Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 12

Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 12

SÀI GÒN, NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ
* Bút Ký Văn Quang
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (Virginia, Hoa Kỳ, 2020)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục “Search this site” (Tìm kiếm) và gõ tên tác giả: Văn Quang.

CHƯƠNG 12
 HUY QUANG VŨ ÐỨC VINH – HAI CON NGƯỜI, MỘT NHÂN CÁCH LỚN 

Tôi muốn nói rõ hơn, trong Vũ Ðức Vinh có hai con người phân định rất rõ. Một Huy Quang nhà văn và một Vũ Ðức Vinh người lính. Nhưng hai con người đó hòa nhập là một nhân cách lớn. Với tư cách nào cũng được, ông giao thiệp với mọi người hồn nhiên, chân thật bằng chính những gì từ tư cách đĩnh đạc của ông. Ai nhìn ông bằng con mắt nào cũng thế thôi. Ðiều mà mọi người nhận được sau khi giao thiệp với ông là sự tin tưởng cùng với lòng cảm mến đi thẳng vào cuộc sống của mình. Tôi cho đó là điều khó khăn nhất cho mỗi người trong cuộc sống đầy bất trắc này. Tạo được niềm tin cho người đối diện không phải dễ, tìm được sự quý trọng còn khó khăn hơn.

Ông Vinh không bao giờ muốn tạo ra điều đó mà do chính cách đối xử thẳng thắn, bình thản của ông làm nên tất cả.

Từ ngày biết ông đến nay, hơn 50 năm, tôi chưa từng nghe ai phàn nàn điều gì về ông, kể cả những người khó tính nhất, dù là cấp trên hay cấp dưới của ông, dù bạn bè quen biết thân sơ. Cho nên có thể kết luận chính xác rằng ông “được lòng” mọi người quanh ông. Và “được lòng” cùng với sự quý trọng chân tình.

Cái tin sét đánh đến với bạn bè khi ông bất tỉnh nằm trong bệnh viện, ai cũng bàng hoàng cùng với nỗi thương xót ngơ ngẩn. Như một nỗi oan khiên, như một chuyện cực kỳ phi lý, như một tai họa mà tạo hóa không dành cho riêng ai, kể cả những người đáng được sống nhất. Bởi mới chỉ vài ngày trước, ông còn tỉnh táo, bình tĩnh viết cho bạn bè những dòng thản nhiên như đi chơi đâu xa: “Tạm thời ngưng thư từ vài ngày đến khi bình phục”.

Lá thư cuối cùng ông viết cho tôi ngày 19-10-2005.

NỖI ĐAU KHÔN CÙNG

Sau đó, ngày 22-10, khi được tin Phạm Huấn mất ở San Jose, ông còn ngồi viết bản Phân Ưu với gia đình Phạm Huấn gửi cho chúng tôi đọc. Ông cẩn thận ghi tên từng người bạn, yêu cầu tôi bổ túc hoặc thêm tên những ai ông không nhớ hết. Tính ông vẫn cẩn thận, chuẩn mực như từ bao lâu nay. Những bản Phân Ưu đăng trên nhiều báo kèm theo hoặc không kèm với bài viết của tôi chính do ông Vinh viết. Tôi rất tôn trọng ông, nên không thêm bớt từ một dấu phẩy. Bài viết vừa được gửi đi thì ông vào bệnh viện. Ông rất tin vào ngày bình phục trở lại với gia đình, với bạn bè. Nhưng rồi ông không bao giờ trở lại.

Vì ở xa, tôi không biết rõ hết chi tiết bệnh tình của ông, chỉ xin kết luận: đó là một trường hợp rất hy hữu, ít khi xảy ra. Trong một ngàn trường hợp chỉ xảy ra một lần. Những ngày gần đây, ông nằm đó, thở bình oxy, hôn mê… và không còn cách cứu vãn. Chúng tôi ở Việt Nam chỉ biết có thế. Rồi bất ngờ nhận được e mail của các con ông “Xin lỗi các bác, các cô chú, mẹ cháu phải chăm sóc cho bố cháu ở bệnh viện nên không nhận được điện thoại, xin gửi qua e-mail cho chúng cháu”.

