Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 11

Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 11

SÀI GÒN, NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ
* Bút Ký Văn Quang
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (Virginia, Hoa Kỳ, 2020)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục “Search this site” (Tìm kiếm) và gõ tên tác giả: Văn Quang.

CHƯƠNG 11
 
PHẠM HUẤN PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG NĂM XƯA ĐÃ RA ĐI

Sáng Thứ Bảy ở Việt Nam tức chiều Thứ Sáu 21-10- 2005 ở Santa Ana, tôi được điện thoại của người em dâu ở Mỹ báo tin: Phạm Huấn vừa “về với Chúa”.

Từ mấy năm nay bạn bè đã cho tôi biết về bệnh tình Phạm Huấn. Anh nằm tại “nhà an dưỡng” ở San Jose trong tình trạng rất đáng buồn. Các bạn tôi không ai không mủi lòng. Trong thời gian đó tôi chỉ được coi một tấm hình anh ngồi ngơ ngẩn trên hàng ghế đầu khi trình làng tập thơ của Hoàng Anh Tuấn ngay trong căn phòng khách của “nhà an dưỡng”. Tôi không thể hình dung con người đẹp trai, hào hoa phong nhã ngày nào, bây giờ… “thảm” đến thế. Chứng bệnh mất trí nhớ hành hạ anh và cả các người thân của anh thường có mặt bên giường bệnh.

PHẠM HUẤN CHỈ ĐÓNG MỘT PHIM DUY NHẤT

Hình ảnh hôm nay, khiến tôi càng nhớ tới khi anh đóng phim Ngàn Năm Mây Bay do Thái Lai sản xuất dựa trên một truyện dài của tôi xuất bản năm 1962. Anh chỉ đóng cuốn phim duy nhất này, giống như một cuộc vui chơi. Sau đó, có người mời đóng phim, anh đều từ chối.

Ngay trong phim Chân Trời Tím, tôi gợi ý anh vào vai một sĩ quan bảnh bao, học giỏi, con nhà giàu bên cạnh vai chính Hùng Cường và Kim Vui, nhưng anh lắc đầu: “Tao thấy nhân vật đó hơi… kỳ”. Rồi vai nào anh cũng chê, dù đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc đôi khi rủ rê anh “đóng một vai cho vui cũng như Hoàng Vĩnh Lộc từng rủ rê Duyên Anh đóng vai bệnh nhân tại một bệnh viện và Hà Huyền Chi vào vai “người vác quan tài” trong phim Người Tình Không Chân Dung. Gọi là đóng phim chơi cho vui, có tên tuổi của những nhà văn, nhà báo cho thêm xôm tụ.

Trong phạm vi đứng đắn của một tác phẩm, vẫn có những “trò nghịch ngầm”, vui chơi của anh chị em nghệ sĩ mà chắc khán giả cũng biết.

Nhưng nếu có ai gọi Phạm Huấn là tài tử, anh cho là người ta “chọc giận” mình.

Bởi theo tôi, anh thích là một phóng viên chiến trường, một nhà văn, hơn bất cứ thứ gì khác. Đời trai trẻ của Phạm Huấn sôi nổi nhưng không “giang hồ đến cả hoa kia cỏ này” như bạn già Phan Nghị. Một ngày của anh là công việc và lãng du, tình yêu và quân ngũ, những thứ gắn liền nhau như từ trong máu.

Tôi không nhớ rõ chúng tôi quen nhau từ năm nào, nhưng gặp nhau là thân ngay cũng gần nửa thế kỷ rồi.

Nhưng từ 30 năm nay, tôi không một lần gặp lại Phạm Huấn. Nhớ lại lần đầu gặp anh, khoảng đầu thập niên 60, khi anh về phục vụ Phòng Báo Chí, Cục Tâm Lý Chiến. Khi ấy anh vừa từ giã chức đại đội trưởng Ðại Ðội Văn Nghệ Vùng 1, đồn trú ở Quảng Ngãi. Có lẽ vì yêu cuộc đời phóng viên nên anh xin về làm báo quân đội.

Anh nói với tôi: “Sẵn sàng đi bất cứ chiến trường nào, chứ không muốn ngồi bàn giấy làm biên tập viên”.

CUỘC ĐỜI PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG

Ngay thời gian đầu còn đang “học việc”, anh đã tỏ ra xông xáo và mộng ước là được đi học nhảy dù để khi cần có thể nhảy xuống những chiến trường sôi động trong lửa đạn, cũng như Dương Phục và một số những anh phóng viên trẻ khác đang muốn nâng cao tay nghề của mình. Trên hết vẫn phải nói đến ý chí của họ, là một người lính sống chết với chiến trường như các chiến binh ngoài trận tuyến. Một lần nữa Phạm Huấn hoàn thành được tâm nguyện. Từ đó anh thường đi cùng một ê-kíp phóng viên có mặt ở hầu hết chiến trường miền Nam. Một ê-kíp phóng viên Quân Ðội thường có đủ mặt: phóng viên nhiếp ảnh, phóng viên quay phim truyền hình, phóng viên báo chí, phóng viên phát thanh. Anh nào có cấp bậc lớn hơn làm trưởng toán, bất kể anh ở chuyên môn nào.

Những năm sau này, chiến trường trải rộng ở khắp các quân khu nên chúng tôi phải lập nhiều toán thường trực mà không thể đáp ứng hết nhu cầu. Thế nên có các phóng viên vừa ở Quảng Trị về đã phải khăn gói lên ngay Pleiku, Kontum, hoặc chui vào Bình Long… Hầu như họ không còn ngày nghỉ, nhất là mỗi lần đi công tác đều thiếu tiền. Theo nguyên tắc hồi đó, để tiết kiệm ngân sách và cũng để phòng ngừa sự lợi dụng có thể xảy ra, quân đội chỉ cho lãnh công tác phí tối đa 15 ngày trong một tháng, dù anh đi công tác cả tháng. Ðiều đó tất nhiên gây thiệt thòi cho những phóng viên suốt tháng lăn lộn khắp “bốn vùng chiến thuật”. Tôi nhắc lại điều này để thấy chúng ta đã phải tiết kiệm ra sao và sự ngăn ngừa tệ nạn “tiêu cực” ráo riết mức nào. Không phải cứ ở trong quân đội là đầy đủ như một số người đã tưởng tượng.

Mỗi lần đi công tác là một lần lo tiền, có các phóng viên phải vay cào vay cấu vài ba chục ngàn làm tiền lộ phí. Ngay cả cái xe ra phi trường, đôi khi cũng không có, nhờ bạn đèo xe gắn máy hoặc vẫy taxi đi cho kịp giờ. Ðến đơn vị nào rảnh rỗi thì có thể được ăn cùng ở cùng, nhưng nếu gặp khi đơn vị nằm ở bìa rừng trong vòng trận mạc thì… ráng tự xoay xở. Anh trưởng toán lại lo sốt vó. Điện thoại về cho “trung ương” cũng chưa chắc đã lo nổi, có khi còn bị móc ngay vào một việc khác: “Nhà hết phóng viên rồi, nhân tiện các anh ở Huế, đi luôn vào Quảng Ngãi làm phóng sự ở quận… vừa có tin nóng bỏng”. Thế là lại bay vào Quảng Ngãi và còn “tiện thể” đi những đâu nữa thì “hạ hồi phân giải”. Miễn là mỗi buổi tối có một bài tường thuật cho phòng tin tức.

Phải cố gắng lắm, chúng tôi mới kiếm ra một chút ngân quỹ “đền bù” cho thiệt thòi của các anh phóng viên trẻ “rách hơn cái mền rách”. Nói theo chữ nghĩa bây giờ ở đây là “bồi dưỡng” đúng nghĩa, chứ không phải “bồi dưỡng” theo kiểu hối lộ, chia chác hàng triệu đô-la. Tuy vậy số tiền bồi dưỡng chỉ có sau khi đi công tác về và với giới hạn nhất định, mỗi anh cầm tạm vài chục ngàn, chỉ bằng tiền vài bữa cơm ngoài quán “Bà Cả Ðọi”.

