Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (05)

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (05)

SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

Gửi các bạn tôi
sống, chết ở Sài Gòn…

* Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
HOÀNG HẢI THỦY

(Tiếp theo kỳ trước)

“….Gặp những ngày trời đất xuống mầu như thế, người khách xa nhà, cả trăm người như một, đều cảm thấy buồn tê tê trong lòng mà tự nhủ: “Ờ, đúng là mùa thu ở Bắc. Trời này có rượu ngon đem uống thì tuyệt trần đời!”

“Thế thì cái ngày trời đất xuống mầu ấy ra sao mà người ta lại rầu rầu trong dạ, sầu sầu muốn uống một cái gì? Thôi, ai còn lạ gì cái thời tiết ở miền Nam nước Việt nhõng nhẽo đến chừng nào; buổi tối nóng như điên, nửa đêm xoay ra lạnh lúc nào không biết; chiều sấm chớp ầm ầm, yên trí có mưa thì một lát sau trăng lại sáng trưng; ấy thế mà chính lúc người ta đang yên trí là nóng còn lâu thì mưa trút xuống rào rào làm cho ai cũng ngạc nhiên tự hỏi: “Quái, sao năm nay mưa sớm thế?” Thế rồi khi ai cũng tưởng là mùa mưa bắt đầu thì chọc trời cũng không một hạt nước, trời nóng đến cái mức làm người ta mờ cả mắt, nhức cả đầu; nhưng có một buổi tối kia đi ăn đầu cá với một người yêu xa cách lâu ngày ở cầu Bình Lợi thì tự nhiên trời đổi gió, giăng tơ lên ngọn cỏ. lá cây để đến lúc sắp đứng dậy ra về anh cảm thấy như có môt cái lưới buồn rũ từ trên trời xuống nước, lan tràn ra khắp cả mặt đất chân mây và gói ghém luôn cả anh cùng với tâm óc anh vào đó.

“Lau lách ở ven hồ kêu lên những tiếng rì rào y như thể những tiếng than nhỏ bé; nước vỗ vào bờ nghe trầm trầm; qua những chùm lá, qua những cành cây, gió rì rào như kể chuyện xa xưa và giục người ta xích lại gần nhau cho ấm cõi lòng hơn một chút….”. (Thương Nhớ Mười Hai – Vũ Bằng)

Văn của anh Vũ Bằng, trong tác phẩm “Thương Nhớ Mười Hai”, chương viết về Tháng Tám: “Tháng Tám: Ngô đồng nhất diệp lạc, thiện hạ cộng tri thu“.

Một buổi sáng tôi đang ngồi viết, bỗng nghe có tiếng gì văng vẳng như tiếng chim tôi từng được nghe từ lâu lắm, từ những năm xa xưa ở tỉnh lỵ Hà Đông hiền hòa, thân thương của tôi; tiếng chim mà từ ngày theo cha mẹ rời khỏi tỉnh Hà Đông, tôi không còn bao giờ được nghe thấy nữa. Tiếng chim gáy: “Curuucu…”

Tôi ngừng viết ngoảnh nhìn. Trên thành của sổ phòng tôi mở ra Rừng Phong có con chim đậu. Con chim lông mầu nâu nhạt pha sắc xám, nhỏ hơn chim bồ câu. Nó là con chim gáy tôi thấy ở những cánh đồng lúa vàng sắp chín quanh tỉnh Hà Đông năm mươi năm xưa. Mèn ơi…! Ở Hoa Kỳ cũng có chim gáy như ở quê ta ư? Không những chỉ có mà còn giống y boong. Không khác một ly ông cụ. Bánh xe lãng tử sang Mỹ gần năm mùa thu vàng hôm nay tôi mới thấy con chim gáy Mỹ. Thấy tôi nhìn, con chim đủng đỉnh đi đi, lại lại trên thành cửa sổ. Nó gáy lên như để cho riêng tôi nghe: “Curuucu…” Đúng nó là con chim gáy. Tiếng gáy của nó y hệt tiếng những con chim đồng loại gáy trên những bụi tre làng miền Bắc quê tôi khi cánh đồng vàng mầu lúa chín!

Những năm 1940, 1941, 1942 tôi đã lớn. Mỗi năm vào mùa lúa chín, ông bố tôi thường mang súng bắn chim đi bắn một hai lần ở những cánh đồng quanh thị xã Hà Đông. Ông có khẩu súng hai nòng, calibre 16, mua ở nhà Chaffanjon, Hà Nội. Năm 1945 Việt Minh tịch thu khẩu súng ấy. Tôi đi theo ông bố tôi trong những buổi sáng chủ nhật đi bắn chim gáy ngày xưa. Cứ đến mùa lúa chín là ngoài đồng có chim gáy và tôi thấy mơ màng ẩn hiện hình ảnh chú nhỏ mười, mười một tuổi, xách cái túi đựng chim, đi theo ông bố trong những cánh đồng vàng lúa ngày xưa.

Tôi nghĩ cứ đến mùa lúa chín mới có chim gáy; chim gáy sống bằng lúa. Ở xứ Mỹ này cả trăm cây số quanh thành phố thủ đô không có cánh đồng lúa nào, chim gáy lấy gì mà sống? Sao chim gáy có thể sống giữa cái thành phố mặt đất đầy xi-măng này? Tôi nẩy ra ý viết về chim gáy, về những sáng chủ nhật tôi theo ông bố tôi đi bắn chim gáy ngày xưa ở Hà Đông. Những ý nghĩ miên man đến trong tôi như như những đợt sóng.

