Thơ Tù Và Thơ Lưu Đày – Hòa Thượng Thích Quảng Độ (1928–2020)

Thơ Tù Và Thơ Lưu Đày – Hòa Thượng Thích Quảng Độ (1928–2020)

BẢN TIN TỔNG HỢP: HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ VIÊN TỊCH TẠI SÀI GÒN
* Phố Nhỏ tổng hợp từ các nguồn: AP, AFP, RFA, BBC, VOA

Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Đệ ngũ Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và là một trong những khuôn mặt đấu tranh dân chủ nổi bật nhất tại Việt Nam, đã viên tịch hôm Thứ Bảy 22 tháng 2 tại chùa Từ Hiếu, Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.

Bản tin Pháp tấn xã (AFP) nhắc lại việc Hòa Thượng Thích Quảng Độ từng nhiều lần được đề cử Giải Nobel Hòa Bình vì kiên trì theo đuổi những hoạt động theo tinh thần bất bạo động để đòi hỏi tự do tôn giáo và nhân quyền. Hồi năm 2001, “Lời Kêu Gọi Cho Dân Chủ Việt Nam” mà Hòa Thượng phổ biến đã được sự hưởng ứng của trên 300,000 người Việt thuộc mọi tôn giáo ở cả trong và ngoài nước – căn cứ theo tài liệu do Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (USCIRF) ghi nhận.

Bản tin AFP cũng trích dẫn nội dung bản Cáo Bạch của Viện Tăng Thống do chùa Từ Hiếu phổ biến, theo đó Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã để lại di huấn ngày 05/4/2019 ghi rằng: “Sau này khi tôi về cõi Phật, tôi hoàn toàn ủy quyền cho Hòa Thượng Thích Nguyên Lý cùng một số Tăng, Ni, và Phật tử có tâm với Giáo Hội lo toàn bộ tang sự cho tôi. Tang lễ đơn sơ, không để quá 3 ngày. Sau khi hỏa thiêu thì đem tro cốt của tôi rải xuống biển”.

Chùa Từ Hiếu tọa lạc tại số 59 lô D Dương Bá Trạc, Phường 1, Quận 8, Sài Gòn.

Thực hiện di huấn của Đức Đệ ngũ Tăng Thống, Hòa Thượng Thích Nguyên Lý, trụ trì chùa Từ Hiếu thông báo chương trình tang lễ được cử hành lúc 2 giờ trưa ngày 23/02 (lễ nhập kim quan) và 8 giờ sáng ngày 25/02 (lễ di quan và hỏa táng). Vẫn theo bản Cáo Bạch thì “Không có điếu văn, tiểu sử, cảm tưởng và mọi hình thức thông thường khác, chỉ đến lễ bái, thọ tang (mật niệm, tâm tang) mà thôi”, và “Tăng Ni và Phật tử đến lễ bái, thọ tang xin miễn phúng điếu, kể cả vòng hoa, trướng liễn…”

Nguồn tin từ ban tổ chức tang lễ và đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) cho biết, vào chiều ngày 24/02 Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ Marie Damour dẫn đầu một phái đoàn đến bái viếng giác linh Đức Tăng Thống. Tiếp xúc với các vị đại diện Tăng Đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, bà Tổng Lãnh Sự Damour phát biểu: “Chúng tôi xin bày tỏ lòng thành kính đến Ngài Tăng Thống Thích Quảng Độ, người góp công sức rất lớn cho cộng đồng Phật giáo, cống hiến cả đời minh cho sự nghiệp đấu tranh vì tự do tôn giáo”,

Trong khi đó, mạng xã hội Facebook loan tin một bài báo viết về Hòa Thượng Thích Quảng Độ trên báo Tuổi Trẻ đã bị gỡ bỏ. Và mặc dù nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không ngăn cấm việc cử hành tang lễ, nhưng Hòa Thượng Thích Không Tánh, Tổng vụ trưởng Tổng Vụ Từ Thiện Xã Hội của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nói với ban Việt ngữ đài VOA hôm Thứ Ba 24/02 rằng tang lễ đã bị giáo hội Phật giáo nhà nước “quốc doanh hóa”:

“Các vị sư quốc doanh đã đứng ra điều động cái lễ này. Chúng tôi là tăng đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vô cùng buồn phiền cho việc này. Chúng tôi chỉ xin tóm tắt như vậy để cho quốc tế được biết là hiện tại người ta đang quốc doanh hóa lễ tang của ngài Quảng Độ, và đồng thời người ta muốn nhuộm đỏ ngài và bây giờ họ đẩy người của nhà nước qua”.

Đài VOA ghi nhận, trang Facebook của Hòa Thượng Thích Nguyên Lý phổ biến danh sách Hội Đồng Trưởng Lão chứng minh tang lễ và một ban tổ chức tang lễ đông đảo, với tên tuổi của các nhà sư thuộc giáo hội Phật giáo nhà nước cùng với các chức sắc bên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trong đó có Hòa Thượng Thích Không Tánh cùng các nhà lãnh đạo giáo hội ở hải ngoại. Trong số các vị này, theo lời Hòa Thượng Không Tánh, “có một số tự xưng là Phật Giáo Thống Nhất” nhưng thực sự không còn theo đường lối chính thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất:

“Họ hòa nhập chung, đứng chung vô với mấy vị quốc doanh của nhà nước, để làm chi? Thứ nhất để họ nắm hết việc tổ chức tang lễ, và có thể sau tang lễ rồi, họ còn có thể tính những chuyện gì khác nữa”.

