Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 91

Phiên Bản Tình Yêu (Tiểu Thuyết – Vũ Biện Điền) Chương 91

PHIÊN BẢN TÌNH YÊU
* Tiểu Thuyết VŨ BIỆN ĐIỀN
* Tác phẩm của một nhà văn trong nước
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ, 2012

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Vũ Biện Điền

CHƯƠNG 91
– A.53
Người đi không hẹn ngày về. Người về không biết về đâu.

Buổi chiều, tôi đưa Mơ lên sân bay, lòng dạ nặng trĩu, rối bời. Chắc hẳn tâm tư cô ta cũng u ám như tôi nhưng cứ làm ra vẻ nguội lạnh cứng cỏi. Có lẽ chúng tôi còn nhiều điều cần nói nhưng vừa mở miệng đã nghẽn tắc cổ họng. Lâu lâu tôi bắt gặp ánh mắt Mơ thảng thốt lướt qua rồi tảng lờ tránh né vội vàng. Suốt đường đi, chúng tôi câm lặng như hai kẻ xa lạ. Xe vào tới bãi đỗ, tôi vẫn nuôi hy vọng một sự thay đổi đột ngột đến với vợ mình. Và tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả cho cuộc bứt phá hàn gắn này.

Phép mầu ấy không xuất hiện.

Việc gì đến cứ tuần tự.

Cửa xe mở, Mơ ngồi im lặng đăm đăm nhìn xuống mũi giày, tôi vẫn đứng bên ngoài kiên nhẫn chờ đợi. Nhiều người hối hả qua mặt chúng tôi. Bất chợt Mơ lao ra và sải bước về phía cửa vào nhà ga.

Vậy là hết! Tôi thở dài, mở cốp đưa hành lý theo.

Vợ chồng Mai Thị Dung đi bằng xe gắn máy cũng vừa đến. Tôi biết Dung đi tiễn Mơ nhưng làm như thể đôi bên vô tình gặp nhau ở sân bay.

Không còn lề mề như trước đây, giờ thủ tục lên tàu thông qua khá nhanh. Tôi giúp Mơ gởi hai chiếc va-li rồi lơ ngơ không biết làm gì nữa. Vé lên tàu đã ở trong tay, cô ta đứng sững nhìn tôi. Hành khách nhốn nháo.

Tôi ôm lấy Mơ, đẩy cô ta cách xa khung cửa vào phòng cách ly. Ra tới hành lang, chúng tôi gặp vợ chồng Dung ké né đứng đợi, bộ tịch luống cuống.

– Chị đi thật ư? Dung nghẹn ngào khẽ hỏi.

– Chắc vậy! Tôi nói thay, không muốn cô ta thấy hết lòng mình.

– Bao giờ chị về? Cô ta day qua hỏi riêng Mơ.

– Chưa biết! Cô ta lấp lửng, như trả lời thay ai.

Không như những cuộc đưa tiễn bình thường, bốn người chúng tôi khựng cứng trong mỗi tư thế của mình. Ai cũng muốn bộc bạch, muốn thể hiện một cái gì, nhưng tất cả đều trở nên thừa thãi từ trong ý nghĩ.

Khoảng thời gian vô cùng quý báu lặng lẽ qua đi. Loa phóng thanh vang lên, tôi không nghe rõ nội dung thông báo kể cả bằng tiếng Anh, nhưng ai cũng biết bước sắp tới của hành khách.

– Thôi, chúc chị đi mạnh giỏi, nhớ về sớm! Cho chúng em gởi lời thăm cháu! Mai Thị Dung nói với Mơ.

Tô Thoan đứng cạnh khẽ cúi đầu chào rồi lớ ngớ kéo vợ bước xuống sân, ngơ ngác nhìn lên trời mây.

– Anh muốn gởi theo em một cái hôn tới con!

Tôi nói, giọng run run.

– Thôi, em đi! Mơ nói, như một nhát cắt, rất khẽ.

Tôi im lặng.

Cô ta ôm mặt lao đi rồi mất hút ở cuối hành lang.

Do đề phòng khủng bố, hàng không dân dụng bây giờ có thêm phòng cách ly hành khách với thân nhân. Nán lại cũng chẳng thấy mặt nhau, tôi theo dòng người ra về. Trời ngả hẳn sang chiều, rải rác mấy vệt nắng vàng yếu ớt vắt ngang đầu cây ngọn cỏ. Cánh rừng cuối đường băng đã khuất hẳn vào sương mù. Những ngày đói khổ, chúng tôi sum họp. Tới lúc giàu có, dư ăn thừa để, chúng tôi phân ly! Thật oái ăm nhưng đã hết đường cứu chữa! Nghĩ đến đó, vừa tới bãi xe tôi vụt quay lại mua một tấm vé bương bả lên sân thượng, nơi dành cho thân nhân vớt vát kéo dài cuộc đưa tiễn, hút hớt nhìn xuống sân bay. Ở nơi tràn ngập gió lạnh này, tôi gặp lại vợ chồng Mai Thị Dung. Không hiểu vì sao chúng tôi chỉ chào nhau qua loa. Bên dưới, chiếc Boeing màu xanh dương đã khởi động chờ sẵn trên đường băng, nhấp nháy đèn ở hai cánh và đuôi. Mấy nhân viên phụ trách chuyển hành lý đang đẩy những chiếc gòn về phía nhà kho. Một phi công trong tổ lái mặc sắc phục dân sự mang quân hàm không quân đang đứng nói chuyện với hai nữ tiếp viên ngay dưới chiếc cánh lớn anh ánh màu nhôm. Chọn một bàn nhỏ phía ngoài, tôi gọi ly Brandy lặng lẽ ngồi xuống. Đã gió, lại lên cao, không khí se thắt như kim châm. Vừa mồi xong điếu thuốc, chuông điện thoại di động reo báo, tôi mở máy với tâm trạng bực dọc lúc bận việc bị ai quấy rầy.

– A lô! Ai đấy? Tôi miễn cưỡng lên tiếng.

– Em đây! Giọng Mơ. – A lô, anh đang ở đâu?

– Sân thượng bên trên phòng đợi sân bay!

Tôi nói, le lói chút hy vọng.

– Có khả năng phi vụ không đúng giờ quy định, anh về kẻo lạnh! Mơ nói.

– Em đi thật sao? Tôi hỏi, bàng hoàng, ngớ ngẩn.

Cô ta im lặng.

– Em đi thật sao? Tôi lặp lại.

– Đừng làm khổ nhau thêm nữa! Mơ van xin.

– Vâng! Tôi nói, bẽ bàng đóng máy.

Uống cạn ly rượu, tôi muốn về, nhưng vẫn ngồi tại chỗ. Một tốp đi đưa khá đông vừa lên tới, có lẽ cùng một gia đình, hội đủ già trẻ gái trai. Ráp nối hai chiếc bàn nhỏ liền nhau, họ vui vẻ nhôn nhao ngồi xuống cạnh tôi, một cô gái tíu tít gọi đồ uống. Khi người phục vụ sắp quay lưng tôi kết hợp gọi ly Brandy thứ hai. Chuông điện thoại lại reo.

– A lô! Xin lỗi ai đầu dây? Tôi hỏi.

– Em đây! Lại giọng Mơ – Anh đang ở đâu?

Cô ta hỏi.

– Vẫn ở sân thượng! Tôi nói.

– Em đi! Mơ chào tạm biệt, giọng nức nghẹn.

– Thật ư? Tôi thảng thốt cùng lúc nhận ra tiếng loa trong phòng cách ly lan qua máy.

Đứng bật dậy, tôi lao về phía lan can. Bên dưới ô-văng, hành khách tràn ra sân, lũ lượt tiến về phía chiếc Boeing. Tôi thấy Mơ trong tốp đi đầu, từng bước giật lùi, dáng liêu xiêu, gió bạt vành mũ nhung. Tôi lần tới sát lan can, đưa tay lên. Cô ta dừng lại, lóng nhóng. Bỗng dưng tôi thấy Mơ nhỏ nhắn, tiều tụy đến mức khô héo. Hành khách đã lên hẳn khoang tàu, Mơ vẫn lếch thếch lừng khừng, nghiêng nghiêng, một bàn tay che chắn ngang mày. Tôi dịch sang bên phải một đoạn, ngay tầm mắt cô ta. Khi nhận ra tôi, Mơ đang ở vị trí chân cầu thang, đưa mũ lên vẫy. Từ cửa máy bay một nữ tiếp viên nhìn xuống, ra hiệu, Mơ theo lên nhưng vẫn ngoái nhìn lui. Cánh cửa khép lại, bên dưới, hai nhân viên lao tới rút cầu thang khỏi máy bay. Quanh tôi người ta rộn ràng dời bước. Tiếng động cơ gầm réo. Tôi đứng lặng, ly rượu tuột khỏi tay lúc nào chẳng hay. Máy bay lùi về cuối đường băng rồi quày lại, chớp nháy đèn liên tục. Không còn ai lai vãng bên dưới. Sân bay chìm xuống, vắng vẻ đến heo hút. Trong khoảng đất trời mông lung ấy, con tàu lướt qua mặt tôi, ầm ào lao lên không.

