Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 86

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 86

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 86
– Z.34
Sao anh không về kêu đòi cơm áo, dân chủ, tự do cho nhân dân?

Hôm sau Trần Kỳ Hải dậy sớm đèo vợ đi chợ rồi trở về cùng tôi xuống phố.

– Thích ngồi đâu? Ra tới đường anh hỏi.

– Cercle Sportif còn không? Tôi muốn thăm lại nơi chúng tôi thường đến mỗi khi có việc quan trọng.

– Còn, nhưng bết lắm! Anh nói.

– Vậy đến cà phê Tổng Hội Sinh Viên ở đường Trương Định? Tôi đề nghị, có ý lê la lần mò kỷ niệm.

– Ở đó giờ là trụ sở Thành Đoàn. Vẫn kinh doanh như cũ, nhưng chị Lài đã bị đuổi! Trần Kỳ Hải nói.

– Vì sao? Tôi hỏi.

– Không ăn cánh!  Anh ta nói.

Chị Lài là cơ sở của chúng tôi. Ngày ấy chị có chồng đi tù ở Phú Quốc. Chúng tôi khó nhọc mới đưa được chị về trụ sở Tổng Hội Sinh Viên, đề nghị chị mở bán cơm và cà phê. Vốn liếng ít ỏi nhưng chị luôn bao bọc, vui vẻ làm chủ nợ sinh viên. Và kỹ sư Trần Kỳ Hải, lâu lâu lại hào phóng, tự động xóa bớt ít nợ cho bạn bè.

– Thôi, tùy anh! Cảm thấy mù mờ trong thành phố mình vắng bóng quá lâu, tôi bán cái.

Trần Kỳ Hải im lặng đạp xe, tôi ngồi sau lơ láo ngang qua những phố xá vắng vẻ, ảm đạm. Cỏ cây vẫn còn đó, nhà cửa vẫn còn đó, người người vẫn còn đó, chợ quán vẫn còn đó, sông nước vẫn còn đó… Nhưng thần hồn như đang ở nơi đâu. Trần Kỳ Hải dừng xe, tôi ngơ ngác nhìn quanh. Qua bảng hiệu, tôi biết đây là một cửa hàng ăn uống quốc doanh tự phục vụ theo kiểu miền Bắc xã hội vhủ nghĩa, cùng đường nhưng nằm về phía đông Dòng Chúa Cứu Thế. Có lẽ mới bồi mới xây, ngày tôi xa Huế doi đất này là một nhỏn đồng nhỏ len sâu vào thành phố.

Chúng tôi sắp hàng mua vé, đi thẳng đến chái bếp nhận thức ăn đồ uống qua ô cửa nhỏ hình bán nguyệt cáu bẩn, tự kiếm chỗ ngồi. Húp xong bát phở lạt lẽo, đang mùa thu ở Huế, phòng chật người đông, mồ hôi hai đứa vã ra như tắm. Không giấy lau, không tăm xỉa, chúng tôi dùng đũa gạt mồm, dùng tay móc răng.

– Anh biết không?… Tự dưng nhớ lại những ngày sống chung với Ma Ngát ở lán trại lâm trường, tôi vừa cười vừa nói. – Ở Tây Nguyên người Bahnar, người Djarai, người Édé, mỗi khi ra rừng ỉa xong thường bẻ que cạo đít như bây giờ chúng ta dùng đũa gạt mồm.

 Trần Kỳ Hải nhíu mày cúi mặt, rồi bảo tôi mang cà phê theo anh ra hiên. Ngoài này thoáng hơn, bớt vẻ sống sượng, mùi lợm mửa, nhưng chói chang nắng.

– Có lẽ đến chết tôi vẫn không nhắm mắt nếu hôm nay anh không chịu hé mở! Lợi dụng cơ cảnh, đối ẩm sinh tình, tôi gợi ý theo cách của Xuân Hoa đầu hôm. Trần Kỳ Hải im lặng, tôi nói tiếp. – Mấu chốt vấn đề ở Phùng Xá, tên gián điệp hai mang, chứ không phải chuyện vớ vẩn vẽ vời giúp trẻ con học tập, tại sao anh không giải trình lãnh đạo để minh oan?