ANH CHÀNG ĐÀO HOA QUÁ KHIẾN CON GÁI… SỢ

Sau những giây phút căng thẳng đó, Phạm Huấn lại trở về với Sài Gòn và “ áo phong trần, khoác áo hào hoa”. Nhìn anh lúc đó chẳng khác một thư sinh công tử, không ai nghĩ anh là phóng viên chiến trường vừa thoát chết trên Ðại Lộ Kinh Hoàng cùng với Vũ Thanh Thủy, Dương Phục.

Phạm Huấn và tôi có quá nhiều kỷ niệm những năm tháng này. Từ công việc tại mấy tờ báo Quân Ðội đến cuộc sống ngoài đời. Chiếc xe Taurus 15 như con trâu già của tôi đã được Phạm Huấn lái đi chơi cùng khá nhiều người đẹp.

Trẻ tuổi, đẹp trai, độc thân, đấu ngọt như mía lùi, chơi mạt chược xuất sắc, nên luôn vây quanh Huấn là những người đẹp. Tất nhiên đi chơi với Huấn thì phải chấp nhận phần thiệt vẫn về tôi.

Có vài ca sĩ loại “sao đang lên” của Sài Gòn lúc ấy đã từng là “bạn gái” của Huấn. Tôi xin phép không kể tên vì tôn trọng cuộc sống của từng người hiện còn đang ở đây hay ở nước ngoài. Tôi dùng chữ “bạn gái” vì thật ra đối với Huấn và ngay cả những người đẹp đó, dường như chỉ là một tình cảm đậm đà trên mức bình thường một chút. Câu mà Huấn thường đùa cợt với bạn bè là “vương vấn, vẩn vơ, vật vờ” cho lên hương cuộc đời. Cũng đẹp lắm chứ. Có thể hiểu được tâm trạng của những người đẹp khá nổi danh này. Thích đấy, vui đấy nhưng lại sợ. Một anh chàng hào hoa và đào hoa quá thường làm các cô gái e dè, “phòng thủ cẩn mật” hơn là đối với những vị thương gia thường tỏ ra hiền lành, dễ thương và dễ bảo hơn. Phạm Huấn cũng thế, đối với người nổi tiếng,  anh “chờn  vờn”  chứ  không  thể  hay không dám “đặt cược cuộc đời lâu dài” mình vào đấy.

MỘT NGOẠI LỆ

Nhưng có một người đẹp nữ sinh được mệnh danh là “hoa khôi Gia Long” thì khá nặng tình với anh chàng phóng viên hào hoa và đào hoa này. Không biết bao nhiêu lần, chiếc xe của tôi đã đưa hai người đi trên “xa lộ không đèn”. Và chẳng lần nào Huấn quên kể cho tôi nghe về những chuyện xảy ra. Chuyện của họ vẫn ở trong vòng lễ giáo và cho tôi cảm tưởng như họ có thiện chí muốn “xây dựng cùng nhau”.

Hoa khôi Gia Long cũng không hề giấu giếm tôi về những điều này. Bởi hoa khôi quen biết tôi từ trước khi Phạm Huấn về làm ở Cục Tâm Lý Chiến. Cô hay vào phòng báo chí như một độc giả, một “người em gái hậu phương” gửi tâm tình ra tiền tuyến. Cô cũng viết vài ba bài cho báo Quân Đội quanh các đề tài “thời thượng” đó.

Sau này, khi Phạm Huấn không còn ở bên cô nữa, cô thường có những bài thơ đăng rải rác trên vài tờ tuần báo ở Sài Gòn, nhất là ở tờ Văn Nghệ Tiền Phong. Không ngần ngại, cô gọi thẳng tên “H. ơi, còn nhớ ngày nào…

Sau năm 75, tại Sài Gòn, tôi lại có dịp gặp lại hoa khôi Gia Long. Lúc này đã con cái đùm đề, song vẫn còn đẹp. Không nhắc tới chuyện cũ, nhưng qua ánh mắt, lại thấy đầy đủ hình ảnh người xưa. Dường như người em trai của cô sắp đặt buổi gặp gỡ này cũng chỉ vì điều ấy.

TAO LẤY VỢ!

