Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (06)

Sống Và Chết Ở Sài Gòn – Hoàng Hải Thủy (06)

SỐNG VÀ CHẾT Ở SÀI GÒN
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

Gửi các bạn tôi
sống, chết ở Sài Gòn…
* Rừng Phong, Hoa Kỳ 2002
HOÀNG HẢI THỦY

(Tiếp theo kỳ trước)

Thanh Nam Trần Đại Việt, viết tiểu thuyết, làm thơ từ năm 1950 ở Hà Nội, cùng thời với Nguyễn Minh Lang, Hoàng Phụng Tỵ, Hoàng Công Khanh, những người viết trẻ nổi lên sau 1945. Năm 1952, Thanh Nam vào Sài Gòn làm việc ở Đài Phát Thanh Quân đội. Những năm 1952, 1953 Thanh Nam làm thư ký tòa soạn Tuần báo Thẩm Mỹ – thời ấy Sài Gòn có hai tuần báo Đời Mới, Thẩm Mỹ.

Năm 1975, Thanh Nam là nhân viên Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam, đài này là một đài do người Mỹ dựng lên và quản lý. Nhân viên Đài Mẹ Việt Nam được người Mỹ đưa ra đảo Phú Quốc trước ngày 30 Tháng Tư 1975. Nhờ thế Thanh Nam và vợ con đi thoát. Sang Hoa Kỳ thời gian đầu, Thanh Nam sống ở miền đông (nghe nói ở New Jersey) rồi sang định cư ở thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ở Seattle, Thanh Nam viết cho Tạp chí Đất Mới cùng với Mai Thảo, Huy Quang Vũ Đức Vinh. Anh bị ung thư thanh quản và tạ thế ở Seattle năm 1986.

Năm 1970 ở Sài Gòn, Thanh Nam bốn mươi tuổi. Anh làm “Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi“. Năm 1977 ở thành phố Seattle, Hoa Kỳ, Thanh Nam làm bài “Thơ Xuân Đất Khách” cũng hay thiệt là hay. Khen thơ mà cứ tấm tắc “Hay thiệt là hay. Hay ơi là hay. Hay quá là hay”, người đọc chẳng thấy hay ở chỗ nào cả. Chi bằng mời bạn thưởng thức ngay bài thơ hay: Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi.