Trần Kỳ Hải tảng lờ, đẩy bao thuốc Tam Đảo về phía tôi, vẫn đăm chiêu. Bực mình, tôi đổi thế ngồi quay mặt ra sân, muốn chứng tỏ với bạn mình hết ham muốn hàn huyên tâm sự. Quá khứ bao giờ cũng đẹp, nhưng sao chúng tôi lại làm khổ nhau bằng những mảng ký ức đớn đau? Tôi cảm thấy buồn, gởi ý nghĩ mình tan theo khói thuốc.

– Mấy năm trước cứ đến ngày hương khói cho Cung, thằng Phổ thằng Hiếu tìm đến nhà mình, cơm không ăn nước không uống, ngồi chưa nóng đít đã giận dỗi bỏ về, riết rồi chúng không tới nữa!

Chừng mươi phút sau, lúc tôi đã hết kiên nhẫn, bất chợt Trần Kỳ Hải lên tiếng.

– Hôm qua Xuân Hoa nhắn, chúng đến là nể bạn lắm đấy. Hờn nhau thế chỉ vì đòi hỏi không được thỏa mãn. Chúng yêu cầu cùng làm đơn đi kiện đảng, nhưng mình không đồng thuận!

Nói đến đó, anh ta ư hử rồi tắc tị luôn, điếu thuốc ngún cháy đến tận mẩu tàn mà không hay.

– Vì sao? Tôi nhắc.

– Mình đã nói đến đâu? Anh ta ngớ ngẩn hỏi.

– Không thuận cùng nhau kiện đảng…Tôi lặp lại.

– Kiện đảng là kiện làm sao? Hai chú ấy chưa từng là đảng viên, chưa bao giờ sinh hoạt đảng nên tưởng bở! Anh ta nhăn nhó.

– Nhưng vì sao mà phải đi kiện?

Bỏ qua chi tiết, tôi níu vào mấu chốt.

– Trận đánh phá cầu Gia Hội thất bại, trên đường tẩu tán, hai chú ấy cứ nghĩ do tôi sơ hở. Hòa bình, anh em gặp nhau, Xuân Hoa vô tình kể về nhị trùng Phùng Xá. Ngay tức khắc, chúng hỏi tôi tự ý liên kết Phùng Xá hay do tổ chức, cơ quan, đoàn thể nào điều động. Tôi nói từ thành ủy, cụ thể do phó bí thư thường trực Hồng Vân. Chúng nói Phùng Xá tội chết đã rõ nhưng bà ấy cũng phải liên đới. Theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, vậy thành ủy và bà Hồng Vân chịu trách nhiệm, chớ sao trút vạ cho chúng ta. Tôi nói phải rồi, nhưng hai chú có biết bà Hồng Vân bây giờ đang giữ trọng trách gì và phu nhân của ai không. Chúng nói không cần biết, còn tôi nói phải cần biết. Con kiến mà kiện củ khoai hả? Dưới gầm trời xã hội chủ nghĩa, sáu mươi năm qua, bao nhiêu sinh linh đồ thán từ Nam chí Bắc, có ai dám kiện Đảng, kiện Công An, kiện Bộ Đội? Cứ cãi lẫy nhau dằng dai như thế, người chết đã không yên mà kẻ sống cũng không ổn! Trần Kỳ Hải than.

Buồn quá! Buồn đến nỗi không nghe cà phê có vị đắng, không nhận ra ba gian cửa hàng bợt bạt nắng ngập tràn hiên. Mặt trời đã lên tới ngọn cây, nhìn quanh chỉ còn hai chúng tôi loi choi giữa ghế bàn lổng chổng, ngoài kia khoảnh sân vắng hoe.

– Thế Phùng Xá có sao không?

Tôi gắng gượng hỏi.

