Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 8

Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ (Bút Ký – Văn Quang) Chương 8

SÀI GÒN, NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ
* Bút Ký Văn Quang
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (Virginia, Hoa Kỳ, 2020)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục “Search this site” (Tìm kiếm) và gõ tên tác giả: Văn Quang.

CHƯƠNG 8
ÔNG “TỔNG CÓC” ĐI RỒI 

“Tổng Cóc” là cái tên thân mật chúng tôi thường để gọi ông Quốc Phong từ khi ông lên chức tổng thư ký tòa soạn tuần báo Truyện Phim thời 1956-57 ở Sài Gòn.

“Tổng thư ký tòa soạn Quốc Phong” nghe dài lê thê. Tên “Tổng Cóc” gọn gàng dễ nhớ, dễ gọi và cũng biểu lộ phần nào “bản tính cố hữu” của con người. Bởi Quốc Phong thẳng thắn, nóng tính, dễ nổi giận và khi đó anh vung chân múa tay, đập bàn xô ghế… oai như cóc. Vả lại cái tên “Quốc” nó gần giống với “cóc” nên anh em tặng ông cái “nickname” này quá đúng.

Tôi không nhớ ai đã tặng “biệt danh” đó cho ông, rất có thể là Hoàng Hải Thủy vì ông này thích đặt tên cho người khác theo một nghĩa nào đó mà ông cho là thú vị, đôi khi còn gợi nhắc một hình ảnh, một giai thoại dù nhỏ nhưng rất riêng biệt. Tất nhiên, những “biệt danh” đó, có người thích, có người không thích, nhưng lâu dần rồi nó cũng “chết” tên rồi, không đổi được nữa. Cứ gọi như thế, “cả làng” cùng biết. Riêng Quốc Phong thì vui vẻ nhận cái tên “Tổng Cóc” mà chính ông không biết “thằng phải gió nào” đã đặt cho mình. Lần đầu tiên, từ Pháp, ông điện thoại cho tôi và xưng danh ngay: “Tổng Cóc” đây”!

Nghe cái tên ấy thôi, dù xa nhau bao nhiêu năm tháng, tôi vẫn thấy chúng tôi thật gần gụi nhau, có thể cởi mở, nói hết mọi chuyện với nhau không cần giữ gìn ý tứ, khỏi phải đề phòng, màu mè. Hơn bao giờ hết, tôi nhận thấy cái “nickname” nó quan trọng với tình bạn như thế nào. Cho nên hôm nay viết những dòng từ biệt anh, tôi vẫn giữ nguyên cái biệt danh ấy cho gần anh thêm, như chẳng bao giờ muốn rời xa.

ÔNG TỔNG RA ĐI

Vào một buổi sáng sớm ngày 28-2-2005 tức là ngày 20 tháng Giêng năm Ất Dậu, theo thường lệ, tôi mở hộp thư điện tử, đã thấy ngay cái tin buồn của Hồng Vân, con gái Quốc Phong, từ Houston gửi cho tôi báo tin:

Nhà báo Quốc Phong nguyên chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Vang và tuần báo Kịch Ảnh, nguyên chủ tịch Hội Chủ Báo, giám đốc hãng phim Liên Ảnh Công Ty, vừa từ trần lúc 8 giờ sáng ngày 28 tháng 2 năm 2005 tại Nice – Pháp Quốc. Ông sinh ngày 15-2-1924 tại làng Vân Ðồn, Hải Hậu, tỉnh Nam Ðịnh. Hưởng thọ 82 tuổi”.

Thật ra, đây là điều chúng tôi đã thấy ít nhất từ một hai năm trước, khi bệnh tình của anh trở nặng, phải vào bệnh viện để cắt một phần phổi và một miếng gan. Sau đó phải làm chemo để ngăn ung thư lan thêm ra. Mỗi lần vào thuốc như vậy anh rất khổ sở, mệt mỏi, buồn nôn. Thuốc đã làm rụng hết tóc. Ðã có lúc anh điện thoại cho tôi nói “không đi bệnh viện nữa vì chịu không nổi mỗi lần chemo — vào thuốc — muốn “đi” sớm cho đỡ khổ và khỏi làm phiền bà Thuận — vợ anh — nay cũng đã già yếu rồi”.

Trước tình cảnh ấy tôi chẳng biết nói câu gì, chỉ còn biết cầu nguyện cho anh mà thôi. 15 ngày trước đây, giữa tháng 2-2005, Hồng Vân gửi thư cho tôi xin lá đu đủ để gửi cho Bố uống bởi Vân nghe ai đó mách, thứ lá đó có thể chữa khỏi hoặc giảm bớt bệnh ung thư. Tôi hiểu đó chỉ là phương pháp cuối cùng, “còn nước còn tát” mà thôi, bởi anh yếu lắm rồi, hầu như chỉ còn nằm chờ ngày ra đi. Tôi thẳng thắn nói với Hồng Vân điều này.

SỰ THẬT VỀ LÁ ĐU ĐỦ CÓ CHỮA ĐƯỢC UNG THƯ KHÔNG?

Những năm gần đây, một đôi lần, tôi đã được một số bạn bè hoặc người quen ở nước ngoài, hỏi xin lá đu đủ để chữa bệnh ung thư. Tôi từng trình bày rõ ràng về trường hợp này. Nhân đây cũng xin trình bày cụ thể hơn về lá đu đủ có chữa được ung thư không?

Câu trả lời hết sức chân thật là tôi hoàn toàn không biết hiệu quả của nó ra sao. Tôi chỉ nghe người ta nói lại và yêu cầu tôi kiếm giùm thứ lá này. Từ đó tôi nhận được nhiều nguồn tin cho biết về một số trường hợp đã uống lá đu đủ. Có người khỏi hoặc kéo dài cuộc sống một thời gian nào đó, có người không đạt hiệu quả gì, “ra đi” luôn, nhưng hầu hết là vì bệnh tình quá nặng rồi.

Tôi chỉ biết làm mỗi công việc là đi tìm lá đu đủ phơi khô để gửi cho bạn nào ở nước ngoài cần. Sau đó người ta lại mách rằng lá đu đủ đực mới công hiệu. Thứ lá “đực” này quá hiếm vì đó là thứ đu đủ không có trái nên chẳng ai giữ làm gì cho tốn đất, cứ thấy đu đủ đực là chặt phăng ngay. Vì thế tôi lại phải nhờ người nhà ở Long Khánh vào rừng kiếm rồi trồng đu đủ đực ngay vườn nhà nên mới có để cung cấp cho bạn bè và ngay cả những người không quen. Tôi cũng xin nói rõ là tôi hoàn toàn tặng theo yêu cầu, tuyệt đối không hề nhận bất cứ cái gì của ai, dù một bao thuốc lá.

Thứ hai là dùng lá đu đủ để chữa bệnh chưa được một trung tâm y khoa hoặc nhà nghiên cứu nào công bố về tác dụng ra sao. Đây chỉ là bài thuốc dân gian, có lẽ chỉ có ở Việt Nam. Tôi chỉ biết một người bạn tôi uống lá đu đủ này từ vài ba năm nay và không gây tác hại gì, đến nay vẫn mạnh khỏe. Tuy nhiên anh ấy thỉnh thoảng vẫn đi bệnh viện khám lại nên chưa thể biết chắc vì thuốc Tây hay bài thuốc dân gian. Ðó là sự thật về lá đu đủ. Ai tin thì dùng. Chưa thể có một kết luận nào rõ ràng.

Tôi chưa kịp gửi lá đu đủ thì Quốc Phong đã ra đi rồi!

Cũng may, chứ nếu tôi vừa kịp gửi và ông Tổng Cóc vừa uống một liều đã lăn ra đi tàu suốt, tôi sẽ ân hận lắm và chưa biết chừng cái bài thuốc dân gian kia lại bị nghi ngờ cho cái tội làm chết người. Nói là nói thế thôi, tôi chắc người nhà ông Tổng Cóc chẳng ai nghĩ thế.