Én nhạn về nam, xuân rồi đây
Chợt thèm ly rượu, chút mưa bay
Gọi về trong đáy hồn lưu lạc
Những bước chân xưa nhạt dấu giầy
Bạn cũ hay nương theo rét lạnh
Về đây cùng nhập một cơn say.
Uống ly thứ nhất mừng tao ngộâ
Cho tiếng cười lên vỡ tháng ngày.
Vào cuộc hành hương tìm gập lại
Cõi trời xanh ngắt tuổi thơ ngây
Trong veo cặp mắt chưa vương bụi
Chăn chiếu còn thơm ngát mộng trai
Chí lớn chia nhau đầy gác nhỏ
Bụi hồng chưa khiến toc xanh phai
Đồng tiền mừng tuổi ngày Nguyên Đán
Canh bạc đời chưa lột trắng tay.
Dăm bẩy lòng sông ôm biển cả
Coi đời dưới mắt nhẹ không ai
Cơn mê nhập cuộc sầu chưa bén
Thân thế chưa đau cát bụi này
Gió nổi mười phương trời buổi đó
Với ngày như tháng, lá như mây.
Lầu sương từng buổi đùa nhan sắc
Giấc ngủ thềm khuya rộn tiếng hài.
Chiều xuống đã nghe lòng rộn rã
Gió lên hồn ngỏ phố vui mời
Ca trường, hý viện, xuân như hạ
Đời thả trôi vào nhịp phách lơi
Lãng đãng khói sương trời tưởng nhớ
Ly này xin cạn hết chua cay
Mười lăm năm đó từ phiêu bạt
Đứa vợ con yên, đứa lạc loài
Viết mướn đã bao thằng mệt mỏi
Sang giàu đếm được những ai đây?
Lưới đời chân đã bùn nhơ vướng
Mắt vẫn trời cao rướn cánh tya
Cuộc chiến nay chừa dăm bẩy mạng
Thôi thì rượu đó uống cho say
Rót thêm ly nữa chào năm cũ
Tuổi bốn mươi rồi, thương lắm thay.
Lận đận lý nào theo trọn kiếp
Tối tăm không lẽ mãi đêm dài?
Niềm thê nhi đó giờ an phận
Nợ áo cơm này nặng trĩu vai
Năm tháng sức trai mòn mỏi mãi
Nụ xuân đời đã lánh tầm tay
Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ
Vai kép hề kia vẫn riễu hoài
Nhìn lại trời xuân vừa khép kín
Thơ hồng, tuổi ngọc tiếc thương ai.
Nghiêng chai thêm một ly này nữa
Trên vách sầu ta đối bóng gầy
Chợt tiếng con thơ cười lảnh lót
Nhìn con, lòng bỗng thấy xuân đầy
Lại đây con nhỏ, con yêu dấu
Bố uống cho con ly rượu này
Ly rượu mừng con tròn mộng đẹp
Niềm vui hoa nở tháng năm dài
Ngủ đi, con hỡi, mai khôn lớn
Đời sẽ bình yên không lửa gai
Trong vắt hồn con nguyên khối ngọc
Lượng xuân đời chẳng khép vòng tay
Nhìn con giây phút lòng tan biến
Những chuyện ân thù, những đắng cay
Tiếng bạc đời cha gieo đã lỡ
Chiều tà khôn gỡ nước cờ sai
Trắng tay nhìn lại còn con đó
Hy vọng đời cha mẹ kiếp này
Tăm tối căn phần cha đã chịu
Cánh hồng con hẳn sẽ xa bay!
Ngủ đi con, ngủ đi yên giấc
Cha ru con bằng hơi rượu say
Cha ru con bằng lời thống khổ
Trong nhục nhằn mê sảng đêm nay.
Chếnh choáng lòng khuya men đã ngấm
Nghe ngoài đêm tối tiếng mưa rơi
Vọng lời sao xác hồn năm tháng
Chuyển nhịp mùa xanh lại đất trời
Bắt chước cổ nhân nâng chén rượu
Mừng xuân thay áo mới cho đời.
Mười năm thêm một bài thơ nữa
Viết tặng riêng mình tuổi bốn mươi…

(Sài Gòn 1970)

Thanh Nam làm những lời thơ Đón Tuổi Bốn Mươi ở Sài Gòn khi anh bốn mươi tuổi. Anh hẹn mười năm – năm 1980 – anh sẽ làm bài thơ nữa khi anh tròn năm mươi tuổi, anh không làm được việc đó. Ngày 30 Tháng Tư 1975 sầm sập đến…

Năm 1970 đọc Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi, tôi thấy hay, thấy não nùng nhưng tôi không xúc động bao nhiêu.Phải đến những năm sau 1975, và đến những năm này, những năm 1999, 2000… hai mươi mùa thu lá bay sau, tôi thấy lời thơ thật hay và càng ngày càng hay. Những lời thơ tuyệt đẹp:

“…Gió nổi mười phương trời buổi đó
Với ngày như lá, tháng như mây…
Lãng đãng khói sương trời tưởng nhớ
Thơ hồng, tuổi ngọc tiếc thương ai?

Kể từ ngày oan nghiệt ấy có biết bao nhiêu văn nghệ sĩ đã vĩnh viễn ra đi? Chết thì tất cả mọi người đều phải chết thôi, nhưng từ Ngày 30 Tháng Tư 1975 đến nay các văn nghệ sĩ đàn anh tôi, các văn nghệ sĩ bạn tôi, đã bao nhiêu nngười phải chết trong tủi nhục?

Đa số bị tù đầy: anh Chu Tử Chu Văn Bình đi tiên phong trong ngày 30 Tháng Tư – anh chết vì đạn thù bắn theo trên con tầu đưa anh ra biển – tiếp đến là anh Vũ Hoàng Chương, rồi Hoàng Vĩnh Lộc, Trọng Nguyên, Minh Đăng Khánh, Trần Việt Sơn, Trần Việt Hoài, Vũ Bằng, Tam Lang, Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Trúc Ly, Huy Cường…

Ba anh Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường chết trong tù.