– Hắn vẫn sống nhăn, tươi rói, huân chương, bằng khen treo khắp nhà, lại chức quyền ở địa phương nữa! Nghe nói dạo này như vua một vùng, hắn hét ra lửa, hết lùa bọn tù mới mãn hạn cải tạo về đi khai hoang phục hóa tại Bình Điền, Linh Miêu, lại xua dân đi đào sông dẫn thủy nhập điền ở Ngũ Tây, Chín Hầm! (*)

(*) Ngày nay ai đến Huế, lên thăm tổ đình Thuyền Tôn phải đi dọc theo một bờ sông hoang hóa như khe suối thiên nhiên tạo thành. Kỳ thực, đó là tàn tích của “Sông Hương B” – một kế hoạch thủy lợi tiêu tốn công sức, tiền của và sinh mạng nhân dân vào những năm cuối thập kỷ 70 thế kỷ 20, rút cục hoàn toàn thất bại do trí tuệ cán bộ lãnh đạo thô thiển ngay từ những bước điều tra, khảo sát cơ bản.

Trần Kỳ Hải đứng bật dậy, tôi theo anh đến chỗ gởi xe.

– Ngày trước bọn mình nằm vắt chân lên bụng nhau thức suốt đêm bàn chuyện sơn hà xã tắc, mơ ước hòa bình, dân chủ, tự do, anh có khi nào tưởng tới hòa bình, dân chủ, tự do như thế này không?

Tôi túc tắc hỏi, văng vẳng trong đầu tiếng hát Khánh Ly… “Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh. Chị vỗ tay hoan hô hòa bình. Người vỗ tay cho thêm thù hận. Người vỗ tay xa dần ăn năn”.

– Không! Trần Kỳ Hải nói.

– Còn bây giờ?

Tôi cười không hiểu vì sao mình cười.

– Ai thế nào không biết, bản thân mình nhức nhối hơn cả lúc chiến tranh.

– Vì sao? Tôi lại hỏi.

 – Ngày ấy tuy cận kề gian nguy nhưng đầy ắp yêu thương và hy vọng!

Anh nói, trả tiền và nhận xe từ tay một nhân viên mặc áo quần bộ đội môi tím khô tóc đã hoa râm.

Biết đâu sau cuộc thảm sát năm Mậu Thân ở Huế, Trịnh Công Sơn đã trở nên một nhà tiên tri, và Khánh Ly mang thần khúc ấy báo động xuống thế gian? “Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh. Chị vỗ tay hoan hô hòa bình. Người vỗ tay cho thêm thù hận. Người vỗ tay xa dần ăn năn”. Tôi lừng khừng nối tiếp suy nghĩ chợt đến.

Có lẽ sáng nay chúng tôi là những người rời cửa hàng ăn uống sau cùng. Trên đầu, những tia nắng nhọn hoắt, bức bối. Dưới chân, mặt đất vàng bủng, lao xao lá khô và rác vụn. Tôi ngơ ngẩn nhìn quanh, người ngợm, cỏ cây, nhà cửa xác xơ, dật dờ.

Trần Kỳ Hải kéo tôi ra cổng, đẩy lên yên sau.

Đường lộ gần như vắng bóng ô tô và gắn máy, thưa thớt một ít xe đạp, đa phần đi bộ, lủi thủi như đàn mối mù lòa lần mò kiếm ăn. Cái lỗ đen sâu hút bên bờ lịch sử chôn chặt uẩn khúc phe ta chiến thắng chúng ta chiến bại nay đã được bạch hóa, nhưng chuyện lãnh đạo thí bỏ tôi rồi vớt vát buộc tôi trả ơn bằng máu không biết nhân dịp này có nên mở ra không? Ngồi sau, úp mặt vào lưng Trần Kỳ Hải, tôi tự hỏi.

Ngang qua Dòng Chúa Cứu Thế, phố xá càng vắng vẻ. Vượt cầu Bến Ngự một đoạn, Trần Kỳ Hải dừng lại, giao xe cho tôi.

– Mình còn phải làm một số việc ở cơ quan.