Dưới ký tên 4 người con của ông: Vũ Thanh Tùng, Vũ Tế Thế, Vũ Thị Phương Thảo, Vũ Thị Phượng Tần.

Thế nên chúng tôi chỉ còn biết lặng lẽ theo dõi qua những bạn bè ở gần đó. Ba tuần trước, hai anh Vũ Quang Ninh và Thái Thủy từ Cali bay lên Seattle thăm ông cho biết rõ hơn tình trạng của ông lúc đó. Ông nhận biết hai người bạn thân, nhưng chỉ trả lời bằng những dòng nước mắt. Cơ thể ông chỉ còn đôi mắt và ngón chân chuyển động. Hình dung ra cảnh này, tôi thật đau xót. Gia đình quanh ông, nào vợ con, nào cháu nội, cháu ngoại… chầu chực, chăm sóc ông, ông có biết không? Những người thân của ông đau đớn như thế nào trong cảnh này? Rút bình dưỡng khí ra thì không nỡ, để lại thì không đành… Và những ngày đau đớn đó cứ phải kéo dài. Ôi, lấy gì diễn tả được tình cảnh ngập đầy thương xót đó?

Ông Vinh ơi, bạn bè ông ở gần hay ở xa, đã và đang nhớ thương ông vô cùng.

Tôi hy vọng, từ trong một cõi xa xăm, ông hiểu được tấm lòng của mọi người đối với ông như thế nào. Chúng tôi muốn nói lời chia buồn cùng gia đình ông, nhưng lời lẽ nào cũng là chưa đủ và có lẽ chính chúng tôi cũng cần được chia buồn. Ông đã là một phần trong cuộc sống của bạn bè rồi, thiếu vắng ông từ nay sẽ là một khoảng trống lớn lao, không gì bù đắp được. Tôi ngồi ở Sài Gòn, một nơi chúng ta đã từng để lại suốt một thời trai trẻ để ôn lại những kỷ niệm xưa.

HUY QUANG VÀ “LỬA LỰU”

Khi mới từ vùng loạn lạc Thái Bình, “dinh tê” vào Hải Phòng, khoảng 1951-1952, lúc đó tôi mới vào tuổi 20. Khi ấy, bắt đầu võ vẽ viết văn làm thơ gửi bài lai cảo cho mấy tờ báo ở Hà Nội như Tia Sáng, Cải Tạo, Tiếng Dân. Hồi đó cả thành phố Hải Phòng không có nổi một tờ báo. Ðược đăng bài ở báo Hà Nội là sướng lắm rồi.

Bỗng một hôm ra cửa hàng sách, coi cọp được một tờ giai phẩm mùa hè có tên là Lửa Lựu của các đàn anh ở Hà Nội, trong đó tôi đọc bài của Huy Quang. Cái tên gần giống tên tôi làm tôi chú ý. Bài của Huy Quang được nhà văn Ngọc Giao giới thiệu rất nổi và quả tình bài viết khá hay. Tôi không nhớ đây có phải là sáng tác đầu tay của Huy Quang hay không. Từ đó, tôi và độc giả biết đến “danh” ông. Lúc đó cánh “văn nghệ mầm non” ở Hải Phòng như tôi, coi các nhà văn ở Hà Nội là những “tên tuổi lớn”. Huy Quang được chúng tôi xếp ở “chiếu trên” cùng những nhà văn, nhà thơ như Ðinh Hùng, Ngọc Giao, Thượng Sĩ, Nguyễn Minh Lang, Sao Mai… Và, giai phẩm Lửa Lựu vẫn là tác phẩm được chúng tôi trân trọng nhất. Bởi từ cách trình bày đến bài vở được chọn lọc khá kỹ, nhất là cái tên tượng trưng cho mùa hè, Lửa Lựu, quả là rất khéo và rất… văn chương.