Ba anh đều chết thảm nhưng anh Nguyễn Mạnh Côn chết thảm nhất. Ở tù được ba năm, khi ở Trại Lao Động Cải Tạo Xuyên Mộc, anh Côn tuyệt thực đòi Việt Cộng phải thả anh. Bắt chước cách đàn áp tù nhân dã man đến cùng cực của bọn Nga Cộng và Tầu Cộng, Cai ngục Xuyên Mộc giam riêng người tù tuyệt thực Nguyễn Mạnh Côn. Không cho anh uống nước, cai ngục Xuyên Mộc lạnh lùng bắt anh chết vì khát.

Họ công bố cho các tù nhân biết khi người tù không ăn, họ không cho người tù uống nước, cho người tù chết luôn. Họ giết anh Nguyễn Mạnh Côn để những tù nhân khác không còn ai dám tuyệt thực. Và người tù văn nhân chính trị Nguyễn Mạnh Côn đã chết thê thảm ở Nhà tù Xuyên Mộc, xác anh nằm lại nơi bìa rừng hiu quạnh ấy.

Không bao giờ tôi quên được hình dáng anh trong buổi sáng chủ nhật ở lối đi trong Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu, khi anh được ra ngồi phơi nắng chừng hai mươi phút. Sáng ấy – một buổi sáng giữa năm 1977 – anh gầy ốm, tóc bạc, râu ria, trong bộ đồ ngủ nâu đã cũ nát. Tôi bồi hồi nhìn anh qua cửa gió xà-lim, nghe tiếng anh ngâm câu thơ Hồ Trường:

Chí ta ta biết, lòng ta ta hay…”

Trước 1975 nhiều người trong anh em chúng tôi – trong số có tôi – bất mãn với cuộc đời, kêu khổ rầm trời, giận trời, trách đất, oán người vung xích chó.

Vì vậy tôi không lạ, tôi hiểu tại sao trong bài thơ đón tuổi bốn mươi năm 1970 ở Sài Gòn của Thanh Nam lại có câu: “Bố ru con bằng lời thống khổ – Trong nhục nhằn mê sảng đêm nay…” Tội thay.

Thời ấy chúng tôi thực sự chưa biết khổ nhục là gì.

Kim Thánh Thán viết trong bài phê bình Tây Sương Ký: “Năm xưa nghèo không có đất cắm dùi chưa phải là nghèo. Năm nay nghèo mới thật là nghèo, nghèo đến cái dùi cũng không có mà mang đi cắm”.

Phải đến sau 1975 chúng tôi, ở quê nhà, ở nước ngoài, mới biết thế nào là khổ nhục, chúng tôi mới thực là khổ nhục, trước 1975 chúng tôi chỉ kêu là chúng tôi khổ nhục thôi, chúng tôi chưa thực sự khổ nhục.

Thanh Nam đi xa quê hương từ hải đảo Phú Quốc trong một đêm mờ sương. Hai mùa lá rụng sau đó, mùa xuân năm 1977, ở Seattle, thành phố mưa quanh năm, Thanh Nam làm bài Thơ Xuân Đất Khách:

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thưở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi giạt từ đông sang cõi bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư.
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Đất lạ đâu ngờ buổi viễn du
Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa.
Ơi hỡi quê hương, bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn xuân đó
Không một tin nhà, một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho dông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Học làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nuớc đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!
Bằng hữu qua đây dăm bẩy kẻ
Đứa nuôi cừu hận, đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa.
Mây nước có phen còn hội ngộ
Thâm tình viễn xứ lại như xa
Xuân này đón tuổi gần năm chục
Đối bóng mình ta say với ta.

Đây là một trong những bài thơ tha hương hay nhất, cảm khái nhất tôi được đọc. Những câu làm dạ tôi xót sa, tim tôi đau nhói: “…Thức ngủ một mình trong tủi nhục…Giống như người lính vừa thua trận. Nằm giữa sa trường nát gió mưa…Chợt nghe từ đáy hồn thương tích… Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa… Một năm người có mười hai tháng. Ta trọn năm dài Một Tháng Tư.. Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt. Học làm con trẻ nói ngu ngơ…”

Dù sống ở xứ người hay sống ở quê hương, sống ở đâu tâm hồn, thể xác anh em chúng tôi cũng như người lính vừa thua trận, nằm giữa sa trường nát gió mưa. Trong những đêm buồn thê thảm, chúng tôi nghe mãi từ đáy hồn thương tích, vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa. Chỉ có khác là sống ở quê hương, chúng tôi không phải đổi ngược họ tên cha mẹ đặt, chúng tôi phải cúi đầu nhận là chúng tôi có tội với nhân dân, có tội với tổ quốc. Chúng tôi có một cái chung là:

Một năm người có mười hai tháng
Ta trọn đời ta Một Tháng Tư!