MỘT THỜI XƯA

Tôi biết Quốc Phong khi viết cho tờ Truyện Phim của anh Nguyễn Ngọc Linh. Hồi đó, khoảng năm 1957, anh Linh du học Mỹ mới trở về Việt Nam, tòa soạn báo còn đặt ở một ngôi nhà nhỏ đường Ký Con, thuộc Quận 1, Sài Gòn. Tuần báo Truyện Phim nhanh chóng được độc giả trẻ yêu thích, được đón nhận và gây tiếng vang từ miền Nam đến miền Trung. Hầu như sinh viên, học sinh thời đó, không ai là người không biết đến Truyện Phim. Tờ báo cũng nhanh chóng thay hình đổi dạng, trở nên bảnh bao hơn, bìa offset 4 màu, ca sĩ tài tử ngoại quốc và Việt Nam được trưng lên trang bìa hàng tuần. Bài vở về “cinéma” dịch từ những báo Tây qua Air France rất nhanh, sáng tác trang trong hầu hết là truyện thời đại rất hợp với tuổi trẻ. Ðặc biệt là mỗi lần ra số Tết đều có tặng thêm một cuốn lịch của hãng Paramount Picture rất bảnh chọe gồm 12 trang, mỗi tháng một trang, in hình tài tử thượng thặng thời đó của Hollywood như Ava Gardner, Grace Kelly, Audrey Hepburn, Marilyn Monroe, Frank Sinatra… Mỗi năm, ông tổng thư ký đích thân đi thuê đóng tất cả số báo trong năm, thành một tập bìa da, gáy mạ chữ vàng, cho anh em tòa soạn mỗi người một cuốn dày cộm lưu giữ làm kỷ niệm. Ðó là nét rất đặc biệt của tòa soạn Truyện Phim mà không tòa soạn nào làm được.

Hồi đó tôi còn độc thân, đi chiếc vespa ọc ạch, mỗi tuần ít nhất phải đến tòa báo một lần đưa bài. Phóng sự tiểu thuyết Những Ngày Hoa Mộng là feuilleton đầu tiên của tôi đăng trên tờ này. Cùng viết với tôi có Thanh Nam, Hoàng Hải Thủy, Gia Tuấn, Mai Châu… Anh em tòa soạn thường gặp nhau vào buổi chiều, buổi tối ở một nơi nào đó để cà phê, nghe nhạc. Nhà hàng La Pagode ở góc đường Tự Do còn bày bàn ghế ra vỉa hè rộng thênh và đó là nơi hội tụ khá nhiều gương mặt “văn nghệ” của Sài Gòn thời ấy. Hầu như không ai không biết đến nhà hàng này. Muốn gặp nhau thì buổi chiều cứ đến đó.

Năm 1957, tôi được biệt phái lên Pleiku thành lập Ðại Ðội 3 Văn Nghệ của Quân Khu 3, dưới quyền ông tướng nổi tiếng kỷ luật Ðỗ Cao Trí. Nhưng tiểu đoàn văn nghệ của tôi lại trực thuộc trung ương nên thỉnh thoảng tôi có dịp bay về Sài Gòn. Mỗi lần như thế ông Tổng Cóc kéo tôi đi ăn, đi chơi và không quên nhờ viết bài giới thiệu một ca sĩ đang được yêu chuộng để làm bìa báo. Vì thế tôi bỗng có thêm nghề tường thuật về “cuộc đời ái tình sự nghiệp” các danh ca tài tử, nhưng tôi lấy một bút danh khác là Hoài Giang Ngọc và đã có chuyện trớ trêu là một nữ ca sĩ, sau khi tôi phỏng vấn và viết bài, ngay hôm báo ra đã gặp tôi và “phỏng vấn” lại:

– Anh phỏng vấn em, sao lại để anh “vớ vẩn” nào viết bài vậy?

Hôm đó, có mặt cả Thanh Nam, Hoài Bắc, Mai Thảo, Quốc Phong. Mọi người cười phá lên, tôi cũng cười.

Thanh Nam chỉ tay lên sân khấu, lúc đó Hoài Bắc đang đứng hát:

– Người viết bài cho em là “thằng vớ vẩn” đang hát trên kia đấy.