Vài tháng sau, khi có những nhà văn nhà thơ ở Hà Nội, chắc cũng chỉ thuộc hàng “văn nghệ mầm non” như tôi, để mắt đến, xuống thành phố Cảng chơi ghé thăm, cứ tưởng như tôi đã đặt một “cẳng” vào làng văn nghệ. Nhưng tôi vẫn chưa được gặp nhà văn Huy Quang trong nhóm Lửa Lựu. Tôi hỏi thăm thì được biết, nhà văn này được động viên vào khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị vào tháng 10-1951, lúc đó học ở Nam Ðịnh. Tôi càng ngưỡng mộ ông hơn vì trong thời gian này ông đã có hai tác phẩm do nhà xuất bản Công Lực, Hà Nội ấn hành là Hai Mái Tóc Xanh và truyện dài Ðôi Ngả. Văn chương ông “lả lướt”, lãng mạn, tình tứ như khuynh hướng của những nhà văn Hà Nội thời ấy.

SỰ NGHIỆP NỔI TRỘI CỦA MỘT NHÀ VĂN VÀ NGƯỜI CÔNG CHỨC

Nghiệp chiến binh làm gián đoạn một thời gian khá lâu, vài năm sau ông viết rất ít. Năm 1956, khi tôi từ Nha Trang về Nha Chiến Tranh Tâm Lý, làm việc ở Phòng Báo Chí thì Huy Quang làm việc ở đài phát thanh Quân Ðội. Lúc đó Đài Quân Đội còn nằm “tênh hênh” ở đường Hồng Thập Tự. Cửa ngõ không cần lính gác, cứ ra vô tự nhiên. Tôi gặp trung úy Vũ Ðức Vinh trong một buổi họp. Ông đi cùng Vũ Quang Ninh, trưởng đài. Ông Vinh là phó trưởng phòng kiêm trưởng ban biên tập của đài này. Sau buổi họp tôi mới biết Vũ Ðức Vinh chính là nhà văn Huy Quang mà tôi ngưỡng mộ từ lâu. Chúng tôi đưa nhau xuống uống cà phê ở câu lạc bộ bé tí nằm phía sau trụ sở Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Thời ấy hầu như cả Sài Gòn đều nghe chương trình Tao Ðàn do Ðinh Hùng phụ trách cùng Thái Thủy, Thanh Nam… trong đó có cả nhà văn Huy Quang.

Sau đó, tôi có nhiều dịp sang Đài Quân Đội liên hệ công việc. Lúc đó tôi mới biết bên cạnh Huy Quang còn có một loạt nghệ sĩ tên tuổi lẫy lừng khác nữa nằm trong ban Nhạc của Ðài: Canh Thân, Ngọc Bích, Ðan Thọ, Văn Phụng, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Anh Ngọc, Vũ Huân, Vũ Huyến… đều làm việc chung với Huy Quang. Những cái tên mà từ hồi mới lớn tôi đã nghe, đã bi bô tập hát những bài mà bây giờ ở Sài Gòn vẫn hát, và được coi là những sáng tác bất hủ. Bây giờ dòng nhạc đó vẫn được kể là “dòng nhạc sang trọng” của người yêu nhạc Việt Nam. Dù năm tháng và những biển dâu đã có khi muốn vùi lấp, bởi nó được kể là loại “nhạc vàng ủy mị” cần phải chôn như chôn “bọn tư sản lạc hậu…” Nhưng giá trị của tác phẩm đâu phải ở toan tính của con người. Tự nó sống mãi với thời gian. Không ai và không gì có thể vùi chôn được. Huy Quang chính là người đã góp phần rất lớn vào việc giữ gìn và bảo vệ các giá trị ấy của dân tộc.