Tôi vẫn đứng im lặng. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhận ra bầu trời như một đại dương với những cuồng lưu xuôi ngược ngút ngợp.

Ra khỏi phi trường, xe chông chênh, người tôi chao lượn, mọi vật bao quanh giần giật chẳng khác đối diện với màn ảnh truyền hình nhiễu sóng. Trên đường về, cỏ cây vun vút ngược chiều, tâm thần bấn loạn, ảo giác gia tăng theo tốc độ khiến tôi cảm tưởng mình đang rơi dần xuống đâu đó. Bóng núi bóng mây chập chờn lúc gần lúc xa. Hoàng hôn nhá nhem nhập nhòa như vụn bạc dát lên cành cây ngọn cỏ. Tiếng máy sôi đều vô tình dìu tôi vào trạng thái mơ mơ màng màng.

Không muốn về nhà, cũng chẳng biết đi đâu, vẫn hướng ấy tôi lủi sâu vào hoang vắng. Tới khi tưởng đến Mơ đang lưng lửng trên cao, còn mình miệt mài lầm lũi dưới đất, chúng tôi mỗi phút một xa, tôi không cầm lái được nữa, mắt mờ tay run. Mang tâm trạng người bị bỏ lại, tôi cảm thấy thật sự bơ vơ. Ngày đưa con đi, tôi vừa lo vừa vui, giờ tiễn vợ, vừa buồn vừa hận. Tại sao mình không níu kéo van xin? Tại sao mình không nhờ người phân giải? Tôi hỏi tôi, nhưng đáp lại chỉ có tự thân dằn vặt. Không thể! Tất cả như xuôi chảy, có lẽ đã tới lúc bất kỳ nỗ lực nào cũng bằng thừa. Cuộc sống của mỗi người hóa ra tự mình gài bẫy mình. Liên đã mưu sự như phải mưu sự, Mơ đã chọn lựa như phải chọn lựa, tôi đã chịu đựng như phải chịu đựng. Tâm trí phiêu linh, tôi như người mộng du. Những chiếc xe cùng chiều bóp còi inh ỏi, những chiếc xe ngược chiều ầm ào lao qua. Lâu lâu những con gà rừng đi ăn về muộn băng ngang trước mũi xe khiến tôi chợt tỉnh chợt mê. Từng khoảnh khắc giật nảy mình ấy, tôi đưa mắt nhìn trời. Không có gì ngoài cái vòm xam xám bên trên núi đồi đen sẫm, và một đàn chim như những tàn than lơ lửng theo mây.

Nghĩ đến bữa cơm chiều ở quán xá lạnh lẽo một mình, tôi muốn gọi Hoàng Văn Luân. Nhưng khi dãy số vừa hiện lên, tôi lại đóng máy, bần thần, hoang mang. Dù là bạn bè thân thiết, nhưng hay hớm gì sì sụp thở than chuyện vợ con bỏ đi! Lại mở máy, tôi định gọi Tường Vi. Cũng chẳng hay hớm gì đưa người cửa trước rước người cửa sau. Lại nữa, đang giữa mùa thi, chắc chi cô bé chịu rời nhà. Nhưng quả thật lúc này tôi cần một ai đó, khẩn cấp như ngoi ngóp giữa cuồng lưu, mong muốn với bắt một chiếc phao. Hai ly Brandy ở sân bay như chọc thèm. “Dục phá thành sầu tu dụng tửu”. Chợt nhớ lời khuyên người xưa, tôi vói chai Hennessy trong ngăn cốp phía trước tu một hơi rồi đốt một điếu thuốc, chậm rãi phì phà.

Rượu và thuốc vẫn không giúp tôi cất đi nặng nề u uẩn. Tôi muốn buông thả cho vơi bớt nhức nhối trong lòng, hoặc vùi mình đâu đó để trốn chạy khốn quẫn bủa vây. Giá mà có một nơi ồn ào náo loạn, Rock Rap, Pop Pap càng hay! Giá mà có một cuộc lăn lóc chè chén, bạn thù cũng tốt! Những tụ điểm nhảy nhót không đủ chung chi cho giám đốc Tạ Thao đã trôi về đâu?