Hòa Thượng Thích Không Tánh từng bị tòa án CSVN tại Sài Gòn kết án hồi năm 1995 cùng với Hòa Thượng Thích Quảng Độ, mỗi người 5 năm tù, về tội “phá hoại chính sách đoàn kết” và “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”. Hòa Thượng Thích Không Tánh là trụ trì chùa Liên Trì trước khi ngôi chùa này bị cưỡng chế và đập phá vào năm 2016.

Trả lời phỏng vấn đài VOA, Hòa Thượng Thích Không Tánh bày tỏ sự quan ngại về ý đồ của nhà nước CSVN sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Độ viên tịch:

“Họ lựa mỗi châu, mỗi nước những Hòa Thượng mà họ nghĩ rằng họ có thể điều động được, đưa tên của các vị đó vào ban tổ chức tang lễ để trong tương lai, họ có thể trùng lấp hết cả trong nước lẫn ngoài nước. Và như vậy họ sẽ nắm hết vấn đề Phật giáo (…) Cũng có thể là họ không loại hẳn, mà họ có thể tái dựng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, có nghĩa là có Phật Giáo Thống Nhất nhưng mà cái tinh thần, cái lập trường, hay là cái hồn của Phật Giáo Thống Nhất bị họ tiêu hủy đi. Nghĩa là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chỉ lo tu niệm chứ không có vấn đề đòi hỏi đấu tranh nhân quyền dân chủ hay là tự do tôn giáo hay bảo toàn lãnh thổ, lãnh hải như đường hướng của ngài Huyền Quang và ngài Quảng Độ từ trước tới giờ”.

Trước nguy cơ đó, Hòa Thượng Thích Không Tánh cho biết tăng đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chính thống một lòng theo đường hướng, lập trường và hiến chương của giáo hội. Mặc dù đã đến dự lễ thọ tang Đức Đệ ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ, nhưng một số chức sắc sẽ không dự lễ di quan vào ngày 25/02:

“Có thể một số chư tôn đức giữ vững lập trường đối với ngài Quảng Độ, sẽ không tham dự, (vì như vậy là) đi vô cái bẫy hay cái sách lược mà bên Phật giáo quốc doanh đã bày ra”.

Theo tài liệu từ trang mạng Wikipedia và đài BBC: Hòa Thượng Thích Quảng Độ, thế danh Đặng Phúc Tuệ, sinh ngày 27/11/1928 tại xã Nam Thanh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, Bắc Việt. Từ năm 1999, ngài là Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất, trụ sở đặt tại Thanh Minh Thiền Viện ở Sài Gòn, duy trì hoạt động của Giáo Hội trong nước mặc dù đảng Cộng Sản Việt Nam không thừa nhận. Ngài được suy cử làm Tăng Thống từ ngày 17/8/2008, sau khi Hòa Thượng Thích Huyền Quang (Đệ tứ Tăng Thống) viên tịch.

Đài Á Châu Tự Do (RFA) phổ biến bản tin điện tử của nhóm Ái Hữu Gia Đình Phật Tử Vĩnh Nghiêm, gửi đi từ Việt Nam, viết như sau:

“Hòa Thượng Thích Quảng Độ là người đứng đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một giáo hội không được nhà nước thừa nhận vì luôn khẳng định sự độc lập trong tinh thần tín ngưỡng và từ chối mọi sự thỏa hiệp với nhà nước vô thần. Ngài đã bị chính quyền Việt Nam sau 1975 bỏ tù nhiều năm, bị lưu giam ở Thái Bình trong giai đoạn 1970 – 1980.

Vào năm 1995 Hòa Thượng bị Công an TP. HCM bắt giam và bị phạt tù 5 năm và 5 năm quản chế với cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”. Ngài cũng từng bị bắt giam trở lại sau khi phát động các hoạt động nhân đạo cứu trợ cho đồng bào sông Cửu Long bị bão lụt vào năm 2007.

Năm 2018 có tin ngài không còn được lưu trú ở Thanh Minh Thiền Viện, Sài Gòn và phải quay về lại Thái Bình. Nhưng rồi ít lâu sau đó, ngài bí mật quay lại bằng xe lửa đường dài (do không được nhà nước cấp bất kỳ giấy tờ nào) và đến an trú tại chùa Từ Hiếu, cho đến khi viên tịch.

Với người dân miền Nam, Hòa Thượng Thích Quảng Độ là biểu tượng của một nhà hoạt động vì quyền tự do tôn giáo và quyền con người.

Lý do chính giới quốc tế nhiều lần đề cử Giải Nobel Hòa Bình cho Hòa Thượng Thích Quảng Độ, vì ngài đã dành cả cuộc đời tranh đấu bất bạo động cho công lý, hoà bình, nhân quyền, dân chủ. Hòa Thượng từng được trao Giải tưởng niệm Thorolf Rafto vinh danh các nhà hoạt động nhân quyền năm 2006. Cùng năm, ngài được nhận Giải Can Đảm vì Dân Chủ do Phong Trