Thần Hổ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 3

Thần Hổ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA) Chương 3

THẦN HỔ
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – TCHYA
* Hương Lan xuất bản (Hà Nội – 1937)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 3
BÁO PHỤC

MỘT

Sự gặp gỡ trên đời nhiều khi đều do tiền định. Tôi không biết các bạn có tin như thế không; riêng về phần tôi, tôi rất tin ở số mệnh và ở sự rủi may ta thường gặp trong lúc sống. Gặp gỡ nhau là một mối duyên, do nghiệp mình mà thành ra có.

Tôi sở dĩ tin ở duyên số, chỉ vì, nếu không bởi duyên số, tôi không bao giờ viết nổi chuyện này. Nếu sự tự nhiên không xui tôi quen biết Đèo Lầm Khẳng, tôi làm gì biết được chuyện “Thần hổ” với “ma Mường”? Những việc tôi đã thuật ra, nó có hay không có, nó xác thực hay huyễn hoặc, cái đó tôi không rõ. Nhưng tôi dám nói chắc chắn và thề rằng tôi có quen Đèo Lầm Khẳng, có được nghe rõ ràng những chuyện tôi vừa mới kể trên đây. Bây giờ tôi chỉ có công là đem các chuyện đã nghe ngả ra trên mặt giấy, tôi thú thực không thêm bớt bịa đặt gì cả, cũng không có ý làm cho các bạn phải suy nghĩ hay ngờ vực lôi thôi. Bản tâm tôi không phải định làm cho độc giả phải sợ hãi; tôi được nghe một chuyện thú vị thì muốn đem chia thú vị ấy cho anh em cùng hưởng đó thôi, không có ý gì khác nữa.

Đèo Lầm Khẳng có lừa đối tôi hay không, cái đó tôi không biết. Vì đấy là ý riêng của Khẳng; tôi không phải là Khẳng nên không tài nào biết được thực hư. Cũng có lẽ: “Ai ở xa thường hay nói phét”; có khi Lầm Khẳng cho tôi là chưa được biết xứ Mường bao giờ, nên bịa đặt những chuyện kỳ quặc trên miền rừng thiêng nước độc, để bắt phải phục tòng chàng với tấm lòng hay tin nhảm của tôi? Cũng có lẽ như thế, song tôi không ngờ Lầm Khẳng nói dối tôi bao giờ. Nghe chàng, tôi vẫn bán tín bán nghi, song vẫn cho chuyện chàng kể lại có vài phần sự thực.

Nhưng bây giờ, không hiểu vì sao, tôi lại rất tin lời của chàng thiếu niên Mường đó. Bởi lẽ, tôi nhớ lại rõ rệt, khi chàng kể tâm sự cho tôi rõ, chàng nói một giọng rất trầm, rất nhỏ, chỉ đủ một mình tôi nghe mà thôi. Chàng không có vẻ gì là khoe khoang, là nói khoác, là “bịp”; trái lại, mặt chàng còn hiện ra vẻ chân chính, thành thực; chàng tựa hồ rất cảm động mỗi khi nói lại, tả lại một việc hay một cảnh bi đát hoặc thê thảm. Người chàng trong lúc đó như run rẩy, như xúc cảm, như chuyển động. Chàng cố dặn tôi phải giữ kín, không nên thuật lại cho ai nghe câu chuyện lạ lùng của chàng, mà chàng giãi bầy lần thứ nhất cho tôi được rõ – tôi, người bạn trai đầu tiên chàng tin cẩn và mến yêu. Gia dĩ lúc tôi được hân hạnh trầm ngâm lắng nghe tâm sự éo le của bạn, hoàn cảnh bao bọc chúng tôi lại nhuốm một sắc âm thầm, một màu tịch mịch, một vẻ lạnh lẽo, hóa nên những cảm tưởng của tôi càng thấm thía lạ lùng. Hoàn cảnh ấy là một gian phòng hút thuốc phiện, êm ả, vắng vẻ, hình như ngủ say sưa trong giấc ngủ đằng đẵng của đêm đông.

Cứ riêng tôi xét đoán, câu chuyện hoang đường kia có lẽ không hoang đường. Hoặc giả có những sự bí hiểm, quái dị, thuộc về ma quỉ, mà ta chưa từng nghe nói và trông thấy? Tôi tin lời Lầm Khẳng, không những vì chàng có vẻ thực thà, không những vì chàng cũng lộ ra vẻ tin sợ như tôi, không những vì hoàn cảnh dễ xúc cảm, mà nhất là bởi kết quả câu chuyện ấy giống hệt như lời chàng đã nói, không sai một mảy may nào.

