Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 23

Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 23

SÀI GÒN, NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ
* Bút Ký Văn Quang
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (Virginia, Hoa Kỳ, 2020)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục “Search this site” (Tìm kiếm) và gõ tên tác giả: Văn Quang.

CHƯƠNG 23
SỰ TRƯỞNG THÀNH TRONG TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT

Đứa cháu con chú em ruột tôi, không được đi định cư diện HO theo bố mẹ vì “tội” có vợ con, phải ở lại Sài Gòn. Khi tôi từ cái gọi là “trại cải tạo” ra năm 1987, chúng tôi sống cùng nhau, 3 thế hệ lúc nhúc trong ngôi nhà giữa chợ Bàn Cờ. Căn nhà của bà chị tôi, vốn chỉ để bán hàng lặt vặt trong chợ. Chật chội, nóng nực như cái tổ chuột. Một năm sau tôi mới có điều kiện thuê một căn phòng ở gần chợ An Đông, nơi tôi đã hoàn thành truyện dài “Ngã Tư Hoàng Hôn”, truyện dài đầu tiên sau 13 năm treo bút vì tù đầy. Gia đình thằng cháu vẫn “chui rúc” trong chợ Bàn Cờ.

Tôi không có ý tả lại đời sống của riêng tôi khoảng thời gian đó. Người tôi muốn nói đến trong bài này là đứa cháu.

Cần nói rõ thêm là gia đình chú em tôi cũng thuộc thành phần “sĩ quan ngụy” và cũng chính vì cái “lý lịch đen” này nên cháu tôi không được vào đại học, trong khi nó là một học sinh xuất sắc. Ông thày của nó bất bình, nhưng đó là “chủ trương chung của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” nên ông cũng đành chịu. Ông tìm cho nó một ngành học khác để… kiếm cơm. Rất may những năm 87-88, ngành vi tính còn quá mới mẻ đối với Sài Gòn. Computer còn hiếm hơn cả xe hơi. Ông thày hướng dẫn cháu theo học ngành này.

Sau khi học vi tính căn bản ở Đại Học Sư Phạm, tôi cũng học mót được của cháu khá nhiều những “chiêu độc” của dân vi tính.

Vài năm sau, hai bác cháu tôi đều có thể hành nghề vi tính kiếm sống. Nhưng mỗi người một thứ chuyên môn khác nhau. Tôi chuyên đánh vi tính thuê và làm lay-out cho mấy nhà in, nhà quảng cáo, nhà xuất bản hoặc bất kỳ ai cần tới. Còn đứa cháu “cao tay ấn” hơn, nó lập trình cho các ông chủ doanh nghiệp và trở thành chuyên viên của vài công ty.

Chúng tôi phải cật lực làm việc suốt ngày, đôi khi suốt đêm, chỉ với mục đích “trả nợ áo cơm”. Tôi cũng như gia đình cháu tôi phải tự lực đứng dậy. Lúc đó khó ai có thể lo cho ai được. Bẵng đi một thời gian, cháu tôi vào làm cho một hãng vi tính lớn rồi liên hệ với giới chuyên tổ chức hội chợ từ Singapore, Thái Lan, nhận việc “thầu” những việc của các hãng nước ngoài tổ chức hội chợ ở Việt Nam, nhất là các hội chợ liên quan đến điện tử.

Một thời gian sau, chẳng biết từ lúc nào, cháu tôi leo lên chức Phó Giám Đốc một hãng buôn bán máy in, độc quyền cho một hãng lớn. Cuộc sống ngày một khá hơn. Lúc đó chẳng cần tới cái lý lịch đen hay trắng. Vì ông chủ của nó là một Việt kiều, là doanh nghiệp tư nhân.

Khi tôi mua được căn nhà vườn ở Lộc Ninh, một lần anh rể của nó từ Mỹ về Việt Nam lên thăm tôi ở cái xó rừng già heo hút. Hai đứa mang theo hai cái máy hình. Thằng cháu khoe với tôi: “Anh Lập cho cháu cái máy này”. Tôi chẳng để ý nó là thứ máy gì, chỉ biết đó là cái máy khá tốt của dân “nửa chuyên nghiệp, nửa tài tử”.

Thằng cháu tôi ra vườn hí hoáy chụp linh tinh cũng như bao nhiêu bạn của tôi lên thăm vườn, chụp chơi cho vui vậy thôi. Tôi cứ nghĩ thế.

