Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (03)

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (03)

SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

Gửi các bạn tôi
sống, chết ở Sài Gòn…
* Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
HOÀNG HẢI THỦY

(Tiếp theo kỳ trước)

Chữ Thọ vừa ăn đứt Ngọa Long.
Bến Nằm dư biết đục hay trong.
Chỉ thương kiếp đá ai bày trận,
Để ngấn vàng reo chợt rối vòng
“.
Thơ Vũ Hoàng Chương làm năm 1969, năm nhà thơ 55 tuổi. Năm ấy ông thọ hơn Khổng Minh Gia Cát Lượng một tuổi. Thơ nói đến Ngọa Long – Rồng Nằm. Ngọa Long Gia Cát là Rồng Nằm ở Nam Dương, Trung Quốc. Vũ Hoàng Chương là Rồng Nằm ở Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa.
Tháng Ba 1976 – năm Bính Thìn, tức năm Rồng – Cộng sản Hà Nội phát động chiến dịch bắt giam văn nghệ sĩ VNCH. Trong vòng hai ngày, hai đêm khoảng ba mươi văn nghệ sĩ ta bị bắt, trong số có các anh Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Trần Việt Sơn, Mặc Thu, Vũ Hoàng Chương…
Nói đến Vũ Hoàng Chương là nói đến Thơ. Vũ Hoàng Chương không cần có cái danh thi sĩ đi trước tên. Từ năm 1965 Vũ Hoàng Chương không còn là thi sĩ nữa, ông là thi bá. Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ tan tành, thi bá cùng những văn nghệ sĩ Sài Gòn chịu chung số phận bi thảm cùng với nhân dân: tù đày, tuyệt vọng, đói khổ, bị sỉ nhục, bị kết tội. Khi Vũ Hoàng Chương là thi bá, ông được người ta trịnh trọng mời về cư ngụ trong biệt thự của người ta ở khu Lăng Cha Cả. Từ những năm đầu 1970, thi bá không còn bận âu phục com-lê vét-tông nữa. Thi bá bận áo dài ta. Tết đến, thi bá bận áo sa mầu lam ngọc, cầm quạt giấy, ngồi chụp ảnh trên hiên nhà bên chậu mai vàng, trông phong nhã cứ như thi sĩ Tầu Đường Bá Hổ.
Cờ đỏ, súng AK, nón cối, giép râu ngơ ngáo vào Sài Gòn. Trong một sớm, một chiều thi bá trở thành “tội nhân” của chế độ Cộng sản. Người ta đuổi ông bà thi bá đi khỏi biệt thự của người ta không chút nể nang. Ông bà thi bá đưa nhau về sống ở khu Khánh Hội, chung nhà với bà quả phụ Đinh Hùng. Tháng Ba 1976 Công an thành Hồ đến nhà đưa thi bá đi. “Người ta” đây là bà Mộng Tuyết, người có thơ trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân – Hoài Thanh.
Cộng sản Hà Nội coi toàn bộ tác phẩm văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa là phản động, đồi trụy. Họ cấm hết, tịch thu, tiêu hủy hết. Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng bị xếp vào loại Thơ Ma Mị, Bệnh Hoạn.
Những mùa thu lá bay theo nhau qua. Cộng sản vẫn còn đó, những anh Cán Cộng làm văn hóa như anh Trần Trọng Đăng Đàn, người từng viết mạt sát Vũ Hoàng Chương, vẫn còn đó; nhưng, bất chấp những đổi thay nhân thế – vào những năm 1987, 1988, sau Đại Hội Cộng Đảng thứ Sáu, Tổng Bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ – tác phẩm của Vũ Hoàng Chương ngang nhiên xuất hiện trở lại trên những giá bày trang trọng nhất trong các tiệm sách thành Hồ.
Việt Cộng tranh nhau tái bản tác phẩm của Vũ Hoàng Chương. Nhà xuất bản Trẻ thành Hồ tái bản những tập thơ Mây, Thơ Say, nhà xuất bản Đồng Nai in tập Thơ Vũ Hoàng Chương, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Hà Nội tái bản hồi ký “Ta đã làm chi đời ta?” của Vũ Hoàng Chương với vài chương bị cắt bỏ.
Chỉ mười năm sau ngày Vũ Hoàng Chương bị mạt sát, bị bắt giam, tác phẩm bị cấm đoán, chính những kẻ đã nặng lời mạt sát, đã bắt giam Vũ Hoàng Chương, lại ca tụng Vũ Hoàng Chương ở ngay giữa lòng thành Hồ. Mời bạn đọc bài viết dưới đây đăng trên tuần báo Thanh Niên, ấn hành ở Sài Gòn năm 1996:
Câu chuyện văn học: Đọc Hồi Ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta?” – Người viết: Tây Tạng”
Khi tái bản cuốn “Ta Đã Làm Chi Đời Ta” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976), nhà xuất bản Hội Nhà Văn trong lời dẫn đã xem đó là “một trong những tư liệu có thể giúp bạn đọc hiểu thêm về không khí văn học thời ấy” (trước 1945).