Em ca sĩ trợn mắt:

– Ui cha, thật thế không anh?

Quốc Phong cũng hùa vào:

– Thật đấy, Hoài Bắc viết hay hơn nên anh đăng bài của anh ấy.

Tôi nói:

– Hoài Bắc tức Phạm Ðình Chương mà viết bài là nhất rồi, làm sao anh so sánh với anh ấy được.

Em ca sĩ nửa tin nửa ngờ, nhưng đợi Hoài Bắc hát xong, em đến cảm ơn như một người lịch sự nhất thế giới. Hoài Bắc cứ ớ mặt ra chẳng hiểu chuyện gì. Nhưng bản tính vốn hiền lành, chậm chạp, ít nói nên Hoài Bắc không thể nói nhiều và nói nhanh bằng mấy người chúng tôi họp lại. Nữ ca sĩ vẫn tin người viết bài cho mình là Hoài Bắc. Sau này khi biết chuyện, ca sĩ đó trả thù bằng cách cứ gặp tôi là chắp tay chào “Thưa chú Hoài Bắc”.

Trong số ca sĩ mà ông Tổng Cóc cùng tôi đi phỏng vấn, tôi chỉ còn nhớ mang máng có nữ ca sĩ Khánh Ngọc, Kim Chi, Minh Hiếu, Lệ Thanh, Thanh Thúy, Băng Tâm, Thùy Trang… Ơ, mà sao đến bây giờ tôi mới nhớ ra tại sao ông Tổng Cóc lại chỉ đưa tôi đi phỏng vấn nữ ca sĩ chứ không cho phỏng vấn nam ca sĩ? Lạ thật. Hay là ông cho rằng tôi chỉ có khiếu viết về nữ ca sĩ, còn gặp nam ca sĩ thì không có hứng? Câu hỏi này có lẽ phải chờ đến khi tôi gặp lại ông Tổng ở “bên kia” mới có dịp đặt ra.

TỪ BÁO TRUYỆN PHIM ĐẾN KỊCH ẢNH

Sau vài năm, khi tôi đã trở lại làm việc tại Sài Gòn, anh Nguyễn Ngọc Linh được lệnh động viên vào Thủ Ðức. Tờ Truyện Phim không có chủ, Quốc Phong bèn ra riêng, làm tuần báo Kịch Ảnh. Từ đó Kịch Ảnh được cải tiến nhiều trang mục khá hay và ăn khách hơn. Chúng tôi lại có mặt và công việc chẳng khác gì khi viết cho Truyện Phim. Và cũng theo thông lệ, hàng năm Kịch Ảnh vẫn đóng tập tặng cho anh em tòa soạn, đặc biệt cứ mỗi dịp cuối năm lại có một chầu tất niên rất linh đình. Sau mục ăn uống tất niên ở một nhà hàng thuộc loại khá sang như Văn Cảnh lại có mục đi ăn, đi chơi, bất chấp sang hèn ở bất kỳ nơi nào, theo đề nghị của đa số biên tập viên.

Lúc đó ông tổng thư ký đã lên chức “ông chủ báo” nhưng cái tên Tổng Cóc vẫn còn nguyên si. Không ai gọi ông là ông chủ như ông Ðinh Văn Khai hay bà Bút Trà. Kỷ niệm của chúng tôi về thời làm Kịch Ảnh quá nhiều, khó kể hết. Từ công việc tòa soạn đến những lúc đi quay phim, ngồi đánh chắn, đánh xì và sau này là xoa mạt chược còm. Trong làng mạt chược còm, giai thoại về ông Tổng Cóc đến nay vẫn còn được nhắc. Ngày đầu năm 2005 vừa qua, Nguyễn Ðình Toàn lên chơi nhà tôi ở Lộc Ninh còn nhắc lại “sự tích” này: Khi một người trong bàn mạt chược chỉ còn mỗi cây trên tay, tức là ăn và phỗng sạch rồi, chỉ còn chờ “tú la de” — có lẽ theo tiếng Tây là “tout ouvert”, mạt chược vốn là thứ ngôn ngữ loạn xà bì, Tàu, Tây, Mỹ lẫn lộn. Ông Tổng Cóc bèn đánh ngay ra con Hợp, tức là khung thứ ba ông đánh ra. Anh em trong bàn bật ngửa, nhưng biết ông mới tập chơi nên cho ông đánh lại. Nguyễn Ðình Toàn cười hăng hắc: “Nếu nó chờ con tài phao thì đúng Tổng Cóc nó là thánh”.