Tôi hãy kể lại bạn nghe cái kết quả lạ lùng, bi thảm ấy.

oOo

Tôi gặp Lầm Khẳng là một sự may mắn lạ, may mắn tại tôi có tên trong làng Bẹp thực thụ đã lâu ngày. Hôm đó, không hiểu đúng vào ngày nào, tôi chỉ mang máng nhớ ngày ấy về mùa đông, cách đây độ hai ba năm về trước. Trong tiệm hút số 32 đường 148, một tiệm hút tôi thường đến, một buổi chiều luồng nhỡn tuyến của tôi chạm phải một đôi mắt rất đen, rất sắc, chứa đầy nghị lực và sinh khí, sáng quắc dưới đôi lông mày rậm rạp và dài. Đôi mắt đó là một đôi mắt đàn ông: một trang thiếu niên có nước da hơi ngâm ngâm mà hình dung vạm vỡ khỏe mạnh, trông khôi ngô tuấn tú hơn người. Chàng thiếu niên đó có lẽ là người xa lạ: chàng đến tiệm hút số 32 lần này là thứ nhất, nhìn thấy ai vào cũng trông ngơ ngác, lộ ra vẻ lạ kỳ. Chả biết ai dắt chàng vào tiệm, chả biết chàng ở đâu lại; song đoán phỏng, thì tưởng chừng người Thổ, Mán, hay người Cao Mên gì. Bởi lẽ tiếng nói chàng lơ đớ và ngô nghê, nghe ngộ ngĩnh lắm.

Trong tiệm hút làm quen cũng dễ; nhân tính tôi hiếu thắng kiêm hiếu sự và hiếu hữu, tôi không nể gì cả, lại nằm sát gần chàng, bắt đầu cùng chàng trò chuyện. Tôi biết được tên chàng là Phá Leng, chàng người Lào, ra Hà Nội du học.

Lần đầu, tôi chỉ được rõ có thế. Dần dà, mãi sau này, tôi mới biết thêm chàng trọ phố hàng Trống, nhà một ông đại phú thương, và chàng chưa có vợ con, nhưng có một người nhân tình Việt Nam đẹp lắm. Lâu lâu ít nữa, tôi lại biết Phá Leng mỗi tháng nhận được một trăm bạc của thân phụ chàng gửi, chàng sống bằng số tiền đó, không phải làm nghề gì cả. Vì sống an nhàn, vô nghề nghiệp, chàng tiêm nhiễm những thói thường của các bạn trẻ Hà thành: ăn mặc sang, chải dầu bóng, hút thuốc lá thơm, hay ăn cơm tây, hay đi cô đầu, hay chim gái đẹp. Phá Leng tựa hồ lấy sự sinh hoạt ở chốn phồn hoa đô hội làm thú vị, bao giờ chàng cũng cười đùa vui vẻ, không hề lộ ra ý lo nghĩ hoặc ưu phiền. Chàng thú thực rằng chỉ có hai sở thích: đi bắn và hút thuốc “phiện”.

Chả ngày nào tôi không thấy chàng ở tiệm hai buổi, tối và trưa. Trái lại thói thường các bạn trẻ ta, nghiện rồi mà vẫn chối đây đẩy là hút thuốc chơi, Phả Leng chả sợ gì ai cười, cứ tuyên bố to rằng chàng nghiện, nghiện hẳn rồi, chàng thích nghiện và tình nguyện nghiện từ buổi biết vị êm dịu của nhựa Phù dung lần thứ nhất. Bên cạnh bàn đèn, câu chuyện chúng tôi dần dần thành thân mật. Phá Leng, lâu ngày, cũng tựa hồ có vẻ quí mến tôi. Ngày nào cũng thế, hai chúng tôi cùng nằm dài trên phản, hút, hút mãi, hút cho thế sự phải mờ ám vì khói thuốc tuôn ra.

Tình thân mật của dân làng Bẹp, khi đã bén rồi thì khắng khít, sâu xa khó lòng ai gỡ nổi. Phá Leng coi tôi như người bạn duy nhất của chàng. Ngoài ra chàng còn một người bạn nữa, không thân lắm, tức là con ông chủ nhà chàng trọ. Người sau này là bạn trong những giờ săn bắn; con ông chủ trọ có ô tô, có súng hễ đi săn chỗ nào cũng rủ chàng đi. Trong những buổi đi săn ấy, Phả Leng phải tạm biệt tôi một hai ngày. Nhưng khi chàng về, chúng tôi lại êm đềm cùng nhau hưởng thú thức suốt đêm, bên cạnh khay đèn thuốc phiện.