Trong cuốn hồi ký đó Vũ Hoàng Chương kể rằng, sau khi in tập Thơ Say (1940), nhiều bạn thơ của ông nóng lòng chờ đợi thi phẩm Mây ra mắt, trong đó có Huy Cận. Một hôm gặp nhau ở Cống Chéo, Hàng Lược, Huy Cận tay bắt, mặt mừng rồi ứng khẩu liền hai câu thơ: “Đã lâu gặp lại Chàng Say. Lửa Thiêng xin đợi chờ mây xuống trần“. Ý muốn nhắc tập thơ Mây của Vũ Hoàng Chương. Vừa nghe xong, ông nghĩ rất nhanh rằng có lửa phải có khói và ngâm tiếp hai câu nối theo Huy Cận: “Mây kia chẵng chịu xuống trần. Lửa ơi theo khói lên gần với Mây“. Huy Cận lấy làm thú vị, lôi ngay Hoàng (VHC) vào hiệu phở đầu phố Hàng Đồng, khăng khăng đòi đãi Hoàng một chầu kỳ no thì thôi. Đó là năm 1942.
Mùa thu năm sau (1943) nhà xuất bản Đời Nay in tập thơ Mây, “nó đã xuống tà tà theo lời gọi âm binh của phù thủy Tô Ngọc Vân (…) Bầu rượu và đám mây đều mầu nâu, bìa sách thì mầu vàng rực rỡ (…) chiếc bầu rượu này chẳng hiểu có phải Tô Ngọc Vân đã chiêm bao nhặt được ở tận Đông Hải, do Lý Thiết Quài đại tiên bỏ quên hay không. Chỉ biết hình thù nó mập tròn, nét vẽ đậm, và đặt chênh chếch tưởng đâu sắp té ngửa đến nơi, và té ra ngoài bìa sách“.
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết một cách di dỏm như vậy trong hồi ký trên. Quanh chuyện tập Mây, ông nhắc đến nhóm Xuân Thu Nhã Tập, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Khoát… cách in ấn, tiền nhuận bút có giá thời ấy, chuyện “mãi văn”, những bữa tiệc biên bông (ghi nợ) có thịt bò tái, gà luộc, chả giò, nấm hương…
Ngoài Thơ Say, Mây, Vũ Hoàng Chương còn là tác giả của Rừng Phong (1954), Hoa Đăng (1959), Cảm Thông (1960), Tâm Sự Kẻ Sang Tần (1961), Trời Một Phương (1962), Lửa Từ Bi (1963), Bút Nở Hoa Đàm (1967), Cành Mai Trắng Mộng (1968) và cuốn Hồi ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta?” xuất bản năm 1974. Trong đó ông nhắc đến nhiều kỷ niệm liên quan đến những văn nghệ sĩ thời trước, như chuyến tầu có tác giả O Chuột, Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, và tác giả Lỡ Bước Sang Ngang cùng đi với ông đến Phủ Lạng Thương. Ba người tìm đến nhà ông Bàng Bá Lân, tuy cả ba “chẳng ai có dịp nhất kiến với ông Bá họ Bàng cả. Không biết đến quấy rày người ta có tiện chăng. Nhưng suy đi, xét lại đàng nào cũng là trong văn giới với nhau. Tương phùng hà tất tằng tương thức. Bạch Cư Dị chẳng đã bảo thế là gì!” Quả vậy, cả ba được Bàng Bá Lân tiếp đãi tử tế, cơm nước no bụng, rồi mời khách dạo phố cho tiêu cơm.
– Đến cầu sông Thương sẽ quay về ngủ cũng còn sớm chán.
Câu nói của chủ nhân có tác động tâm lý khác nhau đối với Tô Hoài, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính.
Chàng Tô thì mãn ý quá…, được ngao du không mất tiền, lại được ăn ngon và hứa hẹn một giấc ngủ kỹ. Thế là nhất rồi.
Còn Hoàng, chẳng vui, chẳng buồn. Cái tỉnh lỵ Bắc Giang này quá quen thuộc. Cả đến con sông Thương nước chẩy đôi dòng kia, đục phía nào, trong phía nào, Hoàng cũng nhắm mắt mà thấy được (…)
Bính thì hận lắm. nhà thơ này cứ tưởng thế nào chủ nhân cũng đãi một chầu hát linh đình, gọi là đánh dấu cuộc hội ngộ “Tứ bất tử” mới xứng đáng chứ. Đi khắp thiên hạ, mòn gót giày, gẫy bánh xe để tìm “tri kỷ”, mà “tri kỷ” lại bảo dạo phố rồi về ngủ sớm trước mười giờ tối, hỏi có tức không? Thế rồi lỉnh kỉnh đêm ấy Bính cứ ngồi dậy hút thuốc lào vặt hoài“.
Vũ Hoàng Chương kể tiếp rằng khuya đến ông cũng không ngủ được, cùng Nguyễn Bính liên ngâm một bài nhằm “lấy vần điệu làm binh lực phá cái thành sầu”: “Tô Hoài, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương. Còi thét vào ga Phủ Lạng Thương…”.
Trong hồi ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta“, Vũ Hoàng Chương trích lại nhiều đoạn thơ, như tám câu ông ngâm lên trong một chuyến tầu từ ga Đồng Mỏ quay về:
“Đôi lứa ban đầu mất Lạc Viên
Cho ta ngàn kiếp nhớ thiên duyên.
Chiều nay mộng thắm vừa tơ nối
Vườn cũ ngôi vàng lại gió lên.
Mây nước dâng cao, hồn chắp cánh
Trần ai rũ sạch, nẻo về tiên.
Bao la trăng động niềm ân ái
Giọng hót chim trời líu ríu men”.