Ðánh xì với ông Tổng Cóc cũng dễ ăn, ông nóng tính nên thường thua nhiều hơn được, cho nên mỗi khi ông rủ tôi đi đánh xì là có anh bảo tôi đi lãnh lương. Nhưng cũng có lần ông ăn ngược tôi những ván đau như hoạn. Tôi 3 cẩu, ông có đôi xì, xì chết một con giữa bàn rồi, vậy mà ông “ta-pi”. Tôi chắc mẩm chỉ còn việc vơ tiền.

Nhưng khi ông rút bài và nặn ra “đen bụng”, ông lên ba xì, thế là ông vơ tiền, tôi ngáp.

Có những kỷ niệm cỏn con mà nhớ đời. Bạn bè lúc này chỉ còn những chuyện lẩm cẩm như thế mới thật thấm đậm. Còn chuyện lớn hơn như chuyện “Văn nghệ và phú lít” tôi đã có dịp kể trong vài số báo xuân những năm trước. Kể lại như một chuyện vui không hề giận hờn bất cứ ai trong câu chuyện thật 100% đó. Tuổi trẻ nào chẳng có những lúc sai lầm.

Ông Tổng Cóc rất hào hoa và có số đào hoa nữa. Ông cũng có vài mối tình với những người đẹp từng là danh ca, tài tử màn bạc. Chuyện này thì bà Quốc Phong đã “biết tỏng ti” đi rồi nên tôi có nhắc lại cũng chỉ là “ca tụng” một người đàn ông mà thôi. Có lần tôi đến tòa soạn báo Kịch Ảnh, lúc đó đã dọn về ngôi nhà 69 Cống Quỳnh là nhà riêng của gia đình Quốc Phong. Bà Thuận nói ngay: “Ông có muốn tìm ông Quốc Phong nhà tôi thì đến nhà cô XY… mà tìm”. Tôi hiểu ngay bà… hơi ghen một tí đấy, nhưng đó là chuyện tất nhiên của mọi bà vợ, ai chẳng vậy. Tôi chỉ thầm phục bà Thuận là bà rất trầm tĩnh, dường như bạn bè không ai biết. Bà ghen nhưng vẫn giữ gìn thể diện cho chồng con và hàng tuần vẫn tiếp chúng tôi đến nhà đánh chắn, ăn cá nướng, đớp bún chả tưng bừng, trong khi ông Tổng lợi dụng lúc bà bận rộn lỉnh đi chơi với đào. Vậy mà vợ chồng ông rất hòa thuận đến cuối đời. Sang Pháp cũng lại thỉnh thoảng dở bài ra đánh chắn với những bạn Việt kiều ở quanh đó.

TỪ KỊCH ẢNH ĐẾN LIÊN ẢNH VÀ CHÂN TRỜI TÍM

Làm báo Kịch Ảnh được vài năm, một bữa ông Tổng Cóc quyết định làm phim và ông tập hợp 7 hãng phim lớn ở Sài Gòn thời đó như Mỹ Vân, Alpha… thành lập công ty Liên Ảnh để làm cuốn phim “CinémaScope” màu đầu tiên ở Việt Nam. Ông đến gặp tôi bàn về việc lấy truyện dài Chân Trời Tím quay thành phim. Ðạo diễn đầu tên mà ông nhắm tới là Hoàng Vĩnh Lộc, tài tử thì ông dự định chọn một số người khác chứ không phải là thành phần tài tử đã đóng phim Chân Trời Tím. Nhưng sau đó, vì là một công ty nên có nhiều ý kiến khác nhau, cuối cùng công ty chọn đạo diễn Lê Hoàng Hoa, nữ tài tử chính Kim Vui, nam tài tử Hùng Cường. Mai Thảo và tôi được yêu cầu viết kịch bản đối thoại — bây giờ gọi là kịch bản văn học. Tôi mù tịt về cách viết kịch bản nên phải mang giấy bút đi học Hoàng Vĩnh Lộc và Hoàng Anh Tuấn. Hai tháng sau truyện phim mới hoàn thành.

