Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 87

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 87

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 87
– Z.35
Đoàn tụ. Vượt lên mất mát, hướng về tương lai.

Tôi vừa đi vừa thăm hỏi. Khoảng mười giờ, tôi rời Lang Xá, vượt Bến Lội, băng ngang một cánh đồng đang mùa lúa chín. Qua được con cầu độc mộc nằm cạnh hồ đình, tôi ngồi nghỉ dưới một tán đa, chờ người thăm hỏi. Một thanh niên dùng que vẽ lên mặt đường sơ đồ làng, giúp tôi xác định phương hướng. Giờ thì tôi nắm chắc địa hình. Thanh Thủy là một rẻo đất trung bộ nhưng cốt cách phong thủy nam bộ, nhìn xa như một cồn nhỏ, ruộng đồng sông nước bao quanh, ngòi lạch chằng chịt, phương tiện vận chuyển phần lớn bằng ghe đò. Tôi lầm lũi đi trong bóng tre, ngang qua những nhà thờ họ cổ kính đổ nát, nhiều bến nước bằng đá tảng chênh vênh lở lói. Tôi để mắt tới những khu vườn rộng nhưng nhà cửa thấp bé tuềnh toàng. Hơn mười năm hòa bình lập lại, vẫn chưa khỏa lấp dấu vết chiến tranh tàn phá và khó nghèo đeo bám. Đương trưa, gió ngoài đồng hây hẩy thổi vào, không khí thoáng mát, những con đường xóm hẹp té, sâu hút.

Đến cuối làng, gặp một ngã ba, tôi dừng lại, bên trái lạ hoắc, bên phải quen quen như đã từng. Sau mấy giây tần ngần, tôi biết vì sao mình có cảm giác ấy. Đây là cảnh quan đã hút vào mắt những lúc bình minh, những buổi hoàng hôn trước khi xuống hầm tôi lén nhìn qua hàng tre gai một cách nuối tiếc. Giờ thì chẳng cần ai chỉ dẫn tôi cũng định được hướng Phường Nam phía nào. Chỉ mươi bước rẽ phải, cảnh vật trở nên thiết thân hơn. Bao năm vật đổi sao dời, đất trời nơi đây vẫn âm thầm lưu tồn kiên định vẻ căn cơ vĩnh hằng. Tôi tới nhà ông Phan Ne lúc mọi người đang ở cả ngoài đồng. Vườn tược vắng vẻ, tôi chỉ gặp một thằng bé đang chơi lò cò ở ngõ.

– Chú tìm ai? Thấy tôi ngấp nghé, nó hỏi, cúi nhặt một mảnh sành liếc lia cho nhảy cà tưng trên mặt nước.

– Ông Phan Ne! Tôi nói.

Vừa nghe, nó ù chạy. Với cảm giác về lại nhà, tôi dắt xe vào sân, thả bộ loanh quanh. Nói chẳng ai tin, tôi không tài nào xác định được vị trí ô cửa hầm bí mật! Trong ngôi nhà này, nơi quen thuộc nhất đối với tôi là chái bếp và xó bồ. Khi tôi quành lại sân, ông Phan Ne nhớn nhác đi vào, thằng nhỏ lúc thúc theo sau.

Thấy tôi ông đứng sững, trố mắt.

– Có thiệt là Lê Huy đó không?

Định tỉnh, ông hỏi. Tôi lao tới ôm lấy con người thấp bè, xương xẩu, râu ria xồm xoàm. Thằng bé ngơ ngác, choạc chân đứng ngẩn tò te. Ông Ne đưa tôi vào nhà, quay lại gọi thằng bé, ghé tai nó nói nhỏ.

– Dạ! Nó hét, vùng chạy như bay.

– Anh ngồi đây đã!

Ông kéo chiếc ghế gỗ long chân tựa vào cột nhà, loay hoay một lúc rồi xách ấm xuống bếp. Tôi đưa mắt quan sát, hơn mười năm chẳng có gì thay đổi, vẫn nền đất, cột tre, mái tranh. Chuồng trâu phía trước đã tháo bỏ, thay vào đó, một cái giàn với những dây bầu úa vàng chằng chịt. Ông Ne đun chưa sôi ấm nước, bà Nậy hớt hải lon ton chạy về.

 – Mô? Mô? Một tay cầm hái, một tay cắp chiếc nón cời, bà hỏi thằng bé đang theo sát bên cạnh. Tôi đứng bật dậy, chưa biết phải làm gì. Bà bước vào nhà, thảy các thứ xuống nền, níu lấy tôi, khóc bù lu bù loa.

– Hòa bình rồi, ai cũng trốn biệt tận mô, chỉ có anh mò về! Bà đẩy tôi ngồi xuống bộ phản ngay giữa gian thờ. Ông Ne ôm bình chạy quanh xóm vay trà.

– Thời buổi cái chi cũng khó khăn!

Thoáng thấy chồng len rào, bà than. Nhìn xuống hai bàn tay không, tôi xấu hổ, tự trách mình vô tâm. Bà Nậy thăm hỏi một lúc, kéo vạt áo lau mặt rồi vào buồng đong gạo.

Ông Ne quay về, sục sạo dưới bàn thờ một lúc, bê ra chiếc khay gỗ sứt mẻ và mấy cái chén nhỏ rạn nứt. Bà Nây đưa nước lên, chuyên vào bình.

– Bấy lâu ni ở mô?

Ông Ne rót trà, ngồi xuống phản đối diện với tôi.

– Cháu về quê Thường Đức, vô Sài Gòn rồi lên Tây Nguyên!

– Bà cụ còn khỏe chớ? Ông hỏi thăm mẹ tôi.

– Dạ! Tôi nói.

– Đã vợ con chi chưa? Ông lại hỏi.

– Dạ chưa! Tôi nói, ông gật gật đầu, vấn thuốc lá.

– Trong nớ có dễ thở không?

Ông hỏi, lè lưỡi liếm chuôi điếu thuốc.

– Chỉ được rau củ dễ kiếm, ngoài ra các thứ còn thắt ngặt hơn cả ngoài mình! Tôi nói.

Ông châm thuốc rít một hơi, uống hớp trà, đẩy cái chén còn lại về phía tôi. Bà Nậy lấp ló ở cửa, ngoắt chồng xuống bếp. Thằng bé ngang qua sân, dừng lại nhìn tôi khá lâu rồi vụt chạy ra ngõ nhập với mấy đứa bạn cùng trang lứa.

Tiếng vịt kêu quang quác từ chái hồi.

 – Anh công tác nhà nước hay ở ngoài?

Ông Ne trở lại, hỏi.

– Dạ, nhà nước, đã vào biên chế. Tôi nói. – Ở ngoài dễ đói lắm! (*)

(*) Biên chế: Biên: ranh giới. Chế: đặt ra phép tắc. “Vào biên chế”: Chọn lựa theo phép tắc quy định cho vào bên trong ranh giới mà xử dụng. Tuyển chọn cho nhập ngạch trật công chức. Ngược lại, “Ra biên chế”: Bị sa thải.

– Tốt! Ông nói, nhưng bộ tịch lướng vướng.

Ngay lúc đó, có tiếng hét từ đường xóm vọng vào rồi thằng bé níu tay kéo Mơ qua ngõ.

– Đó tề! Đó tề! Vô đi! Nó nói.

Cô ta vùng vằng.

Tôi bước xuống hiên, hớn h dang rng hai tay, nhưng Mơ ngoặt vòng về phía giàn bầu lánh mặt, làm như không hay biết nhà đang có khách.

– Mơ! Có anh Huy về thăm!

Áng chừng con gái đã vào tới chái bếp, ông Ne gọi. Không nghe ai lên tiếng. Tôi vào nhà trở lại, ngồi xuống chỗ cũ, không còn bình thản như trước. Ông Ne gọi đến lần thứ ba, Mơ mới cừ rừ bước lên, quần ống thấp ống cao, mặt mày lấm tấm mạt thóc và bông cỏ, thằng bé vẫn theo bên cạnh.

 – Ngồi xuống đây! Ông đứng bật dậy, chỉ xuống chỗ của mình. – Cha có việc phải qua bên nhà thờ họ! Ông nói, vói lấy cái dù đen móc ở vách rồi đi ngay.

Thằng bé đẩy Mơ ngồi xuống, lấm lét nhìn tôi.

– Khỏe không? Sau mấy giây dao động, tôi hỏi.

– Dạ, bình thường thôi!

Mơ nói, vít thằng bé vào lòng.

– Anh thấy em gầy và sạm hơn trước!

Tôi tỏ vẻ lo lắng và thương xót.

– Ngày ấy em chỉ hoạt động ban đêm và ở hầm, cận kề với súng đạn không nắng gió bao lăm. Mơ nói.

 – Lam lũ thế mà có được… an vui… với…?