Tôi bỗng nhớ anh Vũ Bằng. Trong tác phẩm Thương Nhớ Mười Hai tôi đọc năm xưa anh có viết về chim gáy. Tôi đi tìm quyển Thương Nhớ Mười Hai.

Nơi tôi sống nhờ có ba nhà sách. Ngay lúc này không nhà nào có quyển Thương Nhớ Mười Hai. Mà tôi thì lại cần có sách để xem lại, để viết ngay. Sách được tái bản chùa ở Hoa Kỳ, nhưng chờ order sách từ Cali gửi sang thì đến bao giờ. Tôi cầu cứu bạn tôi là Tạ Quang Khôi, người chúng tôi gọi đùa là Tạ Ống Khói vì nước da của anh. Anh Giáo Khói của chúng tôi có con làm ở Thư Viện, anh có thể nhờ mượn sách. Giáo Khói trả lời: “Có Thương Nhớ Mười Hai ngay!”

Tôi được quen biết ông nhân sĩ P.Ng. H, một cựu giáo sư học giả ở cùng đồng đất Virginia. Ông H. yêu sách, nhà có thật nhiều sách. Tôi mượn của ông tập Tam Quốc Chí của Tử Vi Lang dễ đã đến hai mùa lá rụng chưa đem trả. Trong khi chờ đợi được anh Giáo Khói cho mượn sách, tôi đem bộ Tam Quốc Chí đến nhà trả ông H. và hỏi ông có quyển Thương Nhớ Mười Hai không? Lập tức, ông cho tôi mượn quyển Thương Nhớ Mười Hai in lại mới toanh.

Tôi bồi hồi cầm quyển sách. Một chiều xanh năm vàng xưa anh Vũ Bằng hẹn tôi đến nhà in Nguyễn Đình Vượng đường Phạm Ngũ Lão, trước rạp xi-nê Thanh Bình, nơi có tòa soạn các báo Văn, Tuổi Ngọc; anh cho tôi quyển Thương Nhớ Mười Hai do Nhà Nguyễn Đình Vượng vừa xuất bản. Thời ấy sách báo ta in bằng giấy mầu vàng, sang lắm là giấy Nhật, nhưng cũng là loại giấy rẻ tiền, giấy sốp nên sách có bề dầy. Nay trên tay tôi quyển Thương Nhớ Mười Hai năm 1999 in giấy trắng tinh, nên dầy chỉ bằng nửa quyển Thương Nhớ Mười Hai năm 1972. Quyển TNMH trên tay tôi do nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 1993. Tôi đọc trang cuối: “In 1.000 cuốn, khổ 13x19cm tại Xưởng In CTVHQ 11 (Công ty Văn Hóa Quận 11). Số giấy phép: 126/XBVH. In xong tháng 9 năm 1993”.

Cộng sản Bắc Việt tái bản “Thương Nhớ Mười Ha”i – và có thể đã tái bản “Vĩnh Biệt Phù Dung” (Cai, tên truyện VBPD trước năm 1945). Họ tái bản những tác phẩm của Vũ Bằng, như họ đã tái bản những “Thơ Say”, “Mây”, “Rừng Phong”, “Ta Đã Làm Chi Đời Ta” của Vũ Hoàng Chương. Họ đã bắt giam Vũ Hoàng Chương, họ đã lên án tất cả những tác phẩm văn học, tiểu thuyết của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa là phản động, đồi trụy; họ đã tịch thu, tiêu hủy những văn phẩm này. Nhưng như Vũ Hoàng Chương đã nói trong thơ anh ngay từ những tháng ngày đen tối, vô vọng nhất cuối năm 1975: “Miệng túi càn… khôn thắt nổi danh“, những người Việt cộng sản miền Bắc không thể chối bỏ được những giá trị văn học, nghệ thuật của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa.

Tìm trong Thương Nhớ Mười Hai tôi thấy anh Vũ Bằng không viết về chim gáy mà viết về chim ngói: “Tháng Chín, gạo mới chim ngói”. Thời gian trước mắt tôi mới là sắp đến Tháng Tám Trung Thu nên tôi mời bạn trở lại với Tháng Tám ở quê hương ta qua lời diễn tả của tác giả Thương Nhớ Mười Hai:

“Mùa thu ở Bắc cũng đến với người ta như thế. Bây giờ mỗi khi thấy trời trở gió, không gian bàng bạc một mầu chì; mỗi khi thấy lá rụng ở các công viên như những người đau ngực, bay lào xào trên mặt đất hanh hao, mỗi khi thấy lá tre rụng vèo xuống các ao hồ nằm yên ả trong những lớp bèo rong, bèo tấm, có ai biết rằng tôi nhớ lại những gì không? Cứ đầu tháng tám, trời Bắc Việt buồn se sắt, đẹp não nùng, sáng sáng thức dậy vào lúc còn tối đèn, cầm cái áo ma-ga mẹ lấy từ trong rương ra cho mình, húp bát cháo đậu kho và ăn ba nắm xôi lạc do mẹ mua cho rồi đút hai ba đồng xu, đồng kên sủng soẻng trong túi áo đi qua dẫy Nhà Thờ, thẳng một lèo lên dốc Hàng Kèn, có ai biết rằng tôi đã trông thấy những gì và nghĩ những gì không?

“Lúc ấy, trời đã sang thu. Lá cây nhội ở hai bên đường đi ra dốc Hàng Kèn vươn những cái thân gầy lên trên trời và mỗi khi có gió thổi thì từng chiếc lá vàng lại rụng xuống, xoay nhiều vòng, rồi đậu trên những cái vai trắng muốt của các pho tượng mỹ nhân cởi truồng trong công viên ở cuối Phố Nhi, gần cái hang đá thờ Đức Mẹ.