Tôi mù mờ nhớ lại. Ôi Thế Vinh Thế Nhục, ôi Năm Lôi Năm Kéo, ôi Triệu Sung Triệu Vả, ôi Diêu Sểnh Diêu Sơ, ôi Hà Lùn Hà Cao, từ vụ nổ ở phòng Vip số 1 nhà hàng Adam, các người đã cạch mặt ta như cùi hủi rồi sao? Đợi đấy! Thử xem bọn mày hỉnh mũi được bao lâu. Chiều lòng vợ, ta không muốn ngồi vào chiếc ghế ấy, nhưng hãy nhớ Phong này vẫn là chỗ tin cậy của Nguyễn Thanh Cưỡng, của Hai Đa.

Đang khi dật dờ hậm hực như thế, xe vào nội thị, tôi thấy một đám đông lố nhố trên cầu. Trườn lên khỏi mố, tôi giảm tốc, nhấn còi inh ỏi nhưng không ai nhường đường. Gió lạnh tỏa dọc theo sông. Phía tây bắc chân trời tím ngắt.

– Chuyện gì thế? Tôi ló mặt qua cửa hỏi một thanh niên đang len lỏi tìm lối tắt ngang.

– Chết đuối. Anh ta nói rồi bương tới thành cầu, gập mình nhìn xuống.

– Nạn nhân là ai? Tôi hỏi một người khác.

– Chưa xác định được, có thể là thằng cha Bắc Kỳ bán vé số! Ông ta nói rồi bỏ đi.

Thoáng nghe, tôi nghĩ tới Đỗ Minh nhưng ngay sau đó lại muốn quên đi. Người đông, ba hồi còi vẫn không nhích được tấc nào, tôi dừng xe, nhìn trước ngó sau. Vùng không gian cầu được hai hàng đèn chiếu sáng, ken chặt người với người. Xen lẫn trong đám đầu lố nhố, tôi thấy mấy chiếc mũ công an trờ lui trờ tới. Rồi một chiếc xe bệnh viện từ nội thị lao ra, chớp đèn liên tục, rống riết còi vẫn không lên được cầu. Hai người mặc đồng phục blouse trắng mang băng ca chạy bộ tìm lối xuống mé sông.

– Ca-nô đâu không thấy? Có ai hỏi khống.

– Mùa này nước chảy chậm, cần gì!

Một người cãi lại.

– Hà bá chê đời (*) hay sao mà hắn ta phải xuống nhởn nhơ tận dưới đó! Một bà già ngang qua lép nhép.

(*) Chê đời: cách nói lái “chơi đề” (chơi số đề): Trò cờ bạc (một chung bảy mươi) theo hai số đuôi hoặc hai số đầu (tùy theo người mua) lô trúng nhỏ nhất của từng đợt xổ số kiến thiết do nhà nước tổ chức. Những người bán vé số cho nhà nước thường kết hợp làm ăn bằng cách ghi thêm số đề cho cho nhà chủ và ăn hoa hồng phần trăm tính theo số tiền đặt đề của con bạc. Loại hình đánh bạc bất hợp pháp này rất thịnh hành sau năm 1975, nhiều người say mê đến phá sản, nhà nước có lệnh cấm, nhưng pháp lập tệ sinh, bọn công an kinh tế thường lấy cớ đó nhũng nhiễu bòn rút.

– Đã đưa được lên bờ chưa? Tôi hỏi.

– Có ai vớt đâu mà đưa! Lạ! Nửa ngày qua cái xác cứ quanh quẩn chân cầu! Bà ta hờn oán vu vơ.

– Kỳ vậy? Ai đó lên tiếng nghi ngờ.

– Có lẽ chết oan! Bà ta nói.

Muốn tìm hiểu thêm nhưng một hồi còi ô tô phía sau hối thúc, tôi đành phải cho xe nhích tới. Một tay dân phòng múa dùi cui mở đường.

Vượt khỏi đám đông một đoạn, tôi dừng xe ngay trước cổng một nhà thờ, gọi cho Võ Kế. Tôi báo cho anh ta hay có một người đi bán vé số chết đuối, xác đang bềnh bồng dưới gầm cầu, rồi hỏi sơ tình hình mấy ngày qua ở tổng công ty.

Tôi ngại không dám nói hết ý, nhưng Võ Kế cũng hiểu. Sau khi nghe, anh ta hứa sẽ đến đó xem sao, tôi cúp máy rồi cho xe đi tiếp.

Bên ngoài bóng tối đã xuống khắp nơi, bầu trời sâu hút, thưa thớt ánh sao.

(Hết Chương 91)

Share this post