Tôi tỏ vẻ quan ngại, run giọng.

– Dạ, không có chi!  Cô ta muốn tỏ vẻ dửng dưng nhưng không che mắt được ai.

– Vậy sao cứ ngẩn ngơ ngây dại ra thế? Tôi hỏi.

– Tại em… tại em không ngờ anh về!

Một lúc lâu, Mơ nói, vẫn cúi mặt.

– Hòa bình lập lại, tưởng sung sướng, thanh nhàn, hóa ra ai cũng vất vả! Tôi có ý chia xẻ.

– Vất vả em đã quen từ nhỏ, chừ chỉ có túng thiếu, vì rứa mà quanh năm đầu tắt mặt tối! Mơ nói, khẽ thở dài, co chân lật xả mấy lớp quần bo xắn tận gối.

– Đôi khi nhờ thế mà khỏi nhớ nhung mung lung?

Tôi hỏi, lấp lửng.

– Nhớ chớ! Nhất là lúc đêm về, lúc ốm đau. Nhưng biết ai có còn nhớ mình không!

Mơ nghẹn ngào rồi khóc. Thằng bé ngước mặt lên, đưa tay níu cổ Mơ rồi căm mắt nhìn tôi.

– Có lẽ… con anh… đây?

Nhìn mấy giọt nước mắt lốp bốp trên vai thằng bé, bất chợt tôi hỏi, líu cả lưỡi. Mơ vẫn khóc. Tôi lần tới. Thằng bé vụt nhảy lên phản, quỳ nấp sau lưng Mơ.

– Phải không? Nói đi!

Tôi quay lại đặt tay lên vai cô ta, day mạnh.

– Anh đi chưa đầy tháng, em tắt kinh…

Mơ nói, gạt nước mắt. Tôi dang tay ôm lấy cả hai mẹ con, thằng bé vùng vằng ngã toài lên mặt phản, hai mắt hơ hải nhìn tôi.

– Cha con đó! Mơ nói, day lui vói hụt thằng bé.

– Không phải! Nó nạt lại mẹ, nhảy xuống đất, bỏ chạy. Mơ ngó theo, nhăn nhó cười trong nước mắt.

Ông Ne trở về. Bữa cơm bày trên phản, tuy hơi muộn nhưng khá chất lượng, thịt vịt, nước mắm gừng, canh bầu nấu tôm, cá trê nướng, dưa môn chua, rau thơm sống. Bốn người ngồi vào không thấy thằng bé.

– Cha con đã nhận nhau chưa?

Vừa bưng chén, ông Ne hỏi, dè chừng.

– Dạ rồi! Tôi nói.

Mơ liếc nhìn tôi như kiểm tra độ chân thật.

– Nói đúng, cha nhận con mà con chưa cho!

Tôi phân giải.

 – Cháu còn nhỏ dại, không ngày ni thì ngày mai!

Bà Nậy nói đỡ.

– Con không trách nó, chỉ tại mình! Tôi nói.

– Không tại ai hết! Ông Ne hỷ xả xí xóa.

– Anh còn nhớ em đã nói thế nào khi mình chia tay? Đang xới cơm, Mơ day qua, hỏi khẽ.

– Nhớ nhưng anh không thể tha thứ cho mình!

Tôi nói. Và có lẽ chỉ hai chúng tôi hiểu. Thằng bé trở lại, mang thêm ba đứa bạn cùng lứa, mặt mày lem luốc, rụt rè, lượn lờ ngang sân. Bà Nậy vẫy tay gọi cháu vào. Cả tốp như không nghe thấy.

– Đó! Đó tề! Cái ông ngồi bên mạ tao là cha tao!

Thằng bé kéo bạn lần vào hiên, chỉ trỏ, khoe mẽ.

 – Rứa răng cả làng ni ai cũng nói mạ mi chửa hoang?

Con bé đen nhẻm, hấp háy đôi mắt chua ngoa vặn vẹo bắt bẻ thằng bé. Nghe đến đó, tôi buông chén, bước xuống hiên, cả bốn đứa đồng loạt ù chạy. Tôi theo đến ngõ, chúng đã ở tận đầu đường. Tôi chưa biết làm gì, Mơ đã ra tới, đưa tay ngoắc, thằng bé lừng khừng đi lại. Tôi cúi xuống bế nó, nó không phản đối. Khi tôi đặt lên má một cái hôn, nó đưa tay phủi lia lịa. Mang được thằng bé vào nhà, tôi thấy mình đã với tới một cái gì ngoài tầm. Bà Nậy nhìn cha con chúng tôi, sung sướng cười. Mơ đơm đầy một chén cơm, kèm theo đôi đũa đặt xuống chỗ phản còn trống.

– Mạ mi! Có cha rồi không đói à?

Bà mắng yêu cháu. Tôi đặt thằng bé vào chỗ của tôi, Mơ níu con ngồi xuống. Bữa cơm tiếp tục trở lại, vui hơn. Bỗng dưng tôi không còn thiết ăn uống nữa.

– Cả làng mình nói bậy phải không ngoại?

Cầm lấy chén, thằng bé ngoảnh mặt hỏi ông.

– Ừ, nói bậy!  Ông Ne gật đầu, xác nhận.

Thằng bé ngoác miệng lua cơm, nhồm nhoàm nhai, mặt mũi hí hởn.

Sau bữa ăn, tôi xin phép ông bà cho chúng tôi sống đời vợ chồng. Ông Ne vui vẻ, bình thường, nhưng bà Nậy cứ ủ ê, ngài ngại.

– Rứa họ hàng mần răng?

Quay quắt một lúc, bà miễn cưỡng hỏi chồng.

– Khó khăn chi, biện một mâm cơm, trước cáo tổ tiên sau ra mắt bà con! Ông nói.

– Còn bên phía anh ấy?

Ý bà muốn nói đến gia đình tôi.

– Xa xôi cách trở, ra Vân Thê mời bà Ngâu vô đại diện! Ông đề nghị.

– Người ta mất bảy tám năm rồi ông còn muốn dựng dậy lo việc nhà mình! Bà Nậy nhắc nhở chồng.

 – Ừ hí! Ông Ne giật thót, è hẻm rồi ngồi lặng im.

 Tôi cúi mặt ngậm ngùi.

Đã tới giờ ra đồng, một người đàn bà tay cầm hái ngang qua ngõ bai bải gióng gọi bà Nậy. Ông Ne xua tay, bà ta bương bả vào sân.

– Mi ở nhà, để mạ xin phép ban quản trị hợp tác xã cho! Bà Nậy dặn con gái, vớ chiếc nón cời.

– Thôi khỏi, mạ ơi! Muốn phê, muốn trừ bao nhiêu công điểm mặc họ! Mơ nói.

Bà Nậy vội vã theo bạn gặt đi ngay, thằng bé lao cái chén vào mẹt tre, buông đũa chạy theo.

 – Anh có lúc mô kể cho mạ trong nớ nghe chuyện tụi mình? Đang dọn chén bát, Mơ hỏi.

 – Có! Tôi nói. – Nhưng anh chỉ làm công việc đề phòng, ngăn chận bà mang trầu cau đến nhà người ta.

 – Nghĩa là mạ không đồng ý ngoài ni?

Mơ nghi ngại. Tôi cười.

– Thời loạn, chim trời cá nước, mần răng bà ấy biết tăm hơi mô mà lần! Ông Ne nói đỡ cho tôi.

Mơ thụng mặt, tiếng chén bát loảng xoảng.

– Lúc đó mạ không có ý kiến, nhưng nay biết mình có đứa cháu trai xinh xắn anh tin chắc bà rất mừng. Ai có đổi vàng chắc chi mạ đã khứng chịu! Ghé sát tai Mơ, tôi thủ thỉ, nhưng không chỉ mỗi cô ta nghe.

– Rứa là tốt!

Nói xong, ông Ne thong thả lên nhà, vừa đi vừa lần bấm đốt tay, tôi không rõ ông tính xem xung hợp tuổi tác hay chọn ngày lành tháng tốt. Tôi giúp Mơ đưa các thứ xuống chái bếp và cùng chùi rửa niêu chén.

Lúc ông Ne lim dim mắt, Mơ đưa tôi vào xó bồ, nơi này bây giờ ngăn nắp hơn, có một cái giường tre khá lớn, có giăng dây máng áo quần sát vách, được che chắn bằng tấm màn vải sậm màu loang lổ vết ố thâm. Chúng tôi vạch màn qua bên, nằm dài lên chiếu, dùng gối tre kê cao đầu, tỉ tê chuyện vãn.

Mở đầu, tôi báo cho Mơ hay mình đã đổi tên, làm lại giấy khai sinh.

– Anh bây giờ là Lê Huy Phong. Phong trẻ hơn Huy mấy tuổi nhưng năng động không bằng. Phong khôn ngoan hơn Huy chút ít nhưng chẳng tranh thủ được gì cho bản thân! Tôi nói.

– Mấy năm qua răng anh không viết thư về?

Mơ thắc mắc.

– Sau ngày Sài Gòn thất thủ anh có gởi thư đề tên Phan Thệ nhờ trao lại cho Phan Thị Bống, sao đợi mãi chẳng thấy hồi âm. Có thể thất lạc, có thể hồi đó hệ thống bưu điện không về tới làng xã, có thể ai đó đã nhận và đọc nhưng ngại ngần. Từ đó anh nghĩ em đã có chồng, níu kéo chi nữa, tất cả đã lùi vào dĩ vãng.

Tôi nói, rồi kể lại những ngày sống xa nhà, vừa làm vừa học, đề phòng, cảnh giác, giới hạn giao tiếp, chỉ biết úp mặt vào sách vở. Tới khi tốt nghiệp kỹ sư, lên Tây Nguyên công tác, đời sống vẫn khó khăn, phải bon chen khiến người tôi mụ mẫm, gần như không nghĩ tới gì cao hơn miệng mồm.

– Rứa mà em cứ tưởng…

Nghe đến đó, Mơ tặc lưỡi rồi cười khúc khích. Tôi cũng không quên than thở những khoảnh khắc cô đơn trống vắng nhưng không dám yêu ai. Nghe đến đó, Mơ vùng ngồi dậy, nhìn xuống mặt tôi.

– Có thật không…?

Chống tay xuống chiếu, cô ta hỏi, tôi mặc nhiên bằng cách lặng lờ. Sau cùng tôi bày tỏ vui mừng gặp lại Mơ và có con, mong muốn lần trở về này sẽ mang theo cả hai. Mơ nằm trở lại, vắn tắt kể cho tôi nghe khi biết mình mang thai, đã thú thật với cha mẹ, hạ quyết tâm giữ lấy và nuôi dưỡng con. Chừng nửa năm, huyện gọi về đơn vị, hứa cho đi học y tá, Mơ từ chối, đoạn tuyệt. Sau ngày giải phóng, cô ta muốn đưa con đi tìm cha nhưng vì mù mờ địa chỉ nên chưa dám. Mơ cũng không quên kể lể nhớ nhung đến đổ bệnh nhưng không cảm thấy cô đơn nhờ có thằng bé. Mơ rất mong sống đời vợ chồng dưới một mái nhà riêng nhưng vướng đủ thứ, phải đi xa lìa bỏ mẹ cha, không có công ăn việc làm và nhất là sợ làm khổ chồng thêm nữa.

– Đã tới nước này, không lẽ chúng ta mãi sống cách ly? Ngồi dậy, tôi nói, muốn động viên Mơ mạnh dạn cùng tôi đối mặt với đời.

– Không thể quay lui nhưng lao tới không thiếu chông gai! Mơ nói, thở dài. Nhưng tôi biết tận đáy lòng Mơ đã hạ quyết tâm.

Rút cuốn sổ nhỏ ở túi quần, chúng tôi cùng lên lịch một số viêc cần làm từ nay đến ngày về lại cơ quan – lễ tổ tiên, ra mắt bà con, lên Huế, đi tàu vào Đà Nẵng, rẽ lên Thường Đức xin mẹ thừa nhận, giới thiệu vợ con với họ hàng, trở lại Tây Nguyên, tìm kiếm việc cho vợ.

– Lần này về Huế, anh đã đến thăm chị ấy chưa? Bất ngờ Mơ hỏi, tôi giả bộ không quan tâm. Mơ nói tiếp. – Đừng nghĩ em ghen, cũng đừng nghĩ em dò la.

 – Chưa! Tôi nói và nằm xuống bên Mơ. Không lẽ mình thú thật trong hai ngày đã ba lần tới Đập Đá nhưng chân tay bủn rủn phải quay về? Không lẽ mình thú thật suốt mười năm ân hận nhưng không đủ can đảm vượt lên nguyền rủa? Không lẽ mình thú thật hèn nhát tới nỗi không dám thấy mặt ông bà Hồ giáo sư? Phân vân, bối rối, bứt rứt, tôi lặng im.

Ông Phan Ne đã thức giấc, ngồi hút thuốc trên bộ phản ngay trước gian thờ. Tiếng vịt kêu quang quác vườn sau. Đàn sẻ ríu rít sà xuống hiên kiếm ăn.

– Nghĩa là anh chưa…?