“Cái mà bây giờ tôi còn trông thấy rõ từng ly từng tí là một cậu bé xách cái cặp da nặng trĩu đi học một mình, vừa đi vừa ôn lại một bài văn xuôi có vần…

“….Lẩm nhẩm ôn lại bài học rồi cậu học trò bé nhỏ ấy nhìn lên bầu trời bàng bạc và nhẩy nhót như một con chim sẻ. Là vì y biết là mùa thu đã bắt đầu, các cây nhội chi chít quả, chim hét về nhiều, chắc chắn y có nhiều hy vọng bắn được nhiều để về nuôi, nếu còn sống, hay rán lên cho mèo ăn, nếu chẳng may chim bị trọng thương mà chết.

“Tuy nhiên, chỉ có ý tưởng của tôi theo chân được cậu bé ấy mà thôi, vì cậu bé ấy chỉ là cái bóng của chính tôi năm mươi mấy năm về trước. Thương thương cậu bé vô tội ấy biết chừng nào!”

Anatole France. Bài La Rentreé des Classes?? Lâu quá không được đọc lại bài văn, chỉ còn nhớ đại khái: Anatole France tả ngày tựu trường, cậu học trò nhỏ đi qua vườn Luxembourg mùa thu, thấy những pho tượng đá trắng và “…những cánh lá vàng đi trong những cái cây run rẩy… et les feuilles qui jaunissent dans les arbres qui frissonnent…”

Ảnh hưởng cũng chẳng sao. Tôi không được sống nhiều ở Hà Nội nên tôi không được biết nhiều về Hà Nội. Hôm nay tuổi đời Sáu Bó lẻ mấy que, sống nhờ trên đất Mỹ, đọc lại Thương Nhớ Mười Hai, tôi théc méc về chi tiết: “…mỗi khi có gió thổi thì từng chiếc lá vàng lại rụng xuống, xoay nhiều vòng. rồi đậu ở trên những cái vai trắng muốt của các pho tượng mỹ nhân cởi truồng trong công viên ở cuối Phố Nhi…”

Ơi… những vị Công Tử Hà Nội tuổi đời năm nay ít nhất phải từ Sáu Bó trở lên. Xin hỏi các vị: “Hà Nội ba mươi sáu phố phường có phố nào tên là Phố Nhi không? Tôi chưa bao giờ nghe nói Hà Nội có Phố Nhi. Cứ theo lời tả thì tôi thấy cái Phố Nhi trong Thương Nhớ Mười Hai ở gần Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Trong trí nhớ của tôi khu này làm gì có công viên nào, lại càng không có những “pho tượng mỹ nhân cởi truồng…” lớn đến cỡ đủ để cho những cánh lá vàng rơi có thể nằm trên bờ vai trắng muốt! Tức là lớn bằng người thật. Đàn anh Vũ Bằng ơi, đàn anh sống khôn, chết thiêng, cho đàn em khều nhẹ đàn anh một tí: Tượng mỹ nhân khỏa thân chứ! Mỹ nhân cởi truồng coi bộ Thị Mịch nằm nghiêng quá đi…

Noel năm 1983, anh Trần Tam Tiệp ở Paris gửi về cho chúng tôi khoản tiền để tổ chức một tiệc đêm Giáng Sinh anh em vui với nhau. Chúng tôi gặp nhau trong một vi-la trong cư xá Lữ Gia. Hai anh Vũ Bằng, Tam Lang có đến dự. Năm ấy anh Tam Lang đã tám mươi, anh Vũ Bằng khoảng bẩy mươi. Anh Vũ Bằng gầy, người chỉ còn xương với da, anh vẫn đi lại nhanh nhẹn, cười nói vui vẻ. Đó là lần cuối cùng tôi được gập anh. Khi ấy anh Trần Việt Sơn đã qua đời. Anh Sơn bị bắt tù những năm 1976, 1977. Tháng Tư 1984 anh Vũ Bằng từ trần. Mùng 2 tháng Năm 1984 tôi bị bắt. Khi thẩm vấn tôi anh công an nói:

– Hai ông Trần Việt Sơn, Vũ Bằng chết rồi. Đỡ mệt cho chúng tôi. Không bắt thì không được mà bắt hai ông già ấy thì cũng kỳ…

Đó là chuyện năm 1984. Năm 1990 những tác phẩm của hai anh Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng lại xuất hiện trên những chỗ trang trọng nhất trong các tiệm sách ở Thành Hồ. Anh Vũ Bằng sống nhiều ở Hà Nội, nên nhớ Hà Nội và quê hương miền Bắc, nhớ những năm tháng hoa niên của anh trên đất Bắc. Anh diễn tả tuyệt vời niềm thương, nỗi nhớ của anh trong Thương Nhớ Mười Hai:

“…Người ta nhớ nhà, nhớ cửa, nhớ những nét mặt thân yêu, nhớ những con đường đã đi về năm trước, nhớ người bạn chiếu chăn dắt tay nhau đi trên những con đường vắng vẻ ngào ngạt mùi hoa xoan còn thơm mát hơn cả hoa cau, hoa bưởi. Người ta nhớ heo may giếng vàng, nhớ cá mè rau rút, nhớ trăng bạc, chén vàng…

“…Ăn tô hủ tíu thì nhớ đến phở Bắc “chính cống” ăn vào buổi sáng rét căm căm; trông thấy cua bể nhớ bát canh cua đồng nấu với rau rút và khoai sọ…

“Ới những người thiên lý tương tư! Nếu bất ngờ những dòng sau đây có lạc vào tay bạn, mà thấy nói lên được mối cảm hoài bạn vẫn chất chứa ở bên lòng, thế là kẻ viết bài này lấy làm mãn nguyện lắm rồi”.