Nhưng chỉ lạ là nó không chụp hoa, chụp cảnh. Bao nhiêu dò hoa lan của tôi đi kiếm mờ con mắt, nó không thèm để ý. Kể cả các cây cảnh như hai chậu hoa chiếu thủy đang đơm bông trắng xóa, cây măng cụt lâu đời vừa nhú các chùm quả mơn mởn trên cành, hai cây lựu la đà trước thềm với các bông hoa rực lửa… và các khung cảnh rất riêng như cây khế, cây sung, ao cá, đàn gà, đàn ngỗng nhao nhác trong vườn ngoài sân, nó chỉ chụp qua loa “chiếu lệ”. Nó đi từ góc vườn này sang cuối gian nhà kho cũ mèm, ngắm nghía, chăm chút chụp hình lia lịa.

Quả thật lúc đó tôi không hiểu nó tính làm gì với các tấm ảnh “tủn mủn” đó. Tôi tặc lưỡi nghĩ thầm “lịch sự mỗi người một mùi”, ý thích mỗi người một kiểu, chẳng ai giống ai cả. Thế thôi.

Chừng một tháng sau, gặp tôi ở Sài Gòn, cháu tôi mang tặng tôi một cuốn lịch năm 2007 với 12 bức ảnh nó chụp quanh khu nhà tôi ở cái “xó rừng già.”

Tôi hơi ngạc nhiên vì “tác phẩm có vẻ kỳ cục này” của nó. Đúng là cuốn lịch đặc biệt vì… “không giống ai”, không “đụng hàng”. Nhưng nhìn kỹ, nó có một nét rất lạ. Một bông hoa dại tim tím nằm cô đơn trong bóng cây măng cụt, một mảnh gốm vỡ từ cái chậu nào đó ở bên bờ mương, một cửa sổ nhà kho cũ mèm, chẳng ai buồn để mắt tới… Tôi chỉ linh cảm thấy rất lờ mờ rằng các sự vật đó có một tâm hồn, không hẳn là “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo. Lầu cũ lâu đài bóng tịch dương” mà là một cái gì nhỏ lắm, sâu lắm, le lói như vệt nắng không chịu tắt, cứ sáng mãi trong ký ức.

Tôi mang về nhà treo làm kỷ niệm, nhưng cậu con trai thứ hai của tôi về Việt Nam chơi lại “tước mất” của bố, bởi nó cũng là nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp trên đất Mỹ, sống rất nghệ sĩ và chưa chịu lấy vợ, dù đã hơn 40 tuổi. Vẫn thích tự do, đi từ nước này sang nước khác chỉ để chụp hình cho nghệ sĩ. Có lẽ hai anh em nó hợp nhau ở điểm này.

Hai tâm hồn, một được giáo dục từ nước ngoài gần 40 năm và một ở Việt Nam, thuần túy là tâm hồn Việt. Hai cậu tha hồ bàn bạc về nhiếp ảnh, có vẻ tâm đầu ý hợp.

Đùng một cái, cách đây ba tháng, tôi đọc trên báo thấy loan tin “Nguyễn Quang Anh triển lãm ảnh tại Hà Nội” với một bài nhận định kèm vài tấm ảnh nghệ thuật. Lúc đó tôi mới biết cháu tôi trở thành “nhà nhiếp ảnh”.

Trong khi tôi đang “vui thú điền viên” lại nhận được điện thoại của cháu báo tin sẽ triển lãm tại Idecap (Trung Tâm Văn Hóa Pháp) đường Thái Văn Lung, Sài Gòn từ 11-12 đến 18-12-2007. Tất nhiên tôi phải “bò về” có mặt trong buổi triển lãm đó. Tôi mời một số bạn bè cùng đi. Đào Hoa Nữ, Hàm Anh, Quỳnh Mai, Thái Phương, Lữ Quốc Văn, Mai Anh, Nguyễn Quốc Thái… để có thể nhận được những lời phê phán khách quan hơn.

Khai mạc triển lãm giản dị, thân mật, không long trọng như các cuộc triển lãm của những nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp. Tất cả đều mang tính “tài tử”. Có cả một số quan khách nước ngoài đến dự trong một khán phòng không rộng lắm, vừa đủ treo vài chục bức tranh.

Nhưng ngoài gian phòng, trên các lối đi khu vườn hoa cũng được viền bởi những bức ảnh dưới ánh đèn vừa đủ sáng.