Bài thơ trên giấy trắng, mực đen còn đó mà nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã ra đi không về, vĩnh biệt những bạn yêu thơ cách đây chớp mắt đã 20 năm tròn: 1976-1996! (Tây Tạng)

Người viết Tây Tạng không nhắc gì đến chuyện Vũ Hoàng Chương bị Công an thành Hồ đến tận nhà bắt đi, giam giữ trong khoảng năm, sáu tháng, thả về được vài ngày thì chết. Gần như tất cả những văn nghệ sĩ Sài Gòn bị bắt trong đợt khủng bố tháng Ba 1976 đều bị đưa vào giam ở Nha Cảnh Sát Đô Thành, rồi sang Nhà Giam Số 4 Phan Đăng Lưu chịu thẩm vấn, ở đó khoảng một năm, trước khi sang Chí Hòa chờ đi các trại lao động cải tạo. Không văn nghệ sĩ nào gặp hay nhìn thấy anh Vũ Hoàng Chương ở trong tù. Có thể anh bị giam ở sà-lim (Công an VC gọi theo Tầu Cộng là “biệt giam”) ở nhà tù Tổng Nha Công An Cảnh Sát cũ của ta, hoặc ở Chí Hòa. Nghe nói khi Công an đọc lệnh bắt giam, anh Chương nói:
– Tôi chờ các anh lâu rồi. Sao bây giờ các anh mới đến?
Cũng nghe nói anh là tác giả câu:
Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do
“.
Tôi tin câu trên đây là của anh Chương, phải là thi sĩ lớn như Vũ Hoàng Chương mới làm được câu đó.
Ngày 24 hay 25 tháng Tư 1975, buổi trưa tôi đi tìm anh Nguyễn Mạnh Côn để từ biệt anh:
– USIS đưa tôi và vợ con tôi sang Mỹ. Tôi đến chào anh.
Đến ngày hôm ấy anh Côn vẫn không tin Việt Cộng chiếm được Sài Gòn. Tôi chưa ra khỏi chỗ anh Côn nằm thì anh chị Vũ Hoàng Chương đến. Lúc này anh Chương đã yếu, anh đi đâu cũng có chị đi theo.
Khi tôi bắt tay từ biệt anh, anh Chương nói:
– Tôi bắt tay cậu lần này chắc là lần cuối.
Anh nói đúng. Tôi nghe nói anh chị Chương bị bà Mộng Tuyết mời ra khỏi nhà, phải về sống trong căn nhà nhỏ của chị Đinh Hùng ở Khánh Hội, nhưng không một lần tôi sang đó thăm anh. Rồi anh bị bắt.. Một chiều buồn, tôi trên xe đạp đi lang thang trong thành phố yêu thương, lòng sầu não đến có thể tự tử, ghé vào tiệm cà phê H.M. đường Cao Thắng tôi gặp Văn Thanh; anh cho tôi biết anh Chương từ nhà tù trở về nhà được bẩy ngày thì chết, mới đưa đi chôn hôm qua. Nhà chùa cho anh chỗ nằm vĩnh viễn. Tôi biết tin anh Chương mất cùng với tin anh được thả.
Trên đường về Ngã Ba Ông Tạ tối hôm ấy tôi làm tặng anh Chương bài thơ “Đọc Thơ Vũ Hoàng Chương”:
Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay
Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.
Anh vẫn Hoàng Chương, vàng với ngọc.
Trần ai nào lấm được trời mây.
Người về ngôi cũ, thơ trầm nhạc
Tàn lửa hồng hoang, khói Mái Tây.
Chín ngục A Tỳ ma sửa áo.
Mười tầng Địa Phủ quỷ cung tay.
Cười vang một tiếng tan tinh đẩu
Sáu cửa luân hồi nhẹ cánh bay!

Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng là hai nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam Cộng Hòa. Hai anh lại là anh rể, em vợ. Cuộc sống của hai người có sự khác nhau: khi sống anh Chương được đời trọng vọng, trọng đãi, anh đi dự nhiều hội thơ quốc tế, anh Hùng sống trầm lặng với công việc chủ biên những chương trình Thơ ở Đài phát thanh. Anh Hùng qua đời năm 1967 khi chế độ Cộng hòa của ta vững vàng, đất nước của ta, quân đội của ta, văn nghệ sĩ và người ái mộ đi đưa đám anh thật đông, anh nằm ở Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Anh Chương ra đi khi cờ đỏ, giép râu đã vào làm chủ Sài Gòn, anh chết trong quạnh hiu, nghèo nàn. Khi anh mất, bọn chúng tôi lớp ở trong tù, lớp còn ở ngoài thì tối tăm mặt mũi, lo sợ, tuyệt vọng. Tôi chắc không có được mười văn nghệ sĩ đưa tiễn anh Chương đến nơi yên nghỉ cuối cùng.
Văn Thanh là họa sĩ, làm việc ở nhà in Kim Lai, hơn tôi đến mười tuổi. Chị Văn Thanh có bút hiệu Kiều Oanh, viết một số truyện mỗi ngày trên nhật báo Chính Luận. Khi xuất bản tuyển tập “Yêu và Ghen” chị nhờ tôi viết Tựa. Sau 1975 có lần tôi hỏi Văn Thanh:
– Nghe nói trước kia anh khoái xã hội chủ nghĩa lắm mà? Anh vẫn chống chế độ cũ. Sao bây giờ coi bộ anh rầu rĩ quá vậy?
Văn Thanh nói như khóc:
– Mình không thích chế độ cũ nhưng mình cũng không thể ưa nổi cái chế độ này.
Anh kể:
– Được tin ông Chương về, mình mang hộp sữa đến thăm ông ấy. Thấy mình, ông ấy nói: “Ai không đến thăm tôi, tôi cũng không buồn. Chỉ có Văn Thanh mà không đến là không được”.
Nhờ Văn Thanh, tôi được đọc tập di cảo của anh Chương gồm những bài thơ cuối cùng và tập “Truyền Kiều“. Anh Chương lấy những câu Kiều tám chữ, ngắt đi một chữ làm thành thơ bẩy chữ, những câu Kiều sáu chữ được anh thêm vào một chữ, những chữ thêm này cũng lấy trong Kiều, làm thành thơ bẩy chữ. Toàn tập “Truyền Kiều” là thơ bẩy chữ lấy ra từ những câu thơ Kiều. Tôi vẫn định sẽ chép lại tập di cảo của anh Chương, nhưng lần lữa mãi, rồi tôi bị bắt hai năm được về, bị bắt lại… Năm 1990 khi tôi từ nhà tù trở về lần thứ hai, Văn Thanh đã qua đời.
Nón cối, giép râu vào Sài Gòn, thi bá của ta có hứng làm thật nhiều thơ. Anh chép thơ vào những tờ giấy, cho những người đến thăm anh. Anh viết bằng thứ bút tự anh vót lấy bằng tre già, chấm mực Tầu, những nét chữ bay bay, phơi phới.
Khoảng cuối năm 1975, khi Việt Cộng chưa bắt giam tập thể giới văn nghệ sĩ Sài Gòn, khi anh Chương vẫn còn sống, một đêm đi chơi khuya, tôi về ngủ với Mai Thảo trong căn nhà của anh Nguyễn Đăng Viên ở đường Phan Đình Phùng. Sau tháng Tư 75, Mai Thảo rời căn phòng Chiều Tím để về ở đây. Bọn Công an thành Hồ bắt hụt Mai Thảo ở nhà này. Trong ngăn kéo bàn ngủ bên giường Mai Thảo có mấy bài thơ của anh Chương. Trong số có bài anh tặng Mai Thảo. Vì chỉ đọc có một lần và thời gian đã quá lâu, có thể hôm nay tôi nhớ không đúng trọn vẹn bài thơ:
“Giã Từ Hà Nội Đêm còn nhớ?
Bẫy Ngầm ai biết chuyện bây giờ?
Buồn như Bầy Thỏ Ngày Sinh Nhật,
Về Đỉnh Trời xem lại Chúc Thư!”