Ới đàn anh! Đàn anh từ Hà Nội vào Sài Gòn, Sài Gòn vẫn là đất nước chúng ta. Ở Sài Gòn đàn anh vẫn dễ dàng có bát canh cua đồng nấu với khoai sọ, rau rút, đàn anh vẫn còn được thưởng thức những món ăn thuần túy dân tộc, những món ăn chỉ dân tộc ta mới có, như bún ốc, bún riêu, bún thang, tiết canh vịt, cầy tơ. Muốn ăn ốc hấp, chả cá, đàn anh đến những hàng ăn Sơn Hải, Như Ý, Thăng Long. Không ngon bằng ở Hà Nội nhưng cũng đạt năm, bẩy chục phần trăm phẩm chất. Đàn anh chỉ mới thiên lý tương tư thôi. Nếu đàn anh bốn mươi tuổi năm 1975 như chúng tôi, đàn anh sống tàn mạt, mỏi mòn, tuyệt vọng, nhục nhã đến hai mươi mùa lá rụng giữa thành phố Sài Gòn đầy cờ đỏ, sao vàng – trong hai mươi mùa thu vàng võ ấy có bẩy, tám, chín mười niên đàn anh chuyên ở trần, quần sà lỏn, ngồi rù ngâm thơ trong những nhà tù – rồi đàn anh làm chuyến lưu vong qua biển sang phần bên kia – bên này – của trái đất như chúng tôi, đàn anh ở cảnh vạn lý tha hương như chúng tôi, tôi chắc đàn anh sẽ Thương Nhớ Mười Hai tập Hai, tập Ba, tập Bốn… Và lần này đàn anh sẽ thương nhớ Sài Gòn Đẹp lắm, Sài Gòn ơi, văn đàn anh sẽ da diết gấp triệu lần với nỗi nhớ thương miền Nam hai mùa mưa nắng…

Tôi thương nhớ Sài Gòn, thương nhớ miền Nam thân yêu – ta sống ở đâu ta mến thương nơi ấy. Không thể trách những trẻ em Việt, năm bẩy tuổi theo cha mẹ sang Mỹ đến năm hai mươi tuổi không nói được tiếng Việt, không đọc được chữ Việt; những em này sẽ yêu thương nước Mỹ. Tôi năm hai mươi tuổi vào Sài Gòn, tôi đã sống ở Sài Gòn đến gần năm mươi năm; tôi sống ở miền Nam, tôi biết về miền Nam nhiều hơn tôi sống và biết về miền Bắc. Tự nhiên là tôi yêu thương miền Nam, tôi yêu thương và tôi nhớ Sài Gòn.

Bây giờ Tháng Tám. Mùa thu sắp về Virginia nơi tôi sống nhờ. Virginia có những cánh đồng trồng thuốc lá bạt ngàn, có mùa thu lá vàng, lá đỏ thật đẹp. Cảnh sắc Virginia thơ mộng và tình tứ đến nỗi người Mỹ cho nó cái danh hiệu “Virginia is for Lovers”. Nhưng tôi mang tâm trạng “cảnh đẹp cảnh của người ta, mình là khách đọi ở và mươi năm…” Cảnh xứ người càng đẹp tôi càng thương nhớ quê hương ta.

Anh Vũ ơi… Vạn lý tha hương… Tôi thương nhớ Sài Gòn, nơi tôi đã sống những ngày hoa niên đẹp nhất đời tôi, nơi tôi đã gặp Tình Yêu… Nhưng tôi không đủ tài, không đủ lời nói lên niềâ thương nhớ ấy. Tôi muợn văn anh để gây hứng khởi cho tôi, tôi chuyển nỗi nhớ thương Hà Nội, miền Bắc của anh thành nỗi nhớ thương Sài Gòn, miền Nam của tôi.

Tên chương truyện của anh: “Tháng Tám, Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu” gợi tôi nhớ lại Tết Trung Thu thứ nhất bọn Bắc Việt Cộng vào Sài Gòn. Đêm Trung Thu ấy ở Sài Gòn trời mưa tầm tã từ chiều, Sài Gòn không có trăng Rằm Tháng Tám. Tôi và thằng con lớn của tôi từ Sài Gòn về Ngã Ba Ông Tạ trên xe buýt – khi ấy bọn xâm lăng chưa đổi tiền, Sài Gòn vẫn còn xe buýt – bố con tôi vào tiệm phở của Văn Chi ở ngay đầu Ngã Ba Ông Tạ.

Ký giả Văn Chi từng Tác-dzăng nổi giận đấm hộc máu mồm, sồm máu mũi anh giáo viên người Pháp, sang dậy học ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp; anh cà chớn này loạng quạng làm cái việc ruồi bâu kiến đậu là mang cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đến treo ở công trường Lam Sơn, trước cửa Nhà Quốc Hội ta. Vụ này xẩy ra khoảng năm 1970, khi ấy Văn Chi đang là nhân viên Bộ Thông Tin, văn phòng ở ngay tòa nhà bên cạnh công trường Lam Sơn. Nghe có chuyện lộn xộn Văn Chi chạy qua công trường, thấy anh kiều dân Pháp cà cháo treo cờ MTGP, Văn Chi nóng mắt đấm liền cho anh mấy đấm.

