, tư hữu là một nhân tính cơ bản. Chối bỏ nhân tính là kiềm hãm sự phát triển của nhân loại. Triệt tiêu nhân tính là hủy hoại tính năng tiên thiên của con người. Bửu Dương khẳng định như thế. Khi ngộ ra, tôi liền trả tư hữu chân chính về cho con người để lấy đó làm động lực lao động…

– Ngạo ngược như thế, lãnh đạo chịu để yên cho cậu ư? Cô ta ngắt lời tôi, không giấu nổi kinh ngạc.

– Ngạo ngược đối với những đầu óc ngu si, nhưng rất thuận chiều với lẽ sinh tồn. Do dị ứng thế nào đó, con bệnh không chịu uống thuốc thầy thuốc phải có cách. Chị nhớ cho, người cộng sản là người hành động theo cảm tính, rất yếu bóng vía và cố chấp ngôn từ. Kê đơn, dại gì tôi nêu đích danh tên bệnh tên thuốc. Và dại gì tôi không vơ đại mấy cái nhãn mác thời thượng pha thêm tí đường làm vỏ bọc. Đông Âu sập đổ, Liên Xô tan rã, Đông Đức mất hút vào Tây Đức, Trung Quốc còn quờ quạng huống gì Việt Nam, đang khi thập tử nhất sinh, thế nào rồi cũng phải uống thôi! Tôi khẳng định.

Cẩm Bình tập trung theo dõi nhưng vẫn ngờ ngờ, tôi đành phải hoạch tọet hơn nữa:

– Bản chất cộng sản là ti tiện, thù dai, biển lận và thiển cận. Vì thế chế độ xã hội chủ nghĩa nhan nhản con hoang vô tích sự bao giờ cũng được bố trí vào hàng ngũ lãnh đạo để ngồi chỗ mát, kịp thời tung bùa phép, nhanh nhạy cướp công và tranh thủ miếng ăn. Miệng hô xung phong nhưng tay chân chúng chỉ xung xăng. Miệng giục tiến công nhưng tai mắt chúng chỉ chực chờ đồng đội sơ hở… Rút kinh nghiệm đánh cầu Gia Hội, nay tôi lao về phía trước nhưng không quên cắp chúng theo dựng làm bình phong! Tôi nói.

Từng là người yêu của Bửu Dương, chắc cô ta tin tôi thành thật đến mức nào và hiểu tôi nói gì.

– Ba lớp che chắn, vậy vị trí thứ ba kia cũng chỉ là đối sách? Đột ngột, Cẩm Bình đảo hướng.

– Vâng! Không chỉ có ba mà còn hơn thế nữa. Ma mãnh này không phải quà tặng trí tuệ của Bửu Dương. Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau, nhưng ở đây “thân kỳ tiền nhi thân tử”, tôi học điều đó trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Khôn mà để cho người ta biết mình khôn thì hết khôn!

Lỡ khoe khoang, tôi gượng cười cho bớt xấu hổ.

– Hèn gì người dưới trướng bảo cậu làm kinh tế mà phong thái như lãng tử, làng nhàng, ham vui, hào phóng! Cô ta nói, không biết khen hay chê.

– Với cách nấp bóng đó, tôi đã kịp thời cứu đoàn quân đói của mình khỏi mê hồn trận ở một xó nhỏ của thiên đường mù! Thay vì khiêm nhường chiếu lệ, tôi rốt ráo trưng dẫn thành tích.

– Kể cả cái hợp đồng vu vơ cách nay gần ba năm tôi đã ký với cậu? Và mới đây, hồ sơ nhà đất cậu đang thu xếp nhờ tôi đứng tên? Rồi sắp tới, hợp đồng thuê mướn con bé sống?

Theo đà tung hứng của tôi, cô ta kết hợp, rất khớp khao, rất thẳng thắn, nhưng thống thiết đến thắt nghẹn.

– Không! Đó là một ngoại lệ, là cửa cho quỷ thoát về làm người! Tôi quả quyết.

Cô ta khẽ lắc đầu, tôi phải giãi bày cặn kẽ:

– Chị không thấy ư? Thiếu những khoảnh khắc như huyễn hoặc đó tôi sẽ rơi ngay về địa ngục!

–Thật không? Cô ta vẫn ngờ ngợ.

– Thật hơn cả thực, chỉ tiếc tôi không diễn tả được những gì đang tàng ẩn trong tim mình! Tôi cúi gập, dằn tay lên ngực. – Nhưng xin chị dừng lại cho! Tôi van nài.