Vài năm sau, khi Nguyễn Xuân Vinh tức nhà văn Toàn Phong về làm tham mưu trưởng rồi lên chức Tư lệnh Không Quân, Vũ Ðức Vinh được điều động sang làm trưởng khối Chiến Tranh Chính Trị ở Bộ Tư Lệnh Không Quân. Thời gian này, ông cùng vài người bạn trong Bộ Tư Lệnh khai sinh tờ Lý Tưởng, một tờ nguyệt san rất đặc trưng của những “người lính hào hoa” Không Quân, song không quên tranh đấu cho lý tưởng công bằng xã hội. Lý tưởng của ông từng chứng tỏ trong những bài diễn văn, ông soạn cho cấp trên của mình đi tham dự những hội nghị lớn. Cụ thể như trong hội nghị thượng đỉnh ở Honolulu, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã ca ngợi bài diễn văn do ông viết.

Cũng thời kỳ này, trong trận Không Quân Việt Nam bay ra “hỏi thăm sức khỏe Ðồng Hới”, Vũ Ðức Vinh cũng leo lên máy bay oanh tạc ngồi bên cạnh chàng phi công Lưu Kim Cương — tự Cương khểnh — bay lượn trên bầu trời miền Bắc, xông pha giữa lưới lửa phòng không, bất chấp hiểm nguy.

NGƯỜI THẦM LẶNG CÓ CÔNG ĐẦU VỚI QUỐC GIA

Sau đó, ông làm việc ở Phủ Thủ Tướng rồi Phủ Tổng Thống. Ở đâu việc của ông cũng gắn liền với báo chí.

Phải nói rõ một sự thật là hồi đó, trong một thể chế dân chủ, giữa “cánh báo chí” và nhà cầm quyền thường xung đột, thậm chí chống đối rất gay gắt. Từ những đảng phái đối lập đến những tờ báo có khuynh hướng riêng, luôn xảy ra tranh chấp vì bất đồng về một chủ trương chính sách nào đó. Có những sự kiện khiến chính quyền lúng túng, tất nhiên đã làm thì phải có cái đúng, cái sai. Các “phủ bộ” lại phải nhờ người đứng ra dàn xếp tìm một tiếng nói chung. Huy Quang Vũ Ðức Vinh với cả hai tư cách, nhà văn và nhà “thương thuyết” đứng ra làm công việc hòa giải. Có tiếng nói của ông, có bàn tay xoa dịu của ông, có uy tín của ông, mọi công việc nhanh chóng được thu xếp ổn thỏa. Như thế có phải là một sự lợi dụng ông hay không, không phải là quan trọng, mà công việc ổn định xã hội, góp được sức mạnh chung mới là điều đáng kể. Và đó chính là mục đích của ông.

Vì đâu ông có được uy tín ấy? Phải nhìn vào cách sống, nhìn vào công việc, nhìn vào khả năng của ông mới thấy hết được giá trị con người đích thực của ông. Với ai ông cũng cư xử như một người bạn, ông biết nghe, thấu tình đạt lý, mềm mỏng đến với từng người bằng cả tấm lòng trung thực, nhân hậu của mình. Khi người ta biết chắc ông không mưu cầu lợi ích riêng tư, không phe phái, thiên vị thì người ta đã coi ông là bạn và người ta sẵn sàng nghe ông. Sự thành công của ông chính là ở cái tư cách chững chạc và tính cách thân thiện đó.

Có thời kỳ, ông làm tổng giám đốc Cục Vô Tuyến Truyền Thanh. Nói rõ hơn, ông điều hành cả guồng máy phát thanh quốc gia. Thời kỳ đó, ông đã làm thay đổi bộ mặt của làn sóng phát thanh, nâng tầm vóc nó lên cao hơn. Hệ thống phát thanh được cải tiến mạnh mẽ. Ðài Sài Gòn được chuyển thành hệ thống A và Ðài Quân Ðội thuộc hệ thống B. Mỗi đài đều có chương trình và hạ tầng cơ sở riêng, tuy nhiên Trung Tâm Phát Tuyến Quán Tre vẫn là nơi lên sóng của cả hai hệ thống A, B. Người từ quân đội biệt phái qua lo việc kỹ thuật nhưng quyền quản trị vẫn thuộc hệ thống phát thanh Quốc Gia.

