Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 90

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 90

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 90
– Z.38
Trí thức – thành phần lao động mạt hạng trong thang giá xã hội chủ nghĩa.

Nếu tự tìm lấy cái chết nhẹ nhàng cho mình, với tôi việc ấy không khó và đã tới từ lâu.

Phòng khi vỡ kế hoạch, Trần Kỳ Hải đã sang qua tôi một lượng cyanure natri (*) vừa đủ kết thúc một cơ thể sống chừng sáu bảy chục ký.

(*) Cyanure Natri (NaCN) là một hợp chất hóa học cực độc. Khi nuốt phải khoảng 100-200 mg cyanure natri, nạn nhân sẽ mất ý thức trong vòng một phút, đôi khi chỉ 10 giây, rất nhanh chóng dẫn đến tử vong.

Học theo cách ứng xử của nhà văn Nhất Linh, tôi đã ém chất độc ấy vào chiếc răng giả bằng vật liệu có thể nhai nuốt trong nháy mắt. Trước khi hành động bao giờ tôi cũng ý tứ cài cái răng giả vào chỗ khuyết giữa hai răng cấm, kín đáo và khả thi. Chỉ cần cuốn lưỡi ngoéo một cái, tôi sẽ đưa ngay độc dược vào giữa hai hàm, trời có thương cũng không kịp xuống tay ngăn chận. Nhất Linh đã thanh thản ra đi như thế khi được tin Ngô Đình Diệm hạ lệnh xét xử để làm nhục ông. Lần thứ nhất, tôi suýt thực hiện lúc căng thẳng chờ đợi chia tay Cẩm Khuê ở nhà xác bệnh viện Huế. Cũng may cô ấy chịu đến, vô tình đẩy cái chết khỏi người tôi, thay vào đó một chút hy vọng mong manh. Lần thứ hai, lúc bị đưa về ty cảnh sát, bị nhốt riêng. Nhưng tôi chần chừ vì tin tưởng sẽ qua mặt chúng bằng lốt vỏ sinh viên phong trào đấu tranh đô thị. Lần thứ ba, lúc đối cung với Bửu Dương, nếu anh ta xúc phạm, tôi sẽ lấy cái chết để rửa nhục, chứng minh cho thấy tôi không bao giờ chịu khuất phục. Tới khi làm lại khai sinh với tên mới, tôi rút chiếc răng giả ấy khỏi miệng, chôn sâu vào nền cát bát hương bà nội, khấn xin người phù hộ độ trì, bảo bọc đứa cháu vượt qua ngặt nghèo.

Còn vượt biên tìm cách định cư ở nước ngoài, với tôi chuyện ấy không khó khăn chật vật như một số người và diễn ra cũng lâu rồi. Đất nước thống nhất chưa tới năm năm, chú Lê Hoán, người dạy tôi học vỡ lòng, bất ngờ tìm lên Tây Nguyên. Gặp nhau, nhằm ngày nghỉ, tôi đưa ông đến một quán cà phê chui. Không ngờ ông cố thuyết phục tôi theo về Đà Nẵng vượt biên.

– Tàu bè, nhiên liệu, lương thực, hoa tiêu và các khoản phí mướn đường, mua bãi, thuê nhà trú ẩn đã lo xong. Nay thay mặt bầu đoàn, tôi mời Lê Huy vượt biên miễn phí với lý do anh biết nói tiếng Anh, tiếng Pháp. Nhiệm vụ được giao, khi ra tới hải phận quốc tế, may mắn gặp tàu các nước tự do ngang qua anh thay mặt thuyền nhân đạo đạt nguyện vọng, kêu xin cứu vớt!

Ông nói chậm, nhấn nhá từng âm tiết.

– Đất nước là của chung, tổ quốc không riêng ai, chẳng phải tội phạm, việc gì phải trốn chạy?

Nghe xong, tôi thẳng thắn đáp. Ông nói:

 – Nhưng thực tế chúng nó đã tranh lấy tất cả và tùy nghi ban phát, kể cả đem biếu tặng cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

– Những tồi bại và ngang ngược ấy có thể còn phát triển hơn nữa, nhưng cháu chỉ ra đi khi có quyền trở về! Tôi thành thật nói rõ ý mình.