Qua hai bài thơ tôi thấy: Năm 1970 ở Sài Gòn, Thanh Nam bốn mươi tuổi, anh thương tiếc tuổi hai mươi trong veo cặp mắt chưa vương bụi, chăn chiếu còn thơm ngát mộng trai.. Và than: “Tiếng bạc đời cha gieo đã lỡ. Chiều tà khôn gỡ nước cờ sai“. Để rồi bẩy năm sau, lưu lạc quê người bên kia đại dương, bên kia trái đất, Thanh Nam thấy những ngày, những tháng, những năm 1970, 1971 sống ở quê hương là đẹp tuyệt vời, anh lại tiếc, lại thương, anh không thấy tiếng bạc đời anh gieo đã lỡ mà anh thấy: “Canh bạc chưa chơi mà hết vốn. Cờ còn nước đánh phải đành thua…”

Tôi quen Thanh Nam ở Sài Gòn, năm 1952. Những năm này có lúc anh sống với thi sĩ Trúc Giang (đã chết) ở đường Frère Louis, có lúc anh sống với Đại úy Nguyễn Ngọc Loan ở nhà Sách Á Châu của anh Nguyễn Bá Châu, đường Lê Lai. Những năm 1960 Thanh Nam chưa lập gia đình, tôi thường đến chơi với anh ở Bin-đinh Cửu Long, đường Hai Bà Trưng. Thời ấy Thanh Nam, Thái Thủy và Hoàng Thư  là ba văn nghệ sĩ độc thân từng sống chung nhà với nhau, rồi cùng ở Bin-đinh Cửu Long. Hoàng Thư lấy vợ trước – khoảng năm 1960. Thái Thủy là người thứ hai rời bỏ Bin-đinh Cửu Long và đời sống trai độc thân – khoảng năm 1965. Thanh Nam cô đơn. Anh nói với tôi:

– Tao sợ đêm đêm đi chơi về bin-đinh như đi vào nhà tù. Mở cửa vào phòng tao có cảm giác như chui vào xà-lim…

Năm ấy chúng tôi chưa biết tù đày, nhà tù, sà lim là gì, chúng tôi chỉ mới nhìn thấy cảnh nhà tù trên màn ảnh xi-nê. Nhiều năm sau ở trong tù, tôi thấy lời Thanh Nam nói thật đúng. Hành lang bin-đinh Cửu Long chia đôi hai dẫy phòng, cửa phòng sơn mầu xám. Đêm hay ngày đi trong hành lang đó cũng như đi trong hành lang nhà tù. Căn phòng bin-đinh y hệt sà-lim. Rộng hơn, sạch hơn, dễ chịu hơn. Tất nhiên.

Đó là lúc Thanh Nam thấy cô đơn, thấy chán đời sống trai già độc thân ở phòng bin-đinh, anh muốn có gia đình, vợ con.

Thời ấy tôi có cái xe Jeep nhà banh – xe phế thải – có đêm thứ bẩy tôi chở Thanh Nam đi chơi. Chủ nhật mọi người nghỉ làm, nhà báo Sài Gòn Mới làm việc ngày chủ nhật để ra số báo ngày thứ hai nên ngày chủ nhật tôi phải đi làm. Đi chơi với Thanh Nam đến hai giờ sáng, tôi nói:

– Thôi về. Tao về ngủ một lúc. Mai tao phải đi làm, tao  có vợ..

Anh nói:

– Mày làm như cả Sài Gòn này chỉ có mày là thằng có vợ!

Đâu phải cả Sài Gòn chỉ có tôi là có vợ! Đêm ấy tôi đi chơi với bạn suốt đêm. Năm, sáu năm sau – khoảng 1967, 1968 – khi Thanh Nam có vợ, một tối chúng tôi đi ăn cơm với nhau. Ăn xong, Trịnh Viết Thành chở chúng tôi đến Quang Minh Đỉnh trên chiếc xe Simca của anh. Thanh Nam giao hẹn:

– Tao đi đến 10 giờ thôi.