Nhà Văn Chi ở khu nhà thờ Chí Hòa. Tháng Năm 1975 anh mở tiệm phở ở ngay Ngã Ba Ông Tạ. Phở anh nấu rất được. Khoảng tám giờ đêm Trung Thu năm ấy, trời mưa rả rích, tiệm không có khách. Văn Chi ngồi với bố con tôi, anh lách cách gõ cái muỗng lên cái bát, hát: “Đêm nay trăng sáng quá, em ơi…” Anh ghé tai tôi, nói nhỏ: “Có đường, có nẻo thì dzu lu đi. Nó cho đi tù hết đấy”. Noel năm ấy Văn Chi bị bắt. Anh là một trong số những ký giả VNCH bị Việt Cộng bắt sớm nhất. Năm 1982 Văn Chi mới từ nhà tù trở về Ngã Ba Ông Tạ. Anh lại mở quán phở. Năm 1986 anh bị đau. liệt, rồi qua đời.

Mùa thu năm 1975 – bốn năm tháng sau ngày nón cối, giép râu kéo nhau vào Sài Gòn – một chiều u ám tôi đạp xe đi lang thang trong lòng thành phố buồn. Nhìn những chiếc lá vàng rơi trên đường, tôi đau đớn thấy thế giới đã bỏ quên quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, đã quên những người dân quốc gia VNCH. Tôi cay đắng và sầu muộn nghĩ: “Mùa thu đến. Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu… Chỉ một lá ngô đồng rơi thôi mọi người biết là mùa thu đến. Ở đây hai mươi triệu chiếc lá ngô đồng rơi, hai mươi triệu người dân Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi đang đau khổ, tại sao thiên hạ không ai biết?”

Bây giờ Tháng Tám rồi hỡi Em… Mùa thu về trên xứ người, tôi trang trọng gửi Thương Nhớ Mười Hai của anh Vũ Bằng đến những người Việt sống đời vạn lý tha hương ở góc trời này!

Quyển Thương Nhớ Mười Hai tôi mượn được do nhà xuất bản Văn Học tái bản năm 1993. Tôi đọc lại Thương Nhớ Mười Hai và thấy có một vài chuyện tôi cần viết ra, cần có ý kiến. Trong cái gọi là Lời Nói Đầu, người tự nhận là “Giáo sư” Hoàng Như Mai viết:

“Thương Nhớ Mười Hai mời bạn đọc thưởng thức những thứ gọi là “thời trân”.

“Trong truyện Kiều, lần đầu tiên Kim Trọng được đón tiếp Thúy Kiều ở nhà mình: Thời trân thức thức sẵn bày. Bởi vì cuộc đón tiếp này đối với chàng Kim là một hạnh phúc vô song, cho nên chàng tiếp đãi Thúy Kiều một cách quý trọng và thanh lịch. “Thời trân” là những vật sản quý đương mùa (thời là mùa, trân là quý)”.

Người tự nhận là “giáo sư” cho rằng những món cam, quýt v.v… là do Kim công tử bày ra để chờ Vương tiểu thư chui rào sang thưởng thức. Đây là lời nói về “thời trân” trong Truyện Thơ Kiều:

“Nhà lan thanh vắng một mình
Ngẫm cơ hội ngộ đã dành hôm nay
Thời trân thức thức sẵn bày
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường
Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông…”

Hai ông Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim chú thích “thời trân”:

“Thì trân là hoa quả hay vật quí đang mùa bấy giờ. Cứ theo trong bản tiểu thuyết của Tàu là Kiều làm đồ uống rượu để đem sang bên Kim Trọng, vì tục bên Tàu cuộc vui phải có ăn uống. Bởi vậy khi gặp Kim Trọng và tìm được lối đi sang, Kiều chạy trở về bưng đồ rượu sang nhà Kim Trọng. Nhưng chỗ này tác giả chỉ nói có một câu, rồi sau không nhắc lại nữa, cho nên thành ra tối nghĩa, đọc không hiểu là Kiều bày những đồ thì trân ra làm gì”.

Đây là đoạn viết về “thời trân” trong truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử:

“…Gặp ngày bên nhạc gia có tiệc mừng thọ, Vương ông sắm sanh lễ vật, đem vợ con sang. Thúy Kiều giả vờ bị ốm, ở lại trông nhà, đợi khi cha mẹ cùng hai em đi khỏi, nàng bèn hối hả sửa mấy món nhắm và hồ rượu ngon, xăm xăm ra lối vườn sau, định tìm Kim Trọng để tạ lại câu chuyện cành thoa hôm trước…”

Dễ hiểu thôi. Cái gọi là “thời trân” ấy là những món ăn do Thúy Kiều soạn để đem sang nhà Kim Trọng. Không hiểu tại sao người viết lời giới thiệu Thương Nhớ Mười Hai ấn bản 1993 lại nghĩ rằng đó là “những món Kim Trọng bày ra để chờ khoản đãi Thúy Kiều”. Lầm lộn cũng nhỏ thôi, nhưng bất cứ ai cũng có thể lầm, người tự xưng là “giáo sư” và lẩy Kiều trong lời giới thiệu tác phẩm văn chương thì không thể lầm được. Những đêm u buồn, tăm tối những năm 1981, 1982 tôi sống mòn mỏi giữa lòng thành phố thủ đô ta đầy cờ đỏ, một đêm đọc một bài viết về Kiều của Xuân Diệu, tôi ngạc nhiên khi thấy Xuân Diệu phê bình, phê lọ loạn cào cào đoạn Từ Hải mới gập Kiều. Cũng như tất cả những anh Bắc Việt Cộng sản và những anh nâng bi Cộng sản, Xuân Diệu ca tụng nhân vật Từ Hải một cách quá đáng đến lố bịch. Truyện Thơ Kiều tả đoạn này như sau:

“Nàng rằng: Người dậy quá lời
Thân này còn dám coi ai làm thường.
Tấc riêng chọn đá, thử vàng
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu.
Còn như vào trước, ra sau
Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?
Từ rằng: Lời nói hữu tình
Khiến người lại nhớ câu Bình nguyên quân
Lại đây xem lại cho gần
Phỏng tin được một vài phần hay không?”