Cách chọn lựa ấy làm ông đau xót và giận dỗi.

 – Anh phải biết mình đang sống ở đâu và với ai chứ? Thấy tôi mê muội, chú gắt gỏng.

– Ngay trên quê hương và dưới sự thống trị của độc tài đồng chủng! Tôi tỉnh táo xác định.

– Liệu có hạnh phúc khi ở đợ ngay trong ngôi nhà của cha mình? Chú chua cay mai mỉa, nhưng tôi thừa nhận ví von khá thâm trầm, xác đáng. Ông nói tiếp:

 – Nhà nước này là công cụ của đảng Cộng Sản, nó được chỉ thị quản lý con người từ cây kim sợi chỉ đến tấm áo rẻo quần, từ bát cơm đến chén nước, từ đú đởn đến đẻ đái, từ hỷ nộ đến ái ố, từ cảm giác đến nghĩ suy, từ ngủ nghê đến cả mơ mòng. Nó muốn cho ai sung sướng thì sung sướng, cho ai cực khổ thì cực khổ, cho ai nhục nhã thì nhục nhã, cho ai thanh cao thì thanh cao…

 – Thế chú có biết ai đã nhen nhúm thứ tư tưởng ấy vào đầu cháu không? Tôi đột ngột chen lời ông.

– Thằng già khốn nạn này! Ông chỉ vào ngực, trừng mắt. – Hồi đó tôi hướng theo cha anh, nghĩ tới một ngày kia gia đình anh chị mình sẽ đoàn tụ, hòa hợp. Cái thiện chí lúc ấy không ngờ là đầu mối cho bất hạnh hôm nay, khiến tôi xốn xang. Dưới gầm trời miền Nam ta, tuyển một tay trí thức nói thạo hai thứ tiếng Anh-Pháp với cái giá vượt biên miễn phí không khó, nhưng chính vì lỗi lầm ấy mà hôm nay thân già này phải lặn lội lên đây để vớt vát. Anh đừng cố chấp, lấy đó bắc bậc làm cao mà hành hạ tôi!

Giọng chú rưng rưng, nhưng tôi không để lộ dao động. Ông run rẩy nói tiếp:

– Một nhà sư có lần thuyết giảng, Phật dạy rằng chúng sinh có ba hạng. Người không học mà biết là thánh nhân, học mà biết là tài nhân, khổ mới biết là phàm nhân. Tôi là phàm nhân, phải kinh qua nóng lạnh mới biết nơi ấm êm, phải kinh qua đắng cay mới biết chỗ ngọt bùi. Do tối dạ lại học ít, tôi phải lần mò, vấp váp mới sáng mắt, còn anh thông thái, chấp nhận sống đời nô lệ ngay trên quê hương mình hử?

Thấy tôi đờ đẫn, ông ngao ngán kêu than.

– Cháu còn mẹ già và người cha lưu lạc chưa biết chết sống ở phương nào! Tôi tung hỏa mù để lẩn tránh.

– Hiếu thảo có trăm cách, anh chớ dạy tôi cái đạo làm con hèn nhát cổ hủ ấy!

Ông đứng phắt dậy, lạnh lùng bắt tay tôi, cúi mặt bước đi. Hai mắt cay xé, tôi không dám theo tiễn. Chú lầm lũi vượt dốc trên đường ra bến xe liên tỉnh.

Không muốn chết, cũng không chịu vượt biên, tôi phải sống trên đất nước mình.

Buổi chiều đưa vợ con về tới xí nghiệp, may mắn Phạm Khánh thương tình dọn sang ở chung với Lê Viết Kỳ. Dạo đó, cả hai đều chưa có vợ, nhường lại cho gia đình tôi căn phòng rộng mười hai mét vuông lợp tôn vách ván. Hôm sau tôi đưa Mơ lên chào thủ trưởng Võ Văn Cang, một cán bộ lâm nghiệp hồi kết, cầu xin ông công ăn việc làm cho vợ. Không may cho tôi, phải lúc ông đang bực dọc vì mấy vụ mất cắp gỗ thành phẩm, cả chục chiếc xe tải chết gí trong rừng vì thiếu phụ tùng, lại thêm một anh kỹ sư nào đó khai man lý lịch vừa bị bên công đoàn phanh phui. Tôi lại đưa vợ qua phòng tổ chức, cố nài xin một chân lao động phổ thông cho Mơ, chẳng hạn phục vụ cấp dưỡng hoặc vệ sinh nhà xưởng. Phó trưởng phòng tổ chức lúc ấy là Võ Kế, cháu họ thủ trưởng Cang, cho hay xe cộ, máy móc thiết bị hư hỏng, chỉ tiêu khai thác giảm. Đầu vào đã thế, kéo theo đầu ra, hơn năm mươi phần trăm công nhân đang ở không hưởng chế độ phụ cấp nhưng xí nghiệp không đủ sức chi trả… Nghe đến đó, tôi vội cám ơn, đưa vợ qua chủ tịch công đoàn Mã Tho đảng viên cải cách, vào Nam sau 30 tháng 4, xin trợ cấp gạo bằng cách được mua theo giá nhà nước. Chủ tịch Mã dành một giờ đồng hồ xem hết mớ giấy tờ cựu tiểu đội trưởng du kích Phan Thị Mơ trình lên, ngẫm nghĩ mười lăm phút, rồi lắc đầu:

 – Không có chính sách!

Mã Tho phán nghểnh mặt xem đồng hồ treo tường.

Tôi lên gặp thủ trưởng Võ Văn Cang lần nữa.

– Anh vi phạm ba khoan, khoan yêu, khoan cưới, khoan đẻ!

Ông nói như đùa theo bài bản từ hồi kháng Pháp. nhưng quay lưng khóa tủ hồ sơ, bảo đang khẩn trương lên tỉnh họp. Tôi biết thủ trưởng chẳng đùa tí nào!

 – Ở Tây Nguyên rừng sâu núi thẳm thiếu gì đất, đã lấy vợ con nhà nông sao không làm nông?

Đêm đó, Kỳ sang chơi mách nước. Mơ nghe cũng phải, hối tôi kiếm ruộng rẫy. Dễ như trở bàn tay, nhưng toàn đất cát hoang hóa ở vùng xa. Mỗi ngày mưa cũng như nắng, mẹ con đèo nhau trên xe đạp đi từ tinh mơ đến khi trời sẩm tối mới về. Được ba tháng, cả hai hóa đen và chắc như gỗ cháy. Trong từng bữa ăn, Mơ không ngớt phấn khởi báo tin sắn bậm cây, khoai mướt lá, bắp tốt cờ. Nhưng được mùa mà thất thu, bọn trộm cắp vặt nổi lên khắp phố chợ buôn làng. Nhờ có đôi hoa tai mẹ cho làm vốn, Mơ quay về chợ buôn chui bán nhủi từ bó rau tới miếng thịt xẻ lậu. Tuy vất vả, trầy trật, ngược xuôi, nhưng tạm thời cứu đói qua ngày.

Vào giai đoạn hậu cải tạo công thương, một buổi sáng thủ trưởng Võ Văn Cang cho gọi tôi lên bảo ngồi vào xe con cùng đi họp hội. Chuyện khó tin nhưng có thật! Tưởng đâu xa, xe qua khỏi khúc ngoặt, ghé một trại lớn trên một bãi đất khá rộng, lấp xấp cây dại và hoa dã quỳ. Tôi theo chân thủ trưởng vào gian phòng nhỏ trong dãy nhà cấp bốn còn hăng mùi vôi hồ. Tuy xây dựng tạm thời nhưng cửa ngõ và một số vật dụng thuộc loại cao cấp. Mọi người ngồi quanh chiếc bàn dài có bình hoa, thuốc điếu, nước khoáng, rượu màu. Qua giới thiệu, tôi biết thành phần khách trung ương có vụ trưởng đặc trách lâm nghiệp, một chuyên gia đầu ngành và hai nhân viên thông dịch. Thành phần khách nước ngoài thuộc một tập đoàn đa quốc gia chuyên xây dựng cơ bản và cung cấp máy móc thiết bị đặc dụng, có phó tổng giám đốc Pierre Fourier, kỹ sư cơ khí Henry Thompson, tiến sĩ kinh tế Werner Von Merkel. Thành phần quan chức địa phương có phó chủ tịch tỉnh Phí Đu, trưởng ty nông lâm Hồ Xuân Nhị, phó giám đốc ngân hàng nhà nước Lưu Vạn Hạnh. Thành phần cơ hữu sở tại có Huỳnh Lộc giám đốc nhà máy tương lai Chế Biến Ván Lạng và năm cán bộ quản lý, ba nam hai nữ. Thành phần nửa khách nửa chủ, hỗ trợ bước đầu, có thủ trưởng Võ Văn Cang và tôi.

Sau phần giới thiệu của một nữ nhân viên thủ chương trình, ngài vụ trưởng phát biểu, phác thảo sơ bộ diện mạo nhà máy, mục đích yêu cầu, công suất, ngày khởi công, ngày hoàn thành, kết thúc bằng gợi mở một số triển vọng. Rồi đến phát biểu của phó tổng giám đốc tập đoàn đa quốc gia Pierre Fourier bằng tiếng Pháp, hai nhân viên của bộ thay nhau thông dịch. Qua đó tôi biết trú sở chính của tập đoàn đóng ở Pháp nhưng rải chi nhánh khắp năm châu, Đức, Hà Lan, Nam Phi, Bờ Biển Ngà, Brazil, Guatemala, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan… Ông ta nhấn mạnh, bây giờ Việt Nam là đối tác thứ 61. Nghe quảng bá cơ ngơi và hoạt vụ mà phát thèm! Tiếp đến tổng giám đốc Huỳnh Lộc phát biểu. Ông ta đồ lại vài ba nội dung mà ngài vụ trưởng gợi mở, nhấn mạnh phần xây dựng cơ bản, nêu một số thuận lợi, đề nghị khắc phục những khó khăn bước đầu. Rồi với lý do từ xa đến nhận nhiệm vụ, chưa nắm vững địa bàn sở tại, ông ta nhường lời cho đồng nghiệp Võ Văn Cang. Không ngờ thủ trưởng của mình có tầm quan trọng đến mức ấy, tôi hết sức hồ hởi và hãnh diện. Nhưng quá trình theo dõi, tiếp thu, tôi không khỏi phập phồng, lo lắng, hồi hộp. Vì sao? Thủ trưởng Võ Văn Cang của tôi là người có tật nói dai, nói chậm, vòng vo, ít ý nhiều lời, càng nghe càng lệch lạc, đôi khi tự mâu thuẫn do tiền hậu bất nhất. Ngày mới tới nhận công tác, tôi ngỡ ngàng bài nhập môn khai tâm quá tải nhưng ráng chịu trận. Về sau tôi tìm được cách vượt thoát họp hội tại chỗ, mặc ông ta cà rịch cà tang trên bục, mình bố trí sẵn một thứ gì đó khi cần thì đọc giải khuây, tốt nhất là báo Nhân Dân, một nghị quyết cấp nào cũng được, hoặc một tập sách viết về Hồ chủ tịch… Có những lá bùa đó, đố anh nào dám phê không tập trung.

Không rõ trước khi phó hội, thủ trưởng Võ Văn Cang có chuẩn bị kỹ nội dung không, về hình thức phô diễn tôi thấy ông ta vẫn nguyên xi lề thói.

– Thưa các đồng chí, thưa các vị khách quý nước ngoài, tôi có mấy ý thế này… 

Ông ta bắt đầu nói. Hai chuyên viên thay nhau thông dịch, nhưng chưa tới ba mươi giây các vị khách ngoại bắt đầu vểnh tai lắc đầu. Khác với ta, Tây nó trực tính, bất chấp quá tam, chưa thông thì truy cho bằng được. Vậy là thủ trưởng Võ Văn Cang của tôi phải lặp đi lặp lại, có đoạn ông phải gân cổ diễn tấu bằng cả tay chân, nhưng lại lún sâu hơn nữa vào cố tật. Hai chuyên viên khổ công chuyển tải chẳng thủng tai mấy vị khách vốn là các nhà khoa học kinh doanh hơn là chính khách ngoại giao. Lần thứ tư yêu cầu lặp lại phát biểu, thủ trưởng Cang đâm bực. Như gà vướng tóc, ông xoay trở tứ phía, không ai cứu ông. Về phần mình, không được chỉ thị rõ ràng tôi không dám manh động. Nhân một cơn ho khan vì sặc nước bọt, ông nghiêng mình móc chiếc khăn trong túi quần và thấy tôi lấp ló phía sau.