Trong thời chiến tranh, người của quân đội thường được biệt phái hoặc tăng viện cho nhiều cơ quan, kể cả ở cảnh sát và các phủ bộ khác. Tuy nhiên điều hành hệ thống phát thanh quốc gia không giản dị. Đó là việc hành chánh với các nguyên tắc bất di bất dịch và cũng là việc của người làm văn hóa với vô số vấn đề không bao giờ có nguyên tắc và với những anh em từng viết lách, từng cơm bụi ngủ hè, từng gặp nhau tại hầu hết tòa soạn báo… Làm cấp dưới có lẽ còn dễ chịu hơn làm cấp trên. Huy Quang Vũ Ðức Vinh đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người, từ anh phóng viên trẻ đến các vị biên tập già, và cả các văn nghệ sĩ dân chính cộng tác với đài. Đến bây giờ, không ai là không yêu quý ông. Dù chỉ một thời gian ngắn, ông đã làm rạng rỡ cho ngành phát thanh quốc gia và đáng kể hơn là đã gây được lòng tin yêu của thính giả với tiếng nói của đài. Chính tôi cũng học được ở ông rất nhiều khi ngu ngơ bắt tay vào công việc này.

PHONG CÁCH MẪU MỰC TRONG CUỘC SỐNG

Suốt khoảng thời gian đó, tôi thường có nhiều dịp gặp ông trong công việc cũng như trong đời sống hàng ngày. Nhưng chưa hề gặp ông tại bất cứ chốn ăn chơi nào. Phòng trà, tiệm nhảy, sòng bài dường như không bao giờ ông đặt chân tới. Chỉ nghe phong thanh hồi còn rất trẻ ở chung trong con hẻm đường Bàn Cờ với Phan Nghị thì đôi khi, ông cũng bị ông bạn hàng xóm có máu giang hồ rủ rê đi ăn chơi, nhảy nhót tí đỉnh. Nhưng thật ra chẳng ai rủ rê được ông đâu, tôi nghĩ là ông nể bạn nên đi theo cho bạn vui thôi. Thỉnh thoảng ông cũng đánh mạt chược với chúng tôi và thường chơi ngay tại nhà ông ở cư xá Trần Quốc Toản. Chúng tôi mang tiếng là “đánh còm” rồi, ông còn chơi “còm” hơn. Năm thì mười họa tôi mới được ông triệu đến nhà chơi cho vui. Với ông có lẽ đó là cái thú duy nhất trong cuộc sống vô cùng mẫu mực của ông. Từ nhà đến sở, bao giờ ông cũng giữ đúng phong cách ấy. Và ông lại rất kín tiếng nên ít có ai hiểu gì về suy nghĩ riêng tư của ông.

Ngay trong gia đình, ông cũng ít nói, lúc nào cũng lo lắng đùm bọc vợ con, ngay cả lúc trước khi bị bệnh. Không bao giờ để các con lo chuyện gì và cả 4 người con của ông đều được thừa hưởng một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc cho đến khi thành đạt. Ông có một đặc điểm là dù ở cương vị khá cao trong chính quyền, những nơi mà các buổi lễ lạc, đại hội, người ta rất thích mời cả “phu nhân cùng đến dự cho thêm phần long trọng.” Nhưng ông không bao giờ đưa phu nhân cùng đi, có thể là chính bà Vinh cũng không thích đi dự “chuyện phiền toái” đó.

Suốt năm tháng ở Sài Gòn, ông sống như thế, mặc cho thời cuộc đổi dời, luôn là một quân nhân thuần túy gương mẫu, dù những người quanh ông, những cấp trên của ông, vì lý do này hay lý do khác vướng mắc vòng “quyền lực chính trị”. Trong bất cứ cương vị nào, dù làm việc với bất cứ ai, ông vẫn là Huy Quang Vũ Ðức Vinh, điềm đạm, thanh thản, tận tụy với mọi nhiệm vụ được giao. Tài của ông là sự vượt thoát ra ngoài các hệ lụy đó, hệ lụy rất dễ quyến rũ con người vì danh lợi, ở vào vị trí của ông. Tôi cho rằng đó là sự sáng suốt của một con người từ khi còn rất trẻ. Phải có một nhân cách đặc biệt mới làm được điều đó.