Có ba bài thơ của anh Chương, tôi chỉ đọc một lần, trong một buổi tối, ở nhà Văn Thanh mà nhớ luôn. Hôm nay để tưởng niệm anh – Tội nghiệp. Ở thành Hồ chúng tôi không làm lễ tưởng niệm anh được, tôi không biết những người yêu thơ Vũ Hoàng Chương ở hải ngoại từ hai mươi mấy mùa lá rụng nay có lần nào làm Lễ Tưởng Niệm nhà thơ hay không? – Khi đặt tên cho khu rừng Elm Arlington nơi vợ chồng tôi đến ở là Rừng Phong, tôi mượn tên Rừng Phong của anh Chương, anh Chương mượn Rừng Phong trong “Rừng phong thu đã…” của Tố Như. Chiều cuối thu, đầu đông ở Rừng Phong, tôi kể lại những lời thơ của anh Chương theo trí nhớ của tôi:
“Chàng về trong mộng đêm đêm
Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ.
Xa nhau nàng vẫn mong chờ
Vẫn ôm trong mộng giấc mơ liền cành.
Biết đâu chàng đã trở thành
Xương tàn một nắm vô danh bên trời.
Bờ sông, bãi cát bồi hồi
Đã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu!
Chữ Đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương!
Là Nam Bắc, là Âm Dương?
Lệ hay máu rỏ con đường nào đây!”

Xin nói thêm một lần nữa: Vì chỉ đọc có một lần những bài thơ này nên có thể tôi nhớ không đúng hẳn. Hy vọng một ngày không xa chúng ta, những người yêu thơ Vũ Hoàng Chương, sẽ được đọc nguyên bản những bài thơ cuối cùng này của thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong Thơ Vũ Hoàng Chương Toàn Tập nghe nói hiện đang được biên tập để ấn hành.

Trong lệnh bắt nhà thơ, lý do bị bắt được ghi là: “Sáng tác và phổ biến thơ văn phản cách mạng”.
Sau 1975, nếu Vũ Hoàng Chương “chịu” không làm thơ, hay anh làm thơ nhưng không cho ai biết, không đưa thơ anh cho ai, có thể anh đã không bị bắt. Nhưng anh đã làm thơ. Chỉ cần những lời thơ diễn tả nỗi đau thương của những cặp vợ chồng trẻ phải sinh ly, người chồng bị đi tù nơi rừng thiêng, nước độc có thể đã chết, thân xác đã bị vùi trong cỏ cây, người vợ trẻ vẫn mong chồng trở về, đêm đêm vẫn mộng thấy chồng trong giấc mơ ân ái, là đủ để cho nhà thơ bị kết vào tội phản cách mạng và bị bắt giam.
Ý thơ không mới. “Chàng về trong mộng, liền cành, xương tàn, vô danh, bên trời, bờ sông, bãi cát, trắng, khô, chữ đồng, nét sầu…”, những tiếng xưa cũ được tài hoa của thi sĩ làm sống lại và não nùng mang mang lửa sống. “Chàng về trong mộng đêm đêm” sống lại từ bài “Lũng Tây Hành” của Trần Đào:
“Thệ tảo Hung Nô bất cố thân
Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần.
Khả liên Vô Định hà biên cốt
Do thị xuân khuê mộng lý nhân”.