 Anh ta nói, đi qua một cổng sắt lớn, bên trên có khẩu hiệu “Không có gì quí hơn độc lập tự do”. Đã nhàm, tôi vẫn lướt đọc và đoán đây là nơi phụ trách công trình công cộng đô thị, bên trong ngổn ngang những khung sắt, dầm cầu, cần trục, máy trộn hồ.

Từ giã Trần Kỳ Hải, xuống dốc, tôi men theo con đường dọc bờ nam sông An Cựu, chẳng mấy chốc dừng lại trước cổng một phủ đệ hoang tàn. Ngờ ngợ mấy giây, tôi dắt xe thẳng vào. Lối đi quen thuộc khiến tôi mạnh bước. Không có người, tôi tựa xe vào một gốc cây. Mũ nồi cầm tay, tôi lần theo hành lang.

– Ông hỏi ai? Một giọng nữ vang lên, tôi nhìn tới.

Một nữ tu mảnh khảnh đang đứng trên thềm, áo lam quần nâu. Tôi ngờ ngợ.

– Ủa, ai như…? Cô ta há hốc một lúc.

– Có phải Diễm Thúy không? Tôi bước về phía cửa nhà bếp, nơi đã từng lên xuống ăn uống.

– Nếu em không nhầm, anh là Lê Huy?

Cô ta chớp mắt, tháo hẳn vuông khăn màu lam choàng đầu. Trước mắt tôi một ni sư trẻ, nước da xanh mét, đôi mắt khô quầng thâm.

– Vâng, Lê Huy đây! Tôi nói. – Em xuất gia từ bao giờ? Lời tôi nghẹn ngào đứt khúc.

Trong vồn vã, tôi vô cùng kinh ngạc, xót xa, nhưng cố làm mặt tự nhiên.

– Sau khi anh Bửu Dương mất một năm…

Vừa lên tiếng, Diễm Thúy chợt bỏ lửng. Thoáng nghe, tôi khựng cứng cả người.

Cô ta đặt tay lên ngực, cố dằn những thổn thức:

 – Xin lỗi, vẫn biết “bản lai vô nhất vật” [Lục Tổ Huệ Năng], nhưng em chưa thể an nhiên tự tại mỗi khi nhắc tới chuyện nhà!

– Vì sao Bửu Dương mất?

Sau cơn choáng, tôi hỏi, nôn nóng.

– Anh không biết thật ư? Cô ta đau đớn hỏi trở lại.

– Không! Tôi nói.

– Học tập cải tạo về, anh ấy cùng vợ mang con vượt biên, tàu ra chưa tới hải phận quốc tế bị công an biên phòng bắn chìm! Diễm Thúy nói.

Tôi nhìn xuống chân mình, chiếc bóng lắc lay. Kẻ phải chết là tôi đây thì không chết, người đáng sống là anh ấy thì không sống – tôi thầm nghĩ. Tới khi chiếc bóng biến thành cái vòng gai thít chặt lấy chân, tôi không dám cúi nhìn lâu hơn nữa.

– Thế bà cụ?

Nhướng mắt lên, tôi hỏi, hy vọng sắp được gặp lại.

– Chút của tiền dành dụm từ hồi cha em chưa mất, mẹ đã trút hết cho vợ chồng anh ấy dùng làm lộ phí, không ngờ vô tình góp phần đưa con cháu vào sóng gió, bà suy sụp, sau đó ít lâu cũng ra đi!

Cô ta khoát tay mời tôi đi ngược trở lại hành lang.

– Ngôi nhà này là từ đường, em đã giao lại cho dòng họ trước khi lên chùa.

Diễm Thúy giải thích, tôi hiểu vì sao đang đứng ở tiền sảnh cô không mời tôi vào bên trong. Muốn hỏi xem vợ Bửu Dương là ai nhưng cảm thấy bất tiện, tôi xin phép đi quanh quẩn một lúc, ngắm vườn tược, cỏ cây, và dừng lại nhìn vào thư phòng, nơi Bửu Dương đã đưa tôi về ẩn cư sau một lần xuống đường thất bại.

– Bấy lâu anh ở đâu?

