Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 30

Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 30

SÀI GÒN, NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ
* Bút Ký Văn Quang
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (Virginia, Hoa Kỳ, 2020)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục “Search this site” (Tìm kiếm) và gõ tên tác giả: Văn Quang.

CHƯƠNG 30
CÁI MUỖNG

01

Tôi không nhớ rõ năm thứ mấy, chúng tôi đi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam, được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La, thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa; chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ; người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị; rồi một thời gian sau, Việt Nam giam những người tù Thái Lan; trong chiến tranh, đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng”, chế tạo lựu đạn. Vì thế, thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó, quanh khu vực này.

Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh, vách đất; ngoại trừ có một khu, người ta gọi là “khu biệt kích” gồm vài căn nhà xây dựng kiên cố, bằng gạch, lợp tôn xi-măng. Chúng tôi được học tập cải tạo trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói: “khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích, đã từng nhảy dù ra ngoài Bắc, rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó”. Muốn vào khu này phải qua 2 lần cổng, có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được” giam ở đây có vẻ cởi mở hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày, cho khỏi phải ra mở cửa.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù đói rét, thiếu thốn và, trong cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật, quy định riêng. Những ngày đầu, người ta cấm luôn cả trà, cà-phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm, cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi, cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng dao, kéo, muỗng nĩa. Tuy vậy, có anh tù nào lại ngây thơ, ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn các quy định ấy. Mua bán, đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày — những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ nhắn, cho dễ cất giấu. Đó là các vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu, chứ không đến nỗi bị cùm 1 hoặc 2 chân (tùy theo tội, đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù).

02

Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng. Dĩ nhiên không thể nào nói đó là thứ “an tâm”, hồ hởi, phấn khởi mà bất cứ anh trại viên nào cũng phải viết, khi làm những “bản kiểm điểm” — dù cả người viết lẫn người đọc, chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy, đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù xộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ xộc thẳng vào phòng giam trống hốc, cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo lắng bâng quơ. Chuyển trại hay có ai trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi của mỗi người tù được gói trong hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua.”

Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu “đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm những thứ đồ “quốc cấm” mà trại đã quy định”. Thật ra đó là cung cách trại cải tạo thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh những “tiêu cực”. Bởi trong sự yên bình của một trại giam, tù có thể liên kết với nhau, làm một chuyện gì đó, như tổ chức trốn trại, hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối…

Nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế; thỉnh thoảng họ phải làm cho không khí đó mất hẳn vẻ trầm lặng, để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.

Các anh tù đừng “tưởng bở”, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ cũng vớ được một anh nào đó giấu các thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có các cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó, hi vọng lòi ra vài cái “tội”. Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” cứ mặc, vì còn cãi thì còn phải “ngồi đồng”. Đi làm suốt ngày mệt mỏi thở không ra hơi; tối về, còn ngồi đồng, còn bị “phê bình”, còn “kiểm thảo” chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi.

Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm “căng” thì vào nhà kỷ luật đặc biệt, nằm “treo một chân.” Thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Họ cũng có những biện pháp an toàn như đổi 5,7 anh từ đội này sang đội khác, để tránh các chuyện thông đồng, tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh trại tù. Chung quy đó chỉ là cách xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn cứng đầu, còn mưu toan kéo người này, người kia vào phe mình, để từ đó, có các yêu sách, hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Mỗi lần như thế, trại tù cũng rối tung lên, và làm cho các anh yếu bóng vía, thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn, thêm rụt rè; chẳng biết tin vào ai được nữa… Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen. Với một số người “chẳng có gì để mất” thì họ trở nên như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được, chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi đã được học tập cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con, nhà cửa đều mất tất cả rồi; chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh ở Sài Gòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và, một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “caritas” như một số anh em trong trại tù rồi — tức là những người chẳng có ai thèm nuôi.

Những bà vợ đau khổ, những gia đình đói khát lầm than lo cho chính họ không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù, nhất là lại ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí, có người còn vui mừng khi thấy vợ bước đi bước nữa, với một anh nào đó, đưa các con ra được nước ngoài.

Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi, những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù, mới được hưởng trọn vẹn cái “thú đau thương”.

03

Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy xộc vào trại, là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên chí chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông, cái thứ quan trọng nhất, là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày. Rau muống, bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải mà trồng cải thì lâu được ăn, năng suất không cao, nên được tí rau, là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống xu hào là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn của toàn đội. Những củ xu hào bắt đầu to hơn nắm tay, nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt. Tôi coi chúng — vì cái công sức tôi bỏ ra một tháng trời — tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó đã từng viết ra. Ở đây, không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy để có cái mà thú vị, quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế, tôi tha hồ đặt tên từng luống xu hào. Có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tôi đã gặp ở phòng trà khiêu vũ. Có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngợm” giữa vùng rừng núi âm u hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong 1, 2 ngày nữa. Bởi Tết ta đã đến, dù luống xu hào còn non, chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong 3 ngày Tết, họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn; chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia, thì tôi vẫn nhởn nhơ, vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm. Gọi là phần cơm nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo-bo tương đối đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, còn những bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “vừa ăn xong, vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi, ngày này qua ngày khác, thế mới khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo kiểu câu dầm, lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn làm lu mờ cảm giác đói — dù chỉ là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng “ăn dè, hà tiện” nhưng ăn bằng muỗng.