(Thề giết Hung Nô chẳng tiếc thân
Đất Hồ chiến sĩ chết năm ngàn.
Thương thay xương trắng sông Vô Định
Vẫn về Em trong giấc mộng xuân).
Thi sĩ thiên tài làm cho ý thơ xưa sống lại, làm tim ta đau nhói. Bây giờ hơn hai mươi năm sau, những người bị Việt Cộng bắt đi cải tạo nếu còn sống tuyệt đại đa số đã đưa vợ con sang ở Hoa Kỳ, những người đã chết… đã chết; nay đọc những lời thơ xưa về một thời bi thảm, có thể ta chỉ thấy ngậm ngùi, nhưng hãy nhớ lại những ngày, những đêm ghê rợn cuối năm 1975, đầu năm 1976, khi những người thân của ta bị gọi đi cải tạo và bị đưa đi mất tích, những lời thơ “Chàng về trong mộng đêm đêm…” làm cho ta vỡ tim.
Chữ đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương.

Ý lấy từ:
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.

Vũ Hoàng Chương đem lại đời sống mới rạo rực yêu, thương, và đau cho những tiếng “tạc một chữ đồng đến xương”. Chỉ có thiên tài Vũ Hoàng Chương mới biến nổi tiếng khóc của những người Việt phải xa nhau vì họa Cộng sản trong nửa cuối thế kỷ 20 thành thơ:
Chữ đồng tạc lấy cho sâu
Ai hay lẻ một nét sầu đến xương

Năm 1975 là năm Mão – Mèo. Năm 1976 là năm Thìn – Rồng. Đúng 24 năm, hai con giáp, đã qua kể từ năm 1975. Năm 2000 là Năm Thìn. Tết Năm Thìn 1976 ở Khánh Hội, Sài Gòn, Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Vịnh Tranh Gà Lợn”:
“Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngân váng khúc tân thanh”.

Đúng là “thơ có họa“. Thi bá xử dụng tài tình lời người xưa – Tô Đông Pha – nói về thơ và tranh của Vương Duy: “Họa trung hữu thi, thi trung hữu họa””. Họa trong “Rằng vách có tai, thơ có họa” là tai họa, là tù đầy, là chết chóc. “Vách có tai” là chuyện Công an gọi một số văn nghệ sĩ không bị bắt đến sở, bắt phải khai báo về đời sống, việc làm của những văn nghệ sĩ khác. Khi nghe nói: “Vũ Hoàng Chương có làm thơ…” họ cho người đến xin những bài thơ mới của thi bá về nộp cho họ. Chỉ cần hai bài thơ vừa kể là họ đã có đủ lý do bắt giam nhà thơ. Bài thơ “Chàng về…” tả nỗi sầu oán của những cặp vợ chồng bị tai họa cải tạo.
Sau đây là bài thơ thứ ba của anh Chương, tôi chỉ được đọc có một lần là nhớ mãi, bài thơ anh làm trong xà-lim:
“Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn
Lông hồng gieo xuống nặng như non.
Một manh chiếu nát, thân tơi tả
Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn
Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ
Đêm về gíấc ngủ lại thương con.
Dầu bao nước chẩy qua cầu nữa
Hồ dễ gì phai được tấc son”.

Khoảng tháng 7, tháng 8 năm 1975 một tối tôi gặp Hoài Bắc ở Ngã Ba Ông Tạ. Cùng đi xe đạp, chúng tôi ghé xe vào vỉa hè nói chuyện. Quanh chúng tôi đầy bóng tối. Hoài Bắc nói:
– Bà Văn Cao vào, Văn Cao chưa vào được. Văn Cao nhắn vào nói với Thái Thanh: “Hát như cô mới là hát. Ở ngoài này chúng nó không biết hát”. Trần Dần nhắn bà Văn Cao vào nói với Vũ Hoàng Chương: “Anh yên tâm. Thơ của anh, và thơ anh Hùng không bao giờ mất được…”
Mới hai, ba tháng sau ngày quân Bắc Việt Cộng vào chiếm Sài Gòn mà đã nói ngay một câu xanh rờn “Thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng không bao giờ mất”, Trần Dần thật là giỏi, thật sáng suốt. Vũ Hoàng Chương tạ thế trong Năm Rồng 1976. Năm nay, Năm Rồng 2000, tôi nhắc lại lời Trần Dần:
– Thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Đinh Hùng không bao giờ mất!

(Còn tiếp)

Share this post