Cẩm Bình vẫn dửng dưng, chẳng có biểu hiện nào thương xót. Bên ngoài như có ai che lấp mặt trời, ngôi nhà bỗng dưng tối sầm, không gian bao quanh chúng tôi âm u đến lạ. Khôn ba năm dại một giờ! Đến một lúc, tôi sực tỉnh. Biết đâu mình sai lầm trong ứng xử? Bối rối, loáng choáng, tôi ngơ ngác nhìn quanh.

– Từ nay cậu muốn tạo lập, xây cất thế nào thì tùy, tôi không ngăn cản nữa, dẫu ngôi nhà đó kỳ quặc đến nỗi móng ngược lên trời nóc chui xuống đất!

Bất chợt, Cẩm Bình cất tiếng, âm sắc cao vút như khi người ta thống thiết ước thề, rồi đưa cả hai tay đỡ lấy đầu mình và khóc. Ngây dại ngồi nhìn, tôi quyết chắc những giọt nước mắt đổ xuống hai cánh tay xanh xao kia tuôn ra từ một con tim ứ uất suốt hai mươi năm. Đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy sung sướng trong tiếng khóc. Đây là lần đầu tiên tôi nhận ra cốt tủy của hùng biện là chân thành. Vì thế, đây cũng là lần đầu tiên tôi với tới vị ngọt của khe khắt và nước mắt.

Rồi áng chừng Tường Vi sắp về, tôi kiếu từ.

Khi bước xuống thềm, tôi lại thanh thản rảo quanh khu vườn với hứng khởi bột phát. Tôi sẽ cho xây lại tường rào trước khi xây nhà, giữ lại toàn bộ số cổ thụ, về sau nếu cần sẽ chỉnh lý. Còn ngôi nhà cũ, tăng cường chống đỡ, nhưng cứ để yên như thế cho đến khi hoàn thành cơ ngơi mới, tạm thời dùng chái bếp làm kho chứa vật liệu. Cơm nước của hai dì cháu từ nay do nhà hàng đưa tới. Quá trình xây dựng không nên làm kinh động, tránh gây xáo trộn công việc học hành của Tường Vi. Về phần mình, để giảm thiểu đi lại và lộ mặt không cần thiết, tôi sẽ cho thầu trọn gói. Đương nhiên Cẩm Bình phải đứng tên trong hợp đồng. Có nên giao thầu cho Tô Thoan? Tôi phân vân. Tin Mai Thị Dung, nhưng tôi vẫn ngại từ vợ chồng cô ta mà lan sang Mơ.

Khi mặt trời lên khá cao, tôi lái xe đến tổng công ty, chỉ giải quyết được mấy việc thì tan tầm. Trưa nay còn phải đi dự tiệc dạm hỏi con gái Hoàng Văn Luân, chợt nhớ tôi hối hả về nhà.

Trong lúc thay áo xống, tôi nhận được điện của Hai Đa hẹn gặp tối nay. Chuyện gì đây? Chuẩn bị cơ cấu nhân sự cho kỳ bầu cử hội đồng nhân dân tỉnh khóa tới? Cả tháng nay loa đài phát động khắp các đường phố, nhưng chỉ có bên trong các cơ quan ban ngành âm ỉ tỏa nhiệt, quần chúng nhân dân vẫn phẳng lặng như tờ. Buổi chiều tôi đến tổng công ty, khác với mọi ngày, người ta nhìn tôi với ánh mắt là lạ. Lúc tan tầm, Mai Thị Dung đón tôi ở nhà xe.

– Nghe nói chị nhà đi Mỹ phải không anh?

Cô ta hỏi.

– Du lịch và kết hợp thăm con!

Tôi nói và tự hỏi do đâu mà tin tức lan nhanh. Trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay! Có thể đây là một bài học, rút kinh nghiệm cho những ngày tới.

– Không nên mở rộng… Hãy đánh lạc hướng dư luận! Tôi nói.

– Mã Tho nhờ người khai thác em để xác minh tin này. Cô ta cho hay.

– Chó đã hửi thấy mùi, nhưng không sao, cuối tháng Mơ sẽ về. Từ nay đến ngày ấy thử tìm xem ông ta thăm dò để làm gì.

Trước khi lên xe tôi dặn cô ta.

(Hết Chương 67)

Share this post