Không sắp xếp thành chủ đề, tự những con người và sự vật nói lên chủ đề của mỗi bức ảnh. Tôi thật sự ngạc nhiên với các bức ảnh rất “đời thường” đó, những thứ cứ tưởng là vứt đi vẫn mang một sức sống, trầm lặng, vững vàng đến trở thành muôn thuở, như tình yêu của mỗi con người, như quyền được sống và được yêu, dù có ai yêu lại hay không là điều không cần thiết.

Và dường như tất cả đều là hình ảnh quê hương Việt Nam, chỉ có ở những góc Việt Nam mới có được các hình ảnh rất riêng đó. Người đầu tiên đưa ra nhận xét là Nguyễn Quốc Thái. Anh nói: “Đem đi triển lãm ở nước ngoài, chắc chắn sẽ gợi được lòng thương nhớ quê hương của người Việt mình ở khắp nơi. Được nhìn lại những cái tưởng như đã chìm hẳn trong quá khứ, được sống lại với từng góc nhỏ của quê nhà. Một bờ giếng cũ kỹ với chiếc gầu nhựa nằm đợi nước, một cái chum vỡ, một bà lão trên con đường làng vắng ngơ vắng ngác, một cái lò gạch ngổn ngang, một bó rơm trên chiếc xe bò… Quê hương ta ở đấy và phải là quê hương Việt Nam!”

Còn rất nhiều phê phán khác nữa của các nhà nhiếp ảnh lâu năm trong nghề và của các nhà văn nhà báo. Tôi không dám nói nhiều, sợ rằng “con hát mẹ khen hay”.

Tôi chỉ muốn nói cuộc đời thật kỳ lạ, có những ngã rẽ chẳng bao giờ ta ngờ tới. Tài năng đến một lúc nào đó tự nó vươn dậy và sự trưởng thành trong nghệ thuật không dành riêng cho một ai. Nó là của chúng ta, của mọi người. Anh Lữ Quốc Văn vừa gửi tôi bài nhận định về cuộc triển lãm này.

Xin giới thiệu cùng bạn bài viết “Xem ảnh Nguyễn Quang Anh” của Lữ Quốc Văn:

Mới nhìn lướt qua những bức ảnh của Nguyễn Quang Anh trong phòng triển lãm tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp Sài Gòn, tôi đã ngạc nhiên.

Không chỉ đa dạng theo chủ đề: “Cảm xúc cuộc sống – Les émotions du quotidian” mà tôi cảm nhận được những xúc động sâu lắng toát ra từ mỗi bức ảnh. Nét đẹp của ảnh không ở những màu sắc bâng khuâng mà ẩn chứa những trầm tư của một người suy tưởng. Nét đẹp không ở những hình thể gợi cảm từ cuộc sống hay những màu sắc bừng sáng của thiên nhiên. Trái lại nó bàng bạc những u hoài.

Cùng đến dự khai mạc triển lãm có chị Đào Hoa Nữ. Chị là một nữ nhiếp ảnh ngôi sao của thành phố. Chị nói: “Tranh ảnh nào cũng khơi nguồn từ cảm xúc anh ạ”.

Xác đáng! Nếu không có một rung động bàng hoàng, một cảm giác ngất ngây… làm sao có một sáng tạo nghệ thuật? Nhưng cảm xúc là khởi đầu. Có thể là một phút giây sáng lòa, nhưng kẻ tài hoa với ánh nhìn thấu ba cõi của một “phù thủy” sẽ tạo nên một xúc động miên viễn.

Trước Quang Anh đã có một Võ An Ninh cao tay nghề. Nhiều ảnh chụp của ông từ hơn nửa thế kỷ trước vẫn khiến người sau ngơ ngẩn như “Hồ Gươm Buổi Sương Mù” chụp năm 1935, đẹp như bức tranh thủy mặc với hơi thu lãng đãng của một chút cảnh tiên. Cảm xúc được tạo thành hình đó chỉ là một xúc động vì cái đẹp. Nó khiến người coi trầm cảm theo những suy nghĩ sâu xa.

Ảnh của Nguyễn Quang Anh vượt khỏi những những xúc cảm bình thường. Ông không diễn hình một cảm xúc chợt đến. Tìm cái đẹp thuần túy theo nghĩa thông thường của một giai nhân hay một bông hoa, trong tác phẩm của Quang Anh là thất bại. Ông không quan tâm đến điều đó. Bởi từ cảm xúc rất bình dị, tưởng đã “được” hay “bị” người đời lãng quên, ông trầm tư suy tưởng về sự sống và cái lặng thinh của sự vật quanh mình.