Ðó là những ngày cậu trai trẻ Phạm Huấn khởi nghiệp làm phóng viên và cũng bắt đầu viết văn. Anh có nhiều phóng sự và truyện ngắn đăng trên các báo. Rồi đến khi có một khóa học về báo chí ở Mỹ, Huấn mải đi làm phóng sự không có tên theo học. Anh về đến phòng, biết được tin này, anh lao lên phòng cục trưởng Tâm Lý Chiến xin vào gặp. Hồi đó là thiếu tướng Trần Tử Oai, một vị tướng khét tiếng nghiêm khắc từ thời còn làm Chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Chánh văn phòng không dám đường đột cho vào, Huấn đạp cửa vào và thản nhiên trình bày ý muốn được đi học lớp này. Không hiểu sao, tướng Trần Tử Oai lại “chịu đèn” anh chàng phóng viên ngang ngạnh này. Sau vài câu hỏi, ông ký giấy ngay cho Huấn đi học Mỹ. Việc đó khiến cả phòng báo chí chúng tôi ngạc nhiên.

Tôi không còn nhớ rõ khóa học sẽ kéo dài trong bao lâu, nhưng có một điều tôi nhớ rất rõ là sau khóa học về đến Sài Gòn, Huấn tuyên bố với anh em trong phòng “tao lấy vợ”. Và anh kể lại giai thoại anh gặp cô bé xinh xinh, đeo kính cận đang theo học ở Mỹ như thế nào. Giản dị đến không ngờ, họ chơi bài với nhau cho qua thì giờ rồi yêu nhau lúc nào không biết. Chàng về nước trước, nàng xin phép gia đình về sau. Ðám cưới của hai người, tôi không dự được vì theo học lớp tham mưu ở Ðà Lạt. Tôi gặp họ trong tuần trăng mật ở một ngôi biệt thự rất đẹp ở cuối con đường lối vào Trường Chỉ Huy Tham Mưu.

Kể từ đó, gia đình Phạm Huấn với tôi càng thân hơn. Những năm sau, không tuần nào chúng tôi không ngồi xoa với nhau cho đến những ngày cuối tháng 4-1975. Nhà tôi chỉ có một bàn xoa mạt chược mà bạn bè thì quá đông, nên anh nào cũng phải nhanh chân đến đúng giờ. Ðiệp, Tuấn, Thủy, Phong, Tài, Hiến, Lệ Thu, Nguyễn Đình Toàn, Hồng Dương là những chân thường trực. Về khuya thì đôi khi các ông đi chơi chán mới kéo đến.

Hùng Sùi, Hoan Sứt… ngồi một đống, đấu láo tưng bừng. Các ông này quen chơi lớn, coi bàn chúng tôi là loại “còm”, ăn thua vài ba ngàn, nên chỉ đến “chầu rìa, hút thuốc vặt”, xem mấy tay mơ đánh loạng quạng cho đỡ buồn. Thỉnh thoảng Phạm Huấn cũng đến, nhưng chỉ với mục đích ngồi coi ké Ðiệp Đui vui chơi.

MỘT PHÓNG SỰ ĐỂ ĐỜI

Khi tôi chuyển sang phục vụ ở Ðài Quân Ðội, Huấn vẫn ở lại Phòng Báo Chí. Một thời anh làm tờ Diều Hâu cùng Nguyễn Ðạt Thịnh, chúng tôi quá bận rộn nên ít có thì giờ gặp nhau. Vài năm sau, Huấn sang làm ở Ủy Ban Quân Sự 4 Bên ở Tân Sơn Nhất. Thời gian đó, khoảng tháng 2-1973, Phạm Huấn cùng Phan Nhật Nam, Dương Phục đi theo phái đoàn ra Hà Nội làm phóng sự trao trả tù binh đợt 2 diễn ra tại phi trường Gia Lâm. Thời chiến tranh đó, Hà Nội đối với người miền Nam hoàn toàn xa lạ, nên được dịp ra Hà Nội là chuyện hầu như không thể xảy ra. Tất nhiên tôi phải đón sẵn Huấn để “vồ” về làm tường thuật trực tiếp trên Ðài Quân Ðội. Nhân tối đó có chương trình Nghệ Sĩ Với Chiến Sĩ đang thu thanh, Phạm Huấn tường thuật toàn bộ chuyến đi Hà Nội ngay trong chương trình này.