Diễm Thúy hỏi khi tôi ra tới giếng nước.

– Về quê, vào Sài Gòn rồi lên Tây Nguyên lập nghiệp! Tôi nói.

– Thế mà Bửu Dương cứ bảo anh chết rồi mỗi khi mẹ hỏi tới! Cô ta nói, lần dây thả gàu vào lòng giếng.

Tôi bùi ngùi im lặng.

– Có lẽ anh ngỡ ngàng khi gặp lại em trong áo tu?

Cô ta thăm dò. Tôi khẽ gật đầu, giành lấy dây gàu.

Diễm Thúy buông tay, nói tiếp.

– Nếu không kịp tìm thấy nhiệm mầu trong Tam Bảo chắc em cũng đã theo mẹ và anh ấy từ lâu. Nay phiền não tạm qua đi, em chỉ còn biết thanh cư hỷ đạo. Còn anh, trong cơn tao loạn vật đổi sao dời, thân tâm có thường an lạc không? Diễm Thúy lo lắng hỏi.

– Cảm ơn, nhờ đã quen sống ngoài gia đình, anh vẫn không sao! Tôi nói.

– Anh biết không…? Cô ta ngập ngừng mấy giây, hình như có chút e thẹn của thời xuân sắc. – Sau ngày anh Dương và mẹ mất, dẫu biết hão huyền nhưng có một dạo em mong những người như anh sống sót trở về… Cô ta lại ngập ngừng.

– Để làm gì? Tôi hỏi.

– Bây giờ mới đúng là lúc xuống đường đấy, kêu đòi cơm áo, dân chủ, tự do cho nhân dân! Cô ta nói.

Không ngờ ngày ấy mình đã gây ấn tượng và còn lưu lại sâu đậm đến thế, tôi bẽ bàng xấu hổ, cảm giác như vừa xù nợ.

 – Anh xin lỗi Diễm Thúy và tất cả những ai đã sống, đã suy nghĩ và mong ước như em. Hãy tha thứ cho anh, đời người đôi khi lực bất tòng tâm!

Tôi nói, muốn phủ phục ôm lấy đôi bàn chân nhỏ nhắn nhăn nheo nứt nẻ để tạ tội.

 – Nam mô A Di Đà Phật! Thậm tai, em lại lỡ lầm lan man hoang ngôn vọng niệm mất rồi!

Thấy tôi bối rối, cô ta nói, chắp hai tay xá lễ.

Đặt gàu nước lên mặt tang giếng, tôi chào tạm biệt Diễm Thúy, lòng dạ rưng rưng.

Gặp gỡ bất ngờ, ra đi vội vã như trốn chạy, cô ta sững sờ nhìn theo, tôi cúi mặt đạp xe qua ngõ, đi tiếp con đường dọc bờ sông.

 Xuống tới cầu An Cựu, bên kia chợ búa, phố xá vắng hoe, nhưng tôi cũng tìm được người hỏi thăm đường về Thanh Thủy. Thì ra Thanh Thủy là ngôi làng nhỏ nổi tiếng nhờ có thắng cảnh Cầu Ngói Thanh Toàn (*) từ xa xưa – xây cất theo kiểu thượng gia hạ kiều, tọa lạc hướng đông nam, cách kinh thành chừng sáu cây số, rất nhiều người biết và từ phố về có đến hai ba ngả đường. Mày mò, tôi chọn cự ly ngắn nhất và thầm tiếc không dám men theo lối cũ có đò Ba Bến, có đình Vân Dương, có làng Vân Thê.

(*) Ca dao: “Ai về cầu ngói Thanh Toàn. Cho em về với một đoàn cho vui. – Ai về cầu ngói Dạ Lê. Cho em về với thăm quê bên chàng!” Làng có cầu ngói, tên lúc khai canh là Thanh Toàn, thuộc tổng Dạ Lê. Về sau chữ Toàn bị kỵ húy tên vua Thiệu Trị – Nguyễn Phúc Toàn, nên đổi Toàn thành Thủy.

(Hết Chương 86)

Share this post