Không cần phải là sinh viên Văn Khoa, bất cứ người đọc thường dân nào của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa khi đọc đoạn thơ trên cũng hiểu là Từ Hải bảo Kiều: “Em lại gần đây nhìn kỹ anh đi, xem anh có phải là người em có thể tin được hay không?” Xuân Diệu, sau khi ca tụng Từ Hải hào hùng, ngang tàng loạn châu chấu, viết: “Họ Từ nắm cổ Thúy Kiều, kéo lại, nhìn sát vào mặt nàng mà nói: Nàng nói hay lắm. Để ta nhìn nàng xem ta có thể tin nàng được không?”

Nhưng mấy chuyện lặt vặt đó không phải là những chuyện làm tôi suy nghĩ và thắc mắc khi đọc lại Thương Nhớ Mười Hai. Ở trang 179, ấn bản 1993, tôi đọc thấy:

“Tháng Một, thương về những ngày nhể bọng con rận rồng. Tưởng là hết chuyện truyền kỳ, quả là lầm. Sang tháng một, lại có truyền kỳ về con cà cuống.

“Có ai ở Bắc Việt vào đây cho tôi hỏi thăm tháng một mấy năm nay ở Bắc Việt, trời có rét lắm không, mưa vẫn riêu riêu buồn như trước, hay thời tiết vì ảnh hưởng bom đạn của Mỹ đã khác xưa? Nghe thấy nước Mỹ xuất toàn lực ném những loại bom kinh khủng lắm, mà ném toàn bom nặng tới bảy trăm tấn có sức phá hoại ngang bom nguyên tử, mình ở đây thấy rợn cả tóc gáy lên, ấy thế mà không hiểu làm sao cứ nghe thấy người ta nói là Bắc Việt vẫn đánh và đánh dữ hơn cả lúc mới phát động chiến tranh là khác!

“Thế thì là cái thớ gì? Ở đây, người ta cũng ném bom tiêu diệt quá khích, ai cũng bảo là thời tiết không như trước, mưa không đúng cữ mà nắng cũng ra ngoại lệ, thành ra mình cũng tưởng thời tiết Bắc Việt đổi thay, do đó lắm đêm nằm tưởng tượng, mình cứ ngỡ Bắc Việt là không còn mưa rét mà có khi lại nóng nứt đá tan vàng cũng nên, nghĩ như thế, thấy buồn; nhưng nằm nghĩ thêm một lúc mình lại cười muốn khóc. Bom đã không làm nhục được người thì sao mà lại ảnh hưởng được đến trời?”

Đoạn văn trên làm tôi nghĩ: “Kỳ nhỉ? Những năm 1969, 70 ở Sài Gòn, ông Vũ Bằng ca tụng Cộng Sản Bắc Việt đánh Mỹ giỏi ư? Năm 1972, 73 mình đã đọc đoạn văn này, sao mình không thấy gì lạ? Có thể nào mấy anh Việt Cộng mạo tác đoạn văn này không? Mình đang đọc Thương Nhớ Mười Hai do Bắc Việt Cộng in lại năm 1993, nguyên bản Thương Nhớ Mười Hai do nhà Nguyễn Đình Vượng xuất bản năm 1972 có đoạn này không?”

Tôi không bị théc méc lâu. Tạ Quang Khôi, bạn tôi, tìm được ngay cho tôi quyển Thương Nhớ Mười Hai do Nhà Nguyễn Đình Vượng xuất bản. Tôi so hai bản với nhau: Việt Cộng không mạo tác, không thêm thắt. Quả thật Vũ Bằng viết như thế. Chỉ khác có hai chi tiết:
TNMH 1972: Nghe thấy nước bạn Mỹ xuất toàn lực ném những loại bom…
TNMH 1993: Nghe thấy nước Mỹ xuất toàn lực ném những loại bom…
TNMH 1972: Bom không làm nhụt được người…
TNMH 1993: Bom không làm nhục được người…

Ở trang cuối cùng, tác giả Thương Nhớ Mười Hai viết: “Bắt đầu viết tháng Giêng 1960. Tiếp tục năm 1965. Viết hết năm 1970-1971”. Kể cũng lạ. Người viết Vũ Bằng đã sống những ngày kinh hoàng Tết Mậu Thân, đã sợ quíu đít khi chỉ mới nghe nói bộ đội Bắc Việt Cộng kéo vào Chợ Lớn, Bà Quẹo, Thị Nghè, Hạnh Thông Tây, đã thấy nhân dân Huế bị tàn sát dã man, ghê rợn đến chừng nào, đã qua những đêm hồi hộp khi ViXi pháo kích bừa bãi vào thủ đô ta. Nhưng những chuyện đó không ảnh hưởng chút síu nào đến việc ông diễn tả tâm tình thương nhớ đất Bắc và Hà Nội của ông. Nếu năm Mậu Thân những người Bắc Việt Cộng làm chủ được Sài Gòn, chuyện xẩy ra chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch là tùy bút Thương Nhớ Mười Hai không bao giờ được in ra. Rất có thể ông Vũ Bằng đã len lén đem bản thảo Thương Nhớ Mười Hai vào bếp châm lửa hỏa thiêu: “Giữ làm gì cái của nợ này. Nó bắt được thì bỏ mẹ!”