Tôi gặp Lê Hoàng Hoa để thảo luận về truyện phim trên chuyến bay từ Sài Gòn đi Nha Trang và vỏn vẹn một ngày trước khi quay cảnh đầu tiên ở tiền đồn Suối Dầu. Tôi cũng là người của quân đội được cử đi phối hợp các lực lượng yểm trợ cho những cảnh quay lớn gồm căn cứ Không Quân, Hải Quân Nha Trang, trường Hạ Sĩ Quan và Trường Biệt Kích ở Ðộng Bà Thìn, Cam Ranh. Và như thế tôi nghiễm nhiên bước lên vai “cố vấn quạt mo về quân sự” cho cuốn phim. Mãi đến lúc đó chúng tôi mới quyết định mời nữ ca sĩ Mộng Tuyền đóng một vai trong phim này. Hồi đó nhà văn Ðỗ Tiến Ðức còn làm giám đốc Trung Tâm Ðiện Ảnh Quốc Gia, kiêm giám đốc Ðài Truyền Hình Việt Nam, nên Chân Trời Tím được yểm trợ tối đa. Quốc Phong, Ðỗ Tiến Ðức và tôi chỉ gặp nhau đúng một lần, mọi chuyện đã xuông xẻ ngay, không có trở ngại nào đáng kể.

Tuy vậy, thú thật là tôi cũng không hy vọng nhiều vào tương lai cuốn phim, nhất là về thành phần tài tử, không chỉ mình tôi mà ngay những người quanh tôi cũng không yên tâm. Nhưng tôi chẳng có quyền hạn gì và cũng chẳng biết gì về việc quay phim. Một đôi lần được hỏi ý kiến, tôi mang hết những hiểu biết về quân sự của mình ra bàn bạc. Ngay cả khi Hùng Cường đóng vai hạ sĩ nhất, anh cũng chưa biết cái “lon” của nó đeo ra sao, ở cánh tay hay trên cầu vai. Tôi phải đưa Hùng Cường đi mua “lon” và đích thân “gắn lon” cho anh ấy. Bọn trẻ bu lại coi danh ca cải lương đông quá.

Nhưng như nhiều bạn đã biết, cuốn Cinemascope Chân Trời Tím đã thu hút một lượng khán giả lớn và gây tiếng vang đáng kể. Ông Tổng Cóc hỉ hả chi cho tôi một khoản tiền và sau đó, khi phim mang sang chiếu ở Lào và ở Pháp, ông cũng không bao giờ quên tôi. Nhờ vậy tôi mới có được chiếc Toyota vi vút với thiên hạ.

Xin cảm ơn ông Tổng Cóc.

NGƯỜI “CHẠY NHANH” NHẤT SÀI GÒN

Khoảng cuối tháng 2-1975, tức là trước ngày “bể dĩa” 30-4-1975 hơn một tháng, khi tôi chuẩn bị đưa phái đoàn đi du hành quan sát ở Ðài Loan thì Quốc Phong đang xin giấy tờ đi Pháp dự Ðại Hội Ðiện Ảnh. Buổi tối sau cùng, chúng tôi ăn cơm ở nhà Phương Hồng Hạnh cùng một số bạn bè, sau đó đi ăn chơi ở Bar Dancing Tự Do. Lúc đó Quốc Phong mới rù rì với tôi, đã bán nhà bán xe và mang theo cả vợ con đi Pháp. Tôi hiểu ngay anh đã dự tính ở hẳn lại Pháp rồi. Anh còn bày tỏ ý định mở một cửa hàng ăn ở Marseille là nơi anh đã có một người bà con ở đó. Chúng tôi bắt tay nhau từ biệt trong bóng tối của Tự Do. Thầm hiểu sau lần gặp này khó có cơ hội gặp lại. Tuy vậy cũng chưa ai có thể dự đoán được tình hình sẽ bi đát thế nào.