Mười giờ, cuộc vui đang vui, Thanh Nam đi về. Trịnh Viết Thành ngăn lại:

– Ở lại chút nữa tao đưa về luôn…

Thanh Nam cứ về. Về là phải, bởi vì ở lại thêm một lúc là hai, ba giờ sáng lúc nào không biết. Năm ấy quân đội Mỹ vào đầy Sài Gòn, xe taxi thiếu, trời lại mưa, Thanh Nam cứ xuống đường chờ xe về. Cả giờ sau chúng tôi từ Quang Minh Đỉnh xuống, anh vẫn còn đứng núp mưa bên gốc cây sao chờ xe. Nhìn Thanh Nam đứng đó tôi nhớ mấy năm trước tôi đi chơi với anh đến 2 giờ sáng, đòi về, anh nói:

– Mày làm như cả Sài Gòn chỉ có mày là thằng có vợ!

Một tối Ngọc Linh bán được tác phẩm tiểu thuyết, mời chúng tôi đi ăn ở nhà hàng Động Phát đường Hàm Nghi, Chợ Cũ. Năm đó là năm 1960. Bữa ăn có Thanh Nam, Nguyên Sa, Tô Kiều Ngân, Quốc Phong, Văn Quang, Phan Nghị, Thái Thủy và tôi. Trong bữa ăn chúng tôi nói linh tinh đến chuyện vợ bé, con riêng. Tôi nói:

– Tao sẽ không bao giờ có vợ bé. Ông già tao không có vợ bé nên tao cũng không bao giờ có vợ bé.

Văn Quang cười:

– Nếu mày nói thế thì tao có quyền có vợ bé. Ông già tao nhiều vợ lắm..

Tôi không hoạt bát, không linh lợi, không sắc xảo trong lời nói và khi đang cao hứng nói ra lời gì bị người khác nói ngược là tôi bị khựng. Tôi ngồi im. Một lúc sau khi các bạn tôi đã nói sang chuyện khác, tôi trở lại chuyện vợ bé:

– Ê… Văn Quang… Trước đây mày có khổ vì ông già mày có vợ bé không? Nếu mày khổ thì bi giờ mày đừng làm cho các con mày khổ.

Thanh Nam bảo tôi:

– Làm cái gì mà mày cay cú thế? Mày mới có vợ đây, đã lâu la gì. Đừng nói trước. Tao thấy những thằng nói như mày là những thằng có vợ bé trước hơn ai hết…

Buổi tối trong căn phòng riêng trên lầu nhà hàng Động Phát năm 1960, 1961. Bốn mươi năm trời đã qua đời tôi. Những ngày như lá, tháng như mây… Tôi thường quên những chuyện nhiều người cho là quan trọng, nhưng lại nhớ những chuyện nhiều người cho là không có gì đáng nhớ. Hôm nay trời mưa trên Rừng Phong, tôi viết chuyện xưa, tưởng nhớ, mến thương những người bạn tôi còn sống, đã chết, những người đã cùng sống thời hoa niên của tôi ở Sài Gòn – những năm 60 đời tôi thật đẹp – tôi tưởng như tôi đang nhìn thấy anh em chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn ăn tròn cao lâu Tầu đêm xưa ấy. Thanh Nam, Nguyên Sa đã chết, Tô Kiều Ngân, Văn Quang, Phan Nghị hiện ở Thành Hồ, Quốc Phong ở Pháp, Thái Thủy ở Cali. Chúng tôi mến thương nhau đến là chừng nào! Tình thương mến ấy vẫn còn đến hôm nay. Khi gần những người bạn xưa của tôi, tôi thấy thoải mái, bình yên. Vì tôi là bạn tôi, bạn tôi là tôi. Những cái tật của tôi là những tật của bạn tôi, và ngược lại.

Tôi viết nhiều về những chuyện ngày xưa. Biết làm sao hơn được. Người viết thường viết ra những gì ở trong tim mình, trong óc mình. Trong tôi chỉ có những chuyện ngày xưa…

(Còn tiếp)

Share this post