Rất giản dị. Những bức ảnh được treo lên đều không ghi tên từng tác phẩm — trừ tờ giới thiệu có ghi tên một số ảnh, còn tất cả nguyên sơ như bản thể. Hẳn ông dành quyền gọi tên cho cảm quan, suy nghĩ của mỗi người.

Còn điều lạ, ảnh của Quang Anh đều vắng bóng con người với nụ cười rực rỡ hay e ấp của một cô gái hoặc một Suối Tóc, tấm ảnh tạo danh tiếng cho Phạm Văn Mùi, đều không có mặt trước ống kính của Quang Anh.

Tại sao?

Quang Anh không giải thích. Nhưng trong lời phát biểu lúc khai mạc, ông nói tới nỗi cô đơn của ông trong cuộc sống; nỗi niềm cô tịch trước những cảnh đời, trước những sự vật đột ngột xuất hiện. Tôi nghĩ, khi nói tới nỗi niềm của mình, Quang Anh không làm dáng.

Ông đi trong hai năm, từ miền Bắc xuôi vào Nam. Lúc đầu ông tưởng chỉ ở miền Bắc mới có gợi nhớ về những kỷ niệm tâm tình xưa. Nhưng mỗi bước đi, ông chợt ngộ ra rằng khoảnh khắc nào trong cuộc sống từng ngày cũng vẫn bày ra những cảm xúc miên man…

Bức ảnh chụp một góc đa lớn xù xì… nhưng chỉ với một gốc đa mà những ai sống ở quê xưa sẽ dâng trào cảm động. Đó là một quá khứ không còn, một quê xưa đã tàn lụi theo thời gian. Nơi khiến những tâm hồn u hoài càng trở nên lạc lõng, cô đơn hơn khi trở về làng xóm ngày xưa chợt cảm thấy mình còn bơ vơ, cô độc hơn lúc ở xa.

Chắc chắn ảnh của Quang Anh khiến chúng ta phải suy nghĩ về tác giả, về một con người tài hoa kín đáo. Không phải mẫu người mà Bạch Cư Dị đã mỉa mai:

“Thương nhân trọng lợi khinh ly biệt”.

Bởi chính ông là một điển hình cho con người doanh nghiệp nghệ sĩ mà nét tài hoa phơi phới đã lấn lướt tính cân đo đong đếm của một doanh nhân.

Tôi tin chắc dáng trầm tư của ông hiện trên từng bức ảnh. Ở một bức đen trắng không xẫm màu là ảnh một bà già mệt mỏi ngã mình trên cây gậy. Hai chân trần lê từng bước ở một ngả đường vắng lặng, trong một xóm cổ xưa.

Gợi ngay cho ta một ý tưởng đau xót, mỉa mai với ba thứ: Bần – Lão – Bệnh của một đời người.

Chính miền đơn của Quang Anh là chỗ ông cảm nhận được những cảnh đời cô tịch. Hay bức ảnh có ghi tên Cõi Yên Tĩnh trong tờ giới thiệu ảnh trưng bày, chụp chùa Bồ Đề Bắc Giang tương tự như tấm ảnh chùa Keo với mấy tầng tháp cao vút của Võ An Ninh, nhưng cái hồn và nét im sững như tượng đá thì khác hẳn.

Ảnh của Quang Anh chỉ chơ vơ cái bàn với một góc đầy những kinh sách, đứng bên là một cái mõ cùng một cái chuông nằm chỏng chơ. Lờ mờ qua tấm màn là một bức hình pho tượng nhỏ, đấy là một cõi yên tĩnh hư vô hiểu theo nghĩa thông thường ư? Thôi hãy dành cho mỗi người xem ảnh. Một tấm ảnh khác là một cành đại khẳng khiu, một ấu đồng ba chân có vài cành lá. Chỉ thế thôi… mà biết bao nỗi bâng khuâng.

Những tác phẩm rất đời thường với những sự vật tưởng như bị lãng quên bỗng thức giấc trong tâm tưởng người thưởng ngoạn trong tâm thức mỗi người. Xin chào mừng Quang Anh. Một tài hoa vừa sáng lên rực rỡ trong làng nhiếp ảnh mà tác phẩm trầm tư như một hiền triết.

(Sài Gòn 25-12-2007)

(Hết Chương 23)

Share this post