Tôi thấm đau khi thấy ông văn nghệ sĩ đàn anh của tôi viết: “Ở đây, người ta cũng ném bom tiêu diệt quá khích”. “Quá khích” chứ không phải “Việt Cộng”. Và “người ta” đây là ai? Không thể hiểu tác giả dùng tiếng “người ta” chỉ là để ám chỉ người Mỹ. Với câu “Ở đây, người ta cũng ném bom”, ông Vũ Bằng đã tự đưa ông đứng ra ngoài cuộc chiến đấu của quân dân Việt Nam Cộng Hòa.

Đau thật là đau. Bao nhiêu người chết để cho ông Vũ Bằng được sống an lành và phây phây viết Thương Nhớ Mười Hai, và để ông viết trên giấy trắng, mực đen những lời ngụ ý: “Các anh giết nhau. Không có tôi trong cuộc chém giết ấy”. Giờ đây, sau cuộc biển dâu, khi ở số tuổi đời gần Bẩy Bó, trong cảnh “Liêu lạc bi tiền sự. Chi li tiếu thử thân”, đọc lại những trang sách xưa, tôi bùi ngùi thấy thái độ ngoài cuộc của anh Vũ Bằng, ông đàn anh văn nghệ của tôi, cũng là thái độ của nhiều nhà biên khảo ngày xưa ở Sài Gòn.

Như anh Vũ Bằng chẳng hạn. Vào Sài Gòn từ 1954, cho đến Tháng Tư 1975 anh viết những gì? Quyển Thương Nhớ Mười Hai Nguyễn Đình Vượng xuất bản ghi: “CÙNG MỘT TÁC GIẢ, CÙNG NHÀ XUẤT BẢN – Đã in: Mê Chữ, Món Lạ Miền Nam, Cái Đèn Lồng, Nói Có Sách, Bát Cơm. Sẽ in: Con-Dấu-Hóa, Đẹp Mùa Huyền Thoại”.

Các ông Vũ Bằng, Nguyễn Hiến Lê, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Lê Văn Siêu, Lãng Nhân v.v… chỉ làm văn hóa, văn nghệ. Trong bao năm trời, trước cuộc chiến đấu gian khổ, đầy máu và nước mắt của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa, không ông nào trong số các ông trên đây nói lên một lời, viết ra một trang chống Cộng.

Không có gì lạ khi Việt Cộng vào Sài Gòn, họ bắt các ông Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Vũ Hoàng Chương đi tù mút chỉ, họ để yên không lý gì đến những ông “làm văn học, văn nghệ thuần túy” có tên trên đây.

Thương Nhớ Mười Hai ấn bản 1993, trang 107:

“…Quả là khi viết tới đây tôi cũng không hiểu tại sao lại nhớ đến một chương trong thiên phóng sự “Về Bắc Việt” của Madeleine Riffaud “viết dưới bom”; ờ, Mỹ bắt đầu oanh tạc Bắc Việt hồi 1966 chính là vào cữ mưa rằm tháng bẩy, vong nhân xá tội đây! Chúng tôi đọc thấy rằng, từ một vài tháng nay, các phi vụ ở Bắc tăng gấp ba, số bom ném cao lên vòn vọt, còn nhiều gấp tư số bom ném trung bình hàng tháng ở Cao Ly. Người Việt Nam có bị tiêu diệt không? Mà họ làm thế nào chịu đựng được?”

“Chẳng cần phải nghĩ vẩn vơ, ai mà lại không biết số người chết hẳn phải nhiều. Đem cộng con số này với bao nhiêu người Việt Nam đã chết vì bom của “đồng minh” đến “giải phóng” chúng ta khỏi ách của “Phát-xít” Nhật, bao nhiêu người chết vì “chống cộng”, bao nhiêu người chết vì bom Mỹ, súng Mỹ ở ngay tại miền Nam, bao nhiêu người chết đói năm 1945, bao nhiêu người chết vì bệnh tật, súng đạn của Pháp đến “cứu” ta ra khỏi “nanh vuốt” của Cộng sản, rồi lại bao nhiêu người bị đột kích, pháo kích, xung kích, oanh kích, công kích, xạ kích, phục kích…”

Đến đây thấy có sự gian xảo trong việc sửa văn bản: Vũ Bằng viết trong Thương Nhớ Mười Hai ấn bản Nguyễn Đình Vượng 1972: “bao nhiêu người chết vì Cộng sản và vì chống Cộng”, trong Thương Nhớ Mười Hai 1993 không có bốn chữ “chết vì Cộng sản”.

Tôi thấy đàn anh Vũ Bằng của tôi không được công bằng trong đoạn văn trên. Không phải tự nhiên người Mỹ đưa đại bác, bom đạn và xương máu thanh niên Mỹ đến đổ trên đất nước chúng ta. Có gì đáng để chúng ta oán trách, mỉa mai, dè bỉu việc phi cơ đồng minh, tức Anh Mỹ, đến ném bom đất nước ta khi nước ta bị Nhật Bản xâm chiếm? Có một số người Việt chết vì những trái bom đồng minh ấy, nhưng nếu không có những trái bom đồng minh ấy thì quân phiệt Nhật cứ làm chủ đất nước ta và đến bây giờ đất nước ta, dân tộc ta đã ra sao?