Khi tôi ở Ðài Loan về thì Quốc Phong đã đi rồi. Anh có người con trai duy nhất sau Hồng Vân là Nguyễn Văn Thông. Cậu con trai đeo cặp kính cận thường hay ra tòa soạn báo Tiếng Vang ở đường Phạm Ngũ Lão ngồi với mẹ. Cậu ngồi oách lắm và tập làm “trị sự” nối nghiệp Bố. Nhưng vào năm 1972-73 gì đó cậu đã sang Thụy Sĩ du học, cả cô con gái út là Ngân Hà cũng đi du học ở Thụy Sĩ sau khi có bằng Tú Tài 2. Còn Hồng Vân có gia đình riêng nên ở lại Sài Gòn, đến năm 1979 mới vượt biên đến Thái Lan và Tổng Cóc qua đón mẹ con Hồng Vân sang Nice đoàn tụ. Ai cũng nói là Tổng Cóc khôn và “chạy nhanh” nhất Sài Gòn.

HOẢNG HỒN VÌ ĐƯỢC GỬI TIỀN

Sau này, khi tôi từ “trại cải tạo” ra, đói rách thê thảm. Có tới bốn năm cái “không”: Không nhà cửa, không vợ con, không hộ khẩu, đi ở nhờ, nhất là không tiền. Bỗng một hôm nhận được khoản tiền 1.100 quan Pháp của Nguyễn Văn Hanh gửi về từ Pháp. Lúc đó còn phải lãnh tiền ở đường Cô Giang, chợ Cầu Ông Lãnh. Tuy cánh cửa nhà nước đã hé mở tí ti, nhưng vẫn phải khai báo lôi thôi lắm. Tôi vừa khai báo xong thì một ông đúng người Bắc Kỳ 75 thứ thiệt bèn xán lại hỏi tôi:

– Nguyễn Văn Hanh có phải là Quốc Phong không và bây giờ ông ấy ở đâu? Ông quen với ông Hanh như thế nào?

Tôi hoảng hồn, cứ nghĩ là ông theo dõi mình, dò xét xem “liên hệ của bọn văn nghệ” này ra sao, có làm gì “phản động” không. Vừa ở trại cải tạo ra, nghi ngại như thế là hoàn toàn “đứng đắn”, vừa ra lại vô ngay thì cuộc đời còn gì nữa. Thế nên tôi trả lời u ơ rồi lỉnh ra chỗ khác, chờ lãnh tiền xong là biến. Nhưng sau này bình tĩnh lại mới chợt nghĩ nếu là công an thì họ vào thẳng quầy trả tiền hỏi lý lịch, chứ cần gì hỏi tôi. Có thể đó chỉ là người nhà hoặc người cùng làng với Quốc Phong từ Bắc mới vô Nam mà thôi. Tôi cũng hơi yên tâm, lúc đó tôi mới trả lời Tổng Cóc là tôi đã nhận được tiền và cũng nhờ món tiền đó tôi hiên ngang xin ghi tên theo học lớp vi tính ở trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn vào những khóa đầu tiên mà hồi đó chưa có Windows nên các thày cô giáo phải dạy tôi học vỡ lòng từ hệ điều hành DOS.

Tôi lại phải cảm ơn Quốc Phong một lần nữa vì cái nghề mới mẻ này tôi đã học được để có thể kiếm cơm ngay sau đó ít lâu và cũng nhờ nó tôi có can đảm ở lại Sài Gòn. Sau này cứ mỗi năm, đến gần Tết, ông lại gửi cho tôi đúng một ngàn quan Pháp. Tôi biết là ông đã trích trong số “tiền già” ít ỏi mà ông đang nhận chứ không làm ăn buôn bán gì. Nhiều lần ông điện thoại hỏi tôi có nên về Việt Nam chơi không. Những năm đầu tôi trả lời khoan đã, đợi xem thế nào. Vài năm sau, tôi thấy có thể về chơi được nên mạnh dạn nói với ông: “Già rồi, ông còn làm được cái cóc gì nữa mà người ta làm gì ông. Tôi thấy có thể về được đấy”. Vậy mà hai ba năm sau, ông mới trở về. Hai vợ chồng và cậu con trai cùng cô con gái út và chồng kéo nhau đến nhà tôi vào một buổi chiều. (Ảnh: Văn Quang, Quốc Phong, Phan Nghị).

Cậu con trai bây giờ đã là kỹ sư làm việc cho một hãng nước ngoài. Tôi chợt nhớ tới hình ảnh anh “nhóc” đeo kính cận hạng nặng ngồi với mẹ ở tòa soạn báo Tiếng Vang xưa. Lúc này cậu cũng viết lách như một thú vui và ký tên Nguyên Ngã. Còn cô gái út, ngày nào chỉ thích ôm con mèo chạy lăng xăng hết trên lầu đến dưới nhà, bây giờ cũng đã có hai con. Cuộc đời trôi nhanh quá.

Chúng tôi cùng hiểu rằng ông về Việt Nam lần này chắc là lần cuối. Ðó là tâm trạng của hầu hết bạn già của tôi, muốn được trở lại nhìn quê hương, thăm họ hàng anh em một lần trước khi không bao giờ về được nữa. Dịp đó cũng là dịp đứa cháu ngoại của ông còn ở lại Sài Gòn với bố, lấy chồng ở Ðan Mạch. Chúng tôi vui vẻ đi ăn cưới và đến nay thì cô cháu ngoại ở Ðan Mạch cũng đã có một đứa con trai và cũng đã sang Nice thăm cụ cố ngoại trước khi cụ mất ít ngày. Thế là ông Tổng Cóc của tôi đã đạt cả hai ước nguyện: về thăm quê hương và bế đứa chắt đầu tiên của mình. Ðó là an ủi cuối cùng cho ông bạn tôi.

Trước Tết năm vừa qua vài ngày, khi tôi còn ở Sài Gòn, ông cũng điện thoại cho tôi ngay lúc ở bệnh viện về đến nhà ở Nice. Ông than mệt mỏi, không ăn uống gì được và chỉ mong được ra đi. Tôi không chờ đợi nhưng cái tin buồn kia rồi cũng đến. Hồng Vân kể lại, ông ra đi nhanh chóng nhẹ nhàng trong giấc ngủ với gương mặt hiền hòa toại nguyện, vì đã gặp lại tất cả con cháu và nói chuyện lần cuối cùng với những người thân thiết trong đời. Vĩnh biệt ông Quốc Phong. Mãi mãi trong lòng tôi, ông vẫn là Tổng Cóc của cả anh em chúng tôi còn ở đây hay đã ở nơi khác.

Tang lễ của ông đã được cử hành tại Nice, Pháp quốc, sáng ngày Thứ Năm 03-3-2005. Sau lễ hỏa táng, gia đình gồm vợ con và các cháu nội ngoại — trừ Hồng Vân ở Houston, Texas không xin kịp visa — cùng rất đông bà con Việt kiều có mặt tại Nice, đã đưa linh hồn ông đến an nghỉ cuối cùng tại chùa Phật Quang. Chủ Nhật 6-3-2005 Thượng tọa Thích Tâm Châu sẽ làm lễ cầu siêu cho ông tại Chùa này. Tại Houston, Hồng Vân làm lễ cầu siêu cho Bố tại chùa Linh Sơn chiều Thứ Bảy 05-03-05.

Cô em họ ông, bà Phương Thảo, hiện ở Sài Gòn cũng làm lễ cầu siêu cho ông vào sáng Chủ Nhật 6-3-2005, tại chùa Hải Ðức — ngôi chùa của Hội làng Vân Ðồn — ở quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Xin thắp một nén hương cho người bạn thân thiết của tôi suốt một thời trai trẻ.

(Sài Gòn 6-3-2005)

(Hết Chương 8)

Share this post