Cái muỗng rất đặc biệt bằng “inox” hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi, luôn luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia 2 củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon “Guigoz” — một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng, nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù. Nó có thể dùng “trăm công ngàn việc”, từ đựng các loại thức ăn, thức uống, đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa, đánh răng, rửa mặt.

Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất. Tất nhiên là nó bị tịch thu trong buổi khám xét trại hồi sáng.

Đây là thứ “gia bảo”, tôi đã cất giấu suốt mấy năm, chưa hề lơi lỏng. Nó luôn luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động, cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như một cái nạng của anh què, cái gậy của ông lão 90, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó, tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là “trại viên”; nhưng trước đấy, anh ta là cán bộ “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ quân nhân trong trại tù, thường được gọi “phạm binh phạm cán” tức tội phạm thuộc binh sĩ, cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng, thường được dùng vào các việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán, nhận là người cùng quê. Một lần, Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính. Qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng: “Cậu huyện Nhụ (*) nằm ở đó.”

(*) Nguyễn Mạnh Nhụ là con trai cụ bảng Mộng, tháng 5 năm 1954 là giám đốc Báo Chí bộ Thông Tin dưới thời tổng trưởng Phạm Xuân Thái — giáo phái Cao Đài hợp tác lập nội các với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông là thân phụ của biện lý kiêm thi sĩ Huy Trâm định cư ở California, Hoa Kỳ.

Tôi hỏi anh có họ thế nào với cụ huyện Nhụ. Anh ta nói là cháu gọi cụ Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam, còn gia đình anh vốn nông dân, ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 1975 là chánh án tòa Sài Gòn. Tôi nghe nói “cụ cũng có họ hàng với gia đình tôi, tuy là họ xa”. Cụ làm tri huyện khi còn rất trẻ, sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này, đi “cải tạo”, cụ mất ở trại này. Dực nói, “trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh giò”. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình, khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua “lén” vài cái.

Nhưng “bánh giò mang tới nơi, thì cụ đã mất rồi”.

Từ đó đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn, dù cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy”, một bên là “cán”; vẫn khó san lấp…

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa, tôi không gặp được Dực. Đến 2 hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết ta, tôi mới gặp được hắn. Trong khi đó, tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không? Họ nói “còn để trong kho, lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác”.

Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh gửi vào. Rất may cho tôi, hắn cũng bị đau dạ dày. Và thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó, chỉ là “tí mật ong trộn với củ nghệ, không mấy công hiệu”. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là “Ma-lốc”; uống vào cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ sản xuất đàng hoàng, người ta ghét Mỹ; nhưng thuốc của nó tốt, có sao đâu?”

Tôi gạ chuyện, để xin lại cái muỗng, Dực trợn mắt:

– Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy, trực trại nó biết; thì tôi vào nhà đá.

Tôi năn nỉ:

– …Là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe 3 dấu, một cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi.

Dực nhìn tôi nghi ngại:

– Hay mày giấu tiền trong đó?

Dực hơn tôi 2 tuổi. Hắn gọi tôi bằng “mày”, tôi cũng không bị chạm tự ái. Giả dụ hắn kém tôi vài ba tuổi; mà lúc đó gọi tôi bằng “mày”, tôi cũng cho qua luôn.

– Cái muỗng đặc nhỏ như thế sao giấu tiền được?

Dực nửa đùa nửa thật:

– Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày cũng làm được. Chưa biết chừng, mày giấu cả cái máy quay phim trong đó, cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim, phải không?

– Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim, chứ tôi biết cái “cóc khô” gì.

– Vậy, sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng? Mày mua chuộc tao bằng 2 vỉ thuốc đau dạ dày, không bõ. Khéo không, chết cả đám. Tao không chơi.

Tôi thất bại nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc.

Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết ta. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường; kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong 3 ngày Tết, cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn Tết ở phòng, phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay, dù biết sẽ mất cái thú cùng dự những ngày Tết với anh em trong phòng, nhất là mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi làm lấy.

Thế là, tôi có dịp lân la nói với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ tôi “có cái gì giấu trong đó…” Tôi đành phải kể cho Dực nghe.

Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày, đưa vào túi xách. Đứa con gái tôi khi đó mới hơn 3 tuổi, thấy mẹ bỏ vào túi xách; quần áo, khăn mặt, thuốc men…, nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng đang ăn, dặn dò, “con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại con đấy”.

Tôi ôm con gái, gật đầu hứa “khi bố về sẽ trả”.

Nhưng quả thật, tôi vẫn nghĩ, chẳng bao giờ trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về, vì có biết ngày nào về đâu; mà hẹn!”

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt những bữa ăn, suốt trong giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên, qua cái muỗng đó. Tôi vẫn tự đánh lừa rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy, niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực. Vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ. Hắn vỗ vai tôi, “Thôi được, nếu như thế tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách; tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua, để cậu ngồi ăn ở đó. Trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên cái chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó vớ được, thì “kỷ luật” suốt cái Tết này đấy; chưa chừng suốt mùa xuân”.

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa, mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống “hầm-bà-lằng”, đủ thứ đồ dùng lặt vặt, vừa bị tịch thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó.

Quả là những bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

Thôi thì đủ thứ: cái điếu cày được làm bằng ống hỏa châu, hoặc những cái lược cho con gái, cho người yêu, làm bằng nhôm, được khắc những tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường”… nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn, cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

Sách vở tiếng Pháp, tiếng Anh và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái tôi kiếm được trước tiên là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp, vừa phải thật nhanh tay, đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ, cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng, nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. “May quá, cái muỗng kia rồi”. Nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó, tôi có cảm tưởng như “con có ở xa hàng cây số, thì bố cũng nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng đã quá thân thuộc, như chính cái nét mặt con gái tôi, khi nó nhí nhảnh, đưa cái muỗng vào túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi, rồi mai bố về. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và, trong nụ cười hồn nhiên của nó. “Ừ, thì vui”. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế; hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh, như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng, khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối, trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn!

Cái Tết ta ấy, tôi lại được vui chơi với muỗng của tôi, dù phải hi sinh suốt 3 ngày, khi mọi người được nghỉ ngơi, còn tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách”, chẳng có ma nào thèm ngó đến.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi; như chuyện được ăn một bữa cơm, chứ không phải khoai sắn, hoặc, bo-bo. Quả là tôi thấy hạnh phúc, cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải bạn đồng minh từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua — bạn đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh, và chạy xa quá rồi.

Thôi thì, tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sâu, sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi đi làm phải qua một con suối, đó là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt, dịu dàng; trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn, nước từ những triền đồi vây quanh 4 hướng, ào ạt đổ xuống. Chỉ cần nửa giờ sau, con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn, mang theo những cành cây; những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi nó trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng choạng làm đổ cái túi đồ, những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây, tôi thuộc từng khe đá, tôi không ngần ngại nhoài người xuống để mò. Anh bạn nhảy dù, la lên:

– Bộ ông điên sao?

Tôi điên thật, hi vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá, tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi. Anh ta lội xa hơn một khúc, rồi khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá, là tìm được cái muỗng. Đôi mắt rất tinh, anh mỉm cười “tôi biết ông mất cái gì rồi”.

04

Chuyện trớ trêu: Hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được. Vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài rồi. Hơn 20 năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay, đã 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29-9-2002 vừa qua, cháu lập gia đình ở Miami, Florida.

Nhận được thiếp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như, không phải vui hay buồn, một thứ cảm giác kỳ lạ, cứ lơ lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới.

Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì, và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sài Gòn. Chính tay tôi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái, như lời hứa 27 năm trước.

Vật đó, có thể thay cho sự có mặt của tôi không?

Tôi không biết. Nhưng tôi nghĩ “gửi cho con để con hiểu lúc nào tôi cũng coi như con còn nhỏ lắm, như mới hôm qua, 2 bố con còn ở bên nhau”. Tôi đi chơi đâu đó và, hôm nay trở về. Nhưng, con đã đi xa; còn tôi vẫn ở Sài Gòn nơi nó đã sinh ra. Con sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Vài hôm sau, có một điều tôi biết rất rõ: “Từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cứ thấy trống trải như mất một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng cũng như cảm giác của những ông bố, bà mẹ cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Đó chính là sợi dây vô hình, nối liền mãi mãi tình thương yêu, dù ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng, người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ, sâu sắc hơn. Chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất thứ không gì so sánh nổi đó trên đời.

Lẽ ra chuyện này, tôi đã viết ngay từ tháng 9 năm 2002, dịp cháu lập gia đình. Nhưng ngồi mãi trước “computer”; tôi không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung.

Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được, ngoài việc cứ để nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình, thì nghẹn.

Mãi đến hôm nay, tôi mới ghi lại được những dòng chữ này; nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn, vì nó là thứ chuyện của cả một đời, hay là của muôn đời.

(Sài Gòn, tháng 1-2012)

(Hết Chương 30)

Share this post