 – Anh có hiểu tôi nói gì không? Lau mũi xong, ông ngoái lui hỏi, tôi khẽ gật đầu. Ông tiếp. – Vậy còn chờ gì nữa, anh dịch ngay đi!

Được lệnh, tôi đứng dậy, ruột gan rối bời. Mọi ánh mắt tập trung vào tôi, phòng hội lặng ngắt như tờ. Giờ thì tôi biết vì sao thủ trưởng xách tôi theo. Đúng như Hồ chủ tịch dạy, dụng nhân như dụng mộc. Sau một cái hít thật sâu, thở nhẹ kéo dài, phục hồi bình tĩnh, tôi bắt đầu dịch, cố nắn theo giọng Parisien của Joseph Bonzon, tùy viên tòa lãnh sự Pháp được biệt phái làm giáo viên cho Trung Tâm Văn Hoá Pháp ở Đà Nẵng, không quên nhấn mạnh những thuật ngữ, phương ngữ. Có lẽ ăn điểm là đây. Tôi chỉ mới dịch năm ba ý của thủ trưởng Võ Văn Cang, ông Pierre Fourier rời chỗ, xách chiếc ghế theo đến ngồi cạnh tôi. Có một sự xáo trộn nhưng sớm vãn hồi trật tự. Tôi chững lại, thăm dò.

 – C’est bien! Continuez, s’il vous plait! [Tốt lắm! Xin tiếp tục!]

Ông ta nói phấn khích. Thủ trưởng phỡn mặt, khách nghe lọt tai, không ai cản ngăn, tôi yên tâm dịch tiếp. Hết ý của thủ trưởng, tôi bắt sang ý mình không ngoài chủ đề tiềm năng vô tận của rừng Tây Nguyên mà Võ Văn Cang đã gợi mở. Phước đức ba đời ông bà để lại, suông sẻ cả! Tôi càng nói càng thu hút người nghe.

Giờ giải lao, tổng giám đốc Huỳnh Lộc mời khách sang phòng lễ tân. Tôi biết của ngon vật lạ đang chờ ai ở đó. Nghĩ mình thân phận hèn mọn, tôi lén cắp một gói thuốc thơm đã bóc dở, lánh ra đứng ở hành lang, lơ ngơ phì phà, hết nhìn cỏ nhìn cây lại nhìn mây nhìn núi. Mươi phút sau, phó tổng giám đốc tập đoàn đa quốc gia Pierre Fourier đích thân tìm tôi. Tưởng thủ trưởng Võ Văn Cang cần đến, hóa ra ông Tây chỉ muốn nói chuyện tầm phào nhân lúc nghỉ xả hơi.

Sau khi được dẫn giải chức năng của nhà rông, sinh hoạt lễ hội đâm trâu, thế nào là mọi cà răng căng tai, Pierre Fourier hỏi tôi đã bao giờ đến nước Pháp chưa, tôi buồn bã lắc đầu. Ông ta cho hay tôi nói tiếng Pháp khá chuẩn nhưng là thứ tiếng Pháp sách vở cuối thế kỷ 19, ngày nay ngay ở thủ đô Paris và cả trường học, người ta thích lối nói sàm sỡ, vỉa hè, chợ búa, do đó rất chối tai các vị khoa bảng hàn lâm. Không biết đó là khen hay chê, nhưng tôi thành thật cám ơn.

Ông ta bày tỏ thiện cảm và muốn kết bạn, mời tôi ngoài giờ hành chánh hãy tranh thủ đến chơi. Vì lịch sự xã giao, tôi có hứa nhưng chưa bao giờ dám thực hiện.

Từ đó về sau, mỗi khi đi hội họp bên nhà máy Chế Biến Ván Lạng đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản, thủ trưởng Võ Văn Cang thường cho tôi theo. Ngoài mấy bữa “ăn theo” thuộc hạng cao cấp, tôi còn lấy đó làm vinh hạnh và hy vọng được cất nhắc.

(Hết Chương 90 – Z.32 – Z.38)

Share this post