Ở VIỆT NAM HAY Ở HOA KỲ, VINH VẪN LÀ VINH

Ngày 30-4-75, ông cùng gia đình sang định cư ở Mỹ. Bẵng đi một thời gian rất lâu, tôi không biết tin gì về ông. Năm 1987, khi vừa về đến Sài Gòn, tôi đã được ông thăm hỏi. Nhưng cũng chỉ là qua thư từ. Hồi đó internet chưa có, chúng tôi phải viết thư tay. Một điều rất xúc động là năm nào cũng đúng ngày 30 Tết Nguyên Ðán, ông điện thoại về Việt Nam thăm tôi và Phan Nghị. Không bao giờ ông quên. Hai năm sau này thì nhiều người ở Mỹ gọi về Việt Nam thăm gia đình vào dịp đó nên ông gọi trước một hai ngày cho chắc ăn.

Một lần, cách đây khoảng 8-9 năm, ông trở lại Sài Gòn. Lúc bà xã ông ở lại hàn huyên với bà hàng xóm cũ Phan Nghị, ông sang nhà tôi ngồi tán dóc. Vẫn giọng cười ấy, vẫn lối nói thân tình ấy, ông kể sơ về thời gian ở Mỹ. Xưa kia, đã có thời chúng tôi gọi nhau “mày, tao” cho thân, nhưng sau này kêu nhau bằng “ông” cho đúng với tuổi tác, ngoại trừ với một số bạn thân gần nhau quá “không thể nào gọi nhau là ông được” vì nghe “kỳ kỳ” thế nào, thì cứ “mày tao cho tiện việc sổ sách”. Với ông Vinh thì khác, vẫn thân gần đấy, nhưng có thể thay đổi cách xưng hô được vì tính cách của ông. Không xuồng xã với bạn bè, lúc nào ở ông cũng thận trọng. Tôi chắc nhiều bạn tôi cũng gặp trường hợp này.

Theo những gì tôi biết do ông và bạn bè kể lại, cuộc sống ở Mỹ của ông chẳng có gì đổi khác. Gia đình và xã hội vẫn là hai mái nhà ông chung sống, dành hết tâm trí vào đó. Ông vẫn là Huy Quang Vũ Ðức Vinh. Là Huy Quang khi viết văn làm báo những năm 1975 đến 1982. Ông là chủ nhiệm bán nguyệt san Ðất Mới, một trong số rất ít báo tiếng Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ với ban biên tập khá hùng hậu như Thanh Nam, Túy Hồng, Mặc Ðỗ, Hà Huyền Chi, Linh Vang, Trần Văn Minh, Nhất Tuấn cùng các tên tuổi khác mà tôi không biết hết.

Có lẽ “kinh doanh báo chí” không phải nghề của ông nên 7 năm sau, ông nhường tờ báo cho người khác. Tuy nhiên, “đã mang lấy nghiệp vào thân” ông vẫn cộng tác với nhiều tờ báo như Ngày Nay của anh Nguyễn Ngọc Linh và Trương Trọng Trác ở Houston, cùng các đặc san, kỷ yếu Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Ðịnh và Thủ Ðức… Ðôi khi ông viết vài bài cho báo Mỹ. Một bài ông viết tựa đề Refugees Need A Helping Hand đã được Thượng nghị sĩ Kennedy khen là “eloquent” và cho vào “congressional record”. Ðồng thời ông ta gởi tặng ông Vinh một tấm hình mà ông còn treo ở nhà.

Ngay từ 1982 ông đã làm việc tại Bộ An Sinh Xã Hội của tiểu bang Washington lo giúp đỡ người tị nạn trong quận hạt Bắc thủ đô Olympia, Pierce County, về định cư, nghề nghiệp. Ðồng thời, với uy tín trong cộng đồng, ông còn được yêu cầu đảm trách nhiều công tác khác. Ông đã làm quản trị viên các chương trình thuộc tiểu bang, đôi khi của cả liên bang, lo cho đời sống cả cộng đồng mọi sắc tộc về di dân, tị nạn, định cư.