Như thế trong hai năm, Phá Leng và tôi chỉ quen nhau ở tiệm; chúng tôi, ngoài câu chuyện vui đùa và ăn chơi phù phiếm, không từng căn vặn nhau về các việc riêng. Vì thế lai lịch Phá Leng thế nào tôi không được rõ, mà nhà cửa thân thích tôi thế nào bạn tôi không hỏi đến bao giờ, sự giao thiệp của chúng tôi thực là trong sạch, thoát ra ngoài vòng tài lợi ganh đua. Bởi lẽ ấy hai chúng tôi rất quý trọng nhau, quý trọng nhau đến nỗi sau này sự chia rẽ càng thành ra thiết tha, đau đớn.

Một ngày kia, tôi thấy bạn mừng rỡ rút trong túi một tờ giấy trắng, trên có lẫn chữ in và chữ viết; rồi trịnh trọng đưa tôi xem, nét mặt lộ ra vẻ sung sướng đắc chí cực kỳ. Tôi cầm lấy tờ giấy đọc. Thì ra một tờ khai sinh. Một tờ giấy khai sinh cho một đứa con trai nhỏ đẻ ở Nhà thương tây Đồn Thủy ngày 12 tháng tám, năm 193…, con của Đèo Lầm Khẳng, người huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, và Nguyễn Thị Khuê người Hà Nội, cả hai cùng buôn bán. Tôi rất lấy làm lạ, mở to mắt nhìn Phá Leng. Thì chàng đã vội thu lấy tờ giấy, không cho tôi nói gì cả, bá cổ tôi hôn lấy hôn để, rồi nhảy lồng lên mà reo:

“Hôm nay tôi mời anh đi chén rõ sang! Đây: tôi có một trăm bạc! Dịp mừng… Cứ chén cho no say đi, hút cho hết gân đi! Sau này anh sẽ hiếu rõ cả”.

Tôi không hỏi gì nữa, vui lòng theo ý muốn của bạn. Đêm hôm ấy, về khoảng hai, ba giờ sáng, khi trong tiệm dân nghiện lần lượt tả tơi về hết, khi ngọn đèn dầu lạc lụt bấc tỏa trong không khí hiu quạnh những tia sáng mờ đỏ, mờ vàng, Phá Leng mới dí tai tôi nhủ nhỉ:

“Anh Thảo ạ, từ xưa đến nay tôi chưa nói rõ với anh đời tôi ở Hà Nội nó ra thế nào. Vì quãng đời ấy xấu xí lắm hóa nên tôi phải giấu kỹ. Anh chớ tưởng lầm bản tính tôi không tốt đâu, và tôi muốn làm những điều thô bỉ đâu! Không phải. Tôi có một nỗi khổ tâm trước kia không nói ra được, nhưng bây giờ có nói anh biết cũng không hại gì. Số là tôi cần có con. Cần lắm, cần lắm. Anh không hiểu sự cần đó quan trọng là thế nào, đến bực nào! Tôi là con một, hay nói cho đúng, là giọt máu cuối cùng của một dòng họ gần tuyệt diệt. Vì thế tôi sợ lắm. Tôi tuy còn trẻ thật, còn khỏe mạnh, nhưng số kiếp con người nó bấp bênh như làn sóng, mong manh như sợi tóc, lấp lánh như ngọn đèn, biết thế nào mà lường được! Lỡ ra tôi chết trước khi có vài đứa con trai, thì nguy, thì hỏng cả: họ nhà tôi mất tích, và tôi là người vô dụng! Nhưng may, tôi có một đứa con trai rồi, đỡ được một phần lo. Vợ hai tôi lại chửa, sắp đẻ. Nếu được đứa con trai nữa thì khá quá! Tôi mừng lắm. Thực là may phúc cho tôi. Anh phải biết, tôi lao tâm lao lực biết bao mới được thấy kết quả bây giờ, mỹ mãn.