Tác giả Thương Nhớ Mười Hai có phóng đại khi viết: “Nghe thấy nước bạn Mỹ xuất toàn lực ném những loại bom kinh khủng lắm, mà ném toàn những bom nặng tới bẩy trăm tấn, có sức phá hoại ngang bom nguyên tử”. Đàn anh Vũ Bằng của tôi đã “về quê” khoảng cuối năm 1983, đầu năm 1984. Nếu ông còn sống, tôi sẽ gửi ông bài viết này và nói nhỏ với ông: “Vừa thôi, ông ơi. Làm gì có thứ bom nào không phải là bom nguyên tử mà có sức phá hoại như bom nguyên tử. Nếu Mỹ nó ném loại bom nặng như ông tả thì làm gì có ngày ông ngao ngán và ông ngớ ngẩn thấy bọn nón cối, giép râu ngơ ngáo kéo vào Sài Gòn! Mà ông có lú lẫn không ông? Ông đào ở đâu ra quả bom nặng bẩy trăm tấn? Ông có nhớ bẩy trăm tấn là mấy chục ngàn ký lô không?”

Thương nhớ đất Bắc và Hà Nội ra rít đến như được diễn tả “cực kỳ” trong Thương Nhớ Mười Hai – cái gì của Bắc Việt, của Hà Nội, với ông Vũ Bằng, cũng hay, cũng đẹp, cũng đáng yêu, cũng Năm-bơ Uân, cũng nhất thế giới – nhưng sau ngày khốn nạn 30 Tháng Tư tuy có thể về miền Bắc dễ dàng ông Vũ Bằng đã không về.

Ông đã, cứ và vẫn ở rịt trong thành phố Sài Gòn. Ông sài lắc khi nghe ai nói đến chuyện về thăm quê hương miền Bắc. Ông không về, dù chỉ là về thăm lại những nơi ông từng sống sung sướng ngày xưa, những cảnh ông thương nhớ, và ông chết ở Khánh Hội, Sài Gòn. Cũng đúng thôi, cũng phải thôi. Cái miền Bắc, cái Hà Nội mà ông thương nhớ ấy là miền Bắc, là Hà Nội trước năm 1954. Hà Nội được tả thật đẹp, được nhớ thương da diết trong Thương Nhớ Mười Hai của ông Vũ Bằng nay không còn nữa.

Đọc lại Thương Nhớ Mười Hai, tôi không thấy lạ về chuyện những người làm văn hóa Việt Cộng cho tái bản Thương Nhớ Mười Hai và viết những lời ca tụng tác giả Vũ Bằng.

Ông có chống họ đâu mà họ không cho tác phẩm của ông sống lại. Tác phẩm của ông có lợi cho họ. Họ bốc ông: “Nhà văn Vũ Bằng thuộc một dòng họ túc nho ở đất Lương Ngọc, Hải Dương (cũ), sau 1954 vào Nam, viết cuốn sách này giữa lúc đất nước hai miền bị chia cắt. Dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách này vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương ở bên kia “giới tuyến”. Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngọn bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn chương của tác phẩm này. Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng, từng trang”.

Sau ngày nón cối, giép râu vào Sài Gòn, không khác gì tuyệt đại đa số người dân – hằm ba lằng sáng cấu đàn ông, đàn bà, già trẻ, tức là từ em nhỏ lên ba đến cụ già chín bó – đàn anh Vũ Bằng của tôi chán ghét Bắc Việt Cộng đến xương tủy.

Khi còn hỏi anh được, tôi đã không hỏi, vì đó là chuyện riêng tư của anh: tại sao năm 1954 anh lại để chị Quỳ, người vợ tấm mẳn mà anh yêu thương, ở lại miền Bắc? Trong Thương Nhớ Mười Hai, anh viết về chị những lời thương nhớ:

“Em yêu ơi, sống là tin tưởng và chờ đợi, nhưng biết rằng mái tóc người ta có còn xanh mãi được chăng?
“Đã lâu lắm, chúng mình không được tin tức gì của nhau, Quỳ nhỉ. Chiến tranh cắt đứt ân tình của hai ta, thôi đành lấy câu vận mệnh để khuây dần nhớ thương vậy.

“Nhưng thương nhớ kỳ lạ lắm. Có những đêm không ngủ, nằm nghe mưa rơi, tôi cố nhớ lại nét mặt của người thương, mà không hiểu tại sao con mắt, miệng cười và mớ tóc xõa trên hai bờ vai tròn trĩnh lại lu mờ như thể chìm đắm trong khói sóng. Mà trái lại có những kỷ niệm rất bé nhỏ, rất tầm thường, lại hiện ra rõ rệt, không suy suyển một ly trong trí nhớ của người nặng nợ lưu ly, nằm buồn trong gác nhỏ ngâm câu thơ nhớ vợ:

“Ủ ê nét liễu sầu tuôn gió
Thổn thức tình tơ lệ ướt bào
Hoa tủi còn đâu duyên tác hợp
Mây bay rồi nữa giấc chiêm bao”.

Ba mươi năm trôi qua kể từ ngày tôi đọc Thương Nhớ Mười Hai lần thứ nhất. Hôm nay sống buồn ở một góc trời xứ người – xứ người thật là xứ người – xa vời vợi, cách xa quê hương nưả vòng trái đất, đọc lại Thương Nhớ Mười Hai, tôi thương anh Vũ Bằng.

Anh nhắm mắt, lìa đời những năm 1983, 1984, những năm Đảng Cộng sản Việt Nam đang hung hăng con bọ xít, Liên Xô chưa tan rã, chủ nghĩa Cộng sản chưa bị triệt tiêu, đảng viên cộng sản còn nắm quyền hành trong nhiều nước.

Anh ra khỏi cõi đời này mà không được biết rằng chỉ vài năm sau Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa cộng sản thất bại, bọn đảng viên cộng sản bị nhân dân chính các nước chúng bợp tai, đá đít, đuổi đi…

(Còn tiếp)

Share this post