Ông cũng là thành viên tiên khởi trong Hội Ðồng Quản Trị của Học Bổng Hùng Vương, một tổ chức vô vụ lợi, cùng chung sức với một số cựu quân nhân, góp tiền cấp học bổng hàng năm cho các học sinh Mỹ gốc Việt, cố gắng đưa họ vào học ở các đại học danh tiếng tại Hoa Kỳ và sau trở thành bác sĩ, luật sư để rồi xây dựng một truyền thống giúp đỡ lại những đàn em đi sau.

Ở đâu Vũ Ðức Vinh cũng là một người gương mẫu, tận tâm lo cho mọi người hơn là lo cho mình. Với những người ở Việt Nam cần được giúp đỡ, khi tôi báo tin, ông đều sốt sắng hưởng ứng và kêu gọi bạn bè chung sức. Chưa bao giờ ông vắng mặt trong bất cứ việc từ thiện nào. Ðó là những gì tôi nhận được ở ông khi không còn ở gần nhau. Chắc chắn sẽ còn rất nhiều việc nữa mà các bạn ở nước ngoài biết nhiều hơn tôi.

Với một người như thế, một nhân cách lớn như thế, tôi tự hào được là bạn ông, được ông thương mến. Những năm sau này, chúng tôi gồm một số bạn bè thân quen xưa cũ lập thành một club, thường xuyên gửi e-mail cho nhau hàng ngày. Bất cứ chuyện vui buồn nào cũng có thể chia xẻ cùng nhau. Tôi vẫn cứ tưởng như ông vẫn ở gần đâu đây. Khi cây lựu trước cửa nhà tôi ở Lộc Ninh nở những đóa hoa đầu tiên, tôi kể lại với ông và chụp tấm hình với cái tựa đề Lửa Lựu tặng ông, một nhà văn mà tôi đã “quen” từ khi chưa gặp. Ông thích lắm vì đó là “khởi nghiệp” vàng son trong cuộc đời viết văn mà ông không thể nào tìm lại được.

Khi Ðằng Giao mang tranh sang Mỹ triển lãm ở Santa Ana, ông cũng có mặt. Ông kể với tôi và nói rất thích bức tranh sơn mài có cái điếu cày và ấm nước trên bờ ruộng, nhưng chưa mua được. Ðó là bức tranh sơn mài Ðằng Giao đã cho tôi nên tôi hỏi ý Ðằng Giao rồi gửi tặng ông ngay. Ông mang đi đóng khung, khắc thêm tấm biển đồng, trịnh trọng treo trong nhà. Thế là nhà ông vẫn còn 2 kỷ niệm của tôi, ông để lại cho con cháu.

Khi tôi viết bài này gần xong thì Ðằng Giao ghé thăm. Anh nói tháng trước khi điện thoại cho ông Vinh, anh hứa tặng ông một bức tranh cây trúc mới vẽ xong.

Ông Vinh vui lắm và hẹn để đó rồi có ai về Seattle thì gửi cho ông. Vậy mà bây giờ ông Vinh đã vội ra đi.

Bức tranh còn đó, Ðằng Giao còn gửi ở nhà tôi.

Dù ông đã ra đi, nhưng tôi cũng sẽ tìm cách gửi đến cho ông. Trong lòng tôi, bao giờ ông cũng vẫn còn sống.

Nhân cách của ông còn rực rỡ mãi, còn là một tấm gương sáng cho bạn bè, cho con cháu và cho cả mọi người dù ở bên này hay bên kia.

Ông từ giã chúng ta vào lúc 10 giờ 46 phút, ngày 9 tháng 12 năm 2005 tại Seattle. Hưởng thọ 75 tuổi.

Sài Gòn 10-12-2005

(Hết Chương 12)

Share this post