Thấy tôi thin thít tĩnh lặng, Mơ chống tay ngồi dậy, lần nữa nhìn thẳng vào mắt tôi. Phải bày tỏ thế nào đây? Tôi tự hỏi mà chẳng tìm được câu trả lời.

– Có thật anh chưa biết chi? Mơ lặp lại, giọng tức tưởi dằn thúc. Tôi mím môi, ngũng ngẵng.

– Chị ấy chết rồi, chết cùng anh Bửu Dương trong một chuyến vượt biên!

 Mơ nói, nằm xuống, vắt chéo hai tay gác ngang trán. Day sang, tôi thấy cô ta căng mắt nhìn lên mái nhà, môi mấp máy, cổ rung rung.

 – Nghe tin dữ, cha bỏ công đi dọc bãi biển từ cửa Thuận An về đến Tư Hiền, những mong tìm nhặt được xác, nhưng chỉ có sóng bạc đầu và chân trời thăm thẳm. Ông điên dại chửi bới công an biên phòng, chửi luôn bọn du kích. Chính quyền các xã cha ngang qua đòi gô cổ, ông ném vào mặt chúng thẻ đảng viên và các thứ huân huy chương. Một tuần đi không về không, lại bức bối, cha đổ bệnh. Tới hồi khỏi, ông lên phủ giúp bà cụ làm chay đàn cho vợ chồng anh Bửu Dương. Về lại làng, tháng sau cha nhất quyết bắt em viết giúp đơn từ chức phó chủ tịch xã. Mạ can ngăn, ông nói thà ăn cứt một mình mà làm người còn hơn ăn cơm chung với tụi nó mà làm chó!

Có tiếng động ở chái bếp. Ông Phan Ne dùng chổi đuổi gà, che nắng bằng cái quạt mo cau, chậm rãi bước xuống sân. Nghe tiếng ong vù vù đi tìm tổ, tôi cũng nhìn lên mái nhà nhưng không thấy gì, nước mắt lưng tròng.

– Nghĩa tử là nghĩa tận, anh muốn thì hãy khóc đi!

Mơ nói, ém vào tay tôi miếng vải nhỏ vừa dứt từ túi áo. Thằng bé lao về tốc màn nhảy phóc lên giường nằm chen vào giữa, người nức mùi lúa. Nó ngọ ngoạy nới chỗ, rồi từ túi áo nó, bay lên những con châu chấu màu cỏ úa, những con cào cào màu mạ non.

Chiếc bóng ông Phan Ne dật dờ qua ngõ.

– Mạ! Răng mạ khóc?

Nó băn khoăn hỏi mẹ rồi gượng dậy nhìn vào mặt tôi với ánh mắt hậm hực. Chợt thấy nước mắt đầm đìa trên mặt cha, nó tiu nghỉu nằm xuống. Tôi không nghe Mơ nói gì. Có tiếng người lao xao và cả tiếng súc vật về chuồng đâu đó.

– Ai đánh mạ?

Nó lục bục hỏi Mơ, đưa cao một nắm tay.

– Không ai hết! Mơ tảng lờ.

– Con có chịu theo cha lên Tây Nguyên không? Cô ta lái thắc mắc, giận dữ của thằng bé về hướng khác.

– Tây Nguyên ở mô? Nó hỏi, thả rơi nắm tay.

–  Xa lắm! Mơ nói.

– Ông bà ngoại có chịu đi không?

Thằng bé ngấp nghé nhìn về phía chái bếp. Tôi chờ nhưng không nghe Mơ trả lời.

Hai mẹ con ôm lấy nhau, thầm thì.

– Không ai đánh mạ, răng mạ khóc?

Chưa thôi hồ nghi, thằng bé vẫn muốn tra xét.

Tôi lại nhìn lên mái nhà, dim mắt, lắng nghe tiếng con ong đi tìm tổ, nhưng trong vòm não cứ dấy lên một cuộc rượt đuổi, những loạt súng dồn dập, những đỉnh sóng bạc đầu cao ngất gầm gào giữa đại dương.

Tôi muốn anh sống. Nếu có thể, bằng mọi cách tôi sẽ làm cho anh sống. Nhưng chỉ khi nào nhân loại xóa sạch Cộng Sản trên mặt đất oan khiên này, ngày đó dẫu ở thế giới nào, tôi sẽ nhận lời cầu xin tha thứ kia.

Thì ra, là thế. Nhưng oái ăm…

Tôi nghẹn ngào bồi hồi nhớ lại.

(Hết Chương 87)

Share this post