Một phóng sự rất đặc sắc được thính giả đón nhận nồng nhiệt khiến chúng tôi phải phát lại vài ba lần nữa. Ngay sau đó cuốn sách Một Ngày Tại Hà Nội (1973) của Phạm Huấn được xuất bản kèm theo các hình ảnh sống động mà trên làn sóng điện phát thanh không thể có được. Ðó là cuốn sách đầu tay của “nhà báo Phạm Huấn” và là cuốn sách duy nhất mà tôi được đọc. Sau này anh sang định cư ở Mỹ viết thêm những cuốn khác rất tiếc tôi không có để đọc như Triệt Thoái Cao Nguyên (1987), Những Trận Đánh Lớn Trước Khi Mất Miền Nam (1988), Ðiện Biên Phủ 54 – Ban Mê Thuột 75 (1988), Trận Hạ Lào (1990).

MỘT NGƯỜI ĐÁNG ĐƯỢC BẠN BÈ TRI ÂN

Năm sau cùng trong quân ngũ, Phạm Huấn lại nổi máu giang hồ, lên Pleiku làm sĩ quan báo chí Quân Đoàn 2. Anh đi cùng tướng Phú đến giờ phút cuối cùng. Anh điện thoại cho tôi khi “rút” về Nha Trang, diễn tả cảnh “loạn lạc hoang tàn” của thành phố này khi mọi người rời bỏ nó ra đi. Vài ngày sau, anh mới về đến Sài Gòn, khi gia đình anh đã theo tàu ra Phú Quốc. Anh tất tả vào gặp tôi ở Ðài Quân Ðội rồi lắc đầu: “Tao cuốn gói”.

Anh ra đi lúc nào và bằng cách gì, tôi không biết. Cuộc sống sau này bên xứ người ra sao tôi cũng chỉ biết rất lơ mơ. Ðiều làm tôi ngạc nhiên chính là sự tan vỡ của gia đình anh. Cho đến khi Phạm Hùng trở lại Việt Nam cùng Phạm Long đến thăm, tôi mới tin đó là sự thật. Nhưng mọi chuyện cũ qua rồi, những vết thương rồi sẽ lành. Khi biết tin anh nằm ở bệnh viện, bên anh có chị Hà chăm sóc tận tình, tôi thành thật mừng cho anh. Có lẽ người chịu đựng với anh nhiều nhất trong những ngày tháng vừa qua chính là chị. Ít có người phụ nữ nào chịu đựng giỏi như thế. Tôi chưa quen chị, nhưng là bạn bè của Huấn, tôi phải tri ân một người phụ nữ như chị.

Nhiều người bạn Phạm Huấn cũng kể với tôi điều này, và bây giờ chắc họ cũng muốn nói với chị Hà như vậy.

Từ hôm được tin Phạm Huấn ra đi (1937-2005) đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều thư từ, điện thoại của các bạn ở khắp nơi. Trong số đó, tôi nhận được e-mail của Ðiệp báo tin vừa sang San Jose và cậu trưởng nam Phạm Huy Phong cũng có mặt từ trước hôm anh ra đi.

Gia đình Phạm Hậu, người anh cả của anh, đã hai lần phải đổi vé máy bay vì cứ tưởng anh đi sớm hơn nữa. Cuộc chơi của người phóng viên quân đội đến bây giờ mới kết thúc trong nỗi nhớ thương của mọi người.

Nhưng với 5 tác phẩm của anh để lại, thế hệ sau này sẽ có dịp nhìn được rõ hơn những điều sống động, xác thật đã và đang xảy ra trong lịch sử dân tộc mình. Làm được điều này, cuộc sống của anh đã thật sự có ý nghĩa.

Không phải ai cũng làm được như thế.

Người phóng viên chiến trường năm xưa đã ra đi, nhưng những gì để lại vẫn còn sống mãi.

Sài Gòn 24-10-2005

(Hết Chương 11)

Share this post