“Từ trước, tôi vẫn giấu anh. Tôi ở Hà Nội có hai vợ, bao giờ cũng có hai vợ. Ngoài hai vợ đó, tôi lại có nhân tình. Đã hơn hai năm nay, từ khi tôi bước chân lần đầu lên đất này, mỗi tháng nhà tôi gửi cho tôi một trăm hai bạc. Thầy tôi thương tôi quá, tôi biết lấy gì báo đáp lại được? Ơn ấy có lẽ đời sau tôi mới trả nổi! Nhưng thôi, tôi hãy nói anh biết, mỗi tháng, rất đều, tôi có 120 đồng.

“Trăm hai bạc ấy, tôi tiêu vào việc sẵn sàng cả. Cả ngày không có việc làm, thành ra tôi cứ dùng thì giờ để đi chim gái. Tôi là một thằng chim gái có tiếng, vì tôi vớ được nhiều vợ lắm. Anh phải biết, trong hai năm nay, tôi thay năm đời vợ và ba lần nhân tình rồi! Tôi có hai vợ thực thụ và hai nhân tình thực thụ, tức là bốn. Mỗi tháng cho mỗi vợ 25 đồng, mỗi nhân tình 10 đồng, còn 50 đồng thì ăn tiêu xe pháo và hút. Thế cũng tiềm tiệm đủ cả. Nhưng tôi xem, hễ cứ lấy về ba tháng hoặc nhân tình trong ba tháng mà không thấy chửa, thì tôi thảy ngay, tôi mới được vừa ý. Vì, anh ạ, tôi cần có con lắm, không có thì nguy to! Thế mới biết Trời còn thưởng tôi: khi không chửa, thì không hề một đứa nào chửa cả; đến lúc có mang thì trong bốn đứa, ba đứa lần lượt thụ thai! Thực là đại phúc.

“Thân tôi, anh ạ, bây giờ tôi không phải giữ nó khốn khổ và bo bo cho dòng họ nhà tôi nữa. Tôi còn mang trong tâm huyết một mối thù tôi phải trả, mà trả được mối thù ấy, có khi tôi khó lòng sống trọn hết đời. Tôi sẽ phải chết non chết yểu mất. Dù tôi không trả thù, đành nhắm mắt làm thinh, thì một ngày kia, có khi tôi cũng thiệt mạng. Bởi lẽ kẻ thù tôi có bắt tôi chết vì nó, nó mới yên lòng. Vả lại thọ mệnh con người ẻo lả như ngọn cỏ, nào được mấy chốc? Hóa nên tôi phải kíp làm tròn bổn phận cố cho có con trai, ngõ hầu sau này, dù sống, dù chết, tôi không hối hận gì cả.

“Đến bây giờ thì yên lắm, tôi đã có con trai, lại có hai vợ chửa, tôi không ngại gì nữa. Anh nên mừng, cho tôi, anh Thảo ạ…”

“Đợi một vài tháng, khi nào các vợ tôi đã sinh nở vuông tròn, lúc bấy giờ tôi phải giã từ anh, giã từ Hà Nội, đi lùng kiếm kẻ thù của tôi để trả một mối hờn vạn cổ cũng không tiêu. Lúc bấy giờ, chết hay sống sót, tôi cũng không quản. Nhưng tôi quên không nói cho anh rõ: tôi không chết được, tôi khó chết lắm, bởi tôi có bùa hộ mệnh trong người rồi, nếu tôi chết chẳng qua là tại số. Song le, cũng phải phòng lúc chết. Tôi nói trước để anh hiểu, hòng sau này anh trông nom và săn sóc con tôi cho nên người. Tôi trông vào anh đó. Tôi nhờ anh việc đó, vì con tôi không may mồ côi bố, anh sẽ nghĩ tình bè bạn dạy dỗ cho chúng nó hộ tôi. Và anh sẽ đưa các cháu về cho ông chúng nó.

“Nhân dịp này, tôi phải ngỏ anh biết tôi không có họ hàng thân thích nữa; cha mẹ, ông bà tôi chết hết cả rồi. Người cưu mang tôi bây giờ tức dưỡng phụ tôi đó. Dưỡng phụ tôi tuy không có công đẻ, nhưng có công nuôi tôi rất lớn lao. Kiếp này tôi đành chịu bội bạc, không thể báo hiếu cho ân nhân được, vì tôi còn đeo trong mình một nghĩa vụ rất hệ trọng; nhưng kiếp sau, tôi nguyện làm trâu ngựa để báo đền ơn cúc dục ngày nay.

“Một điều quan trọng cuối cùng bây giờ tôi mới nói anh nghe: tên tôi không phải Phá Leng; tên thực của tôi là Đèo Lầm Khẳng…”

(Hết Phần 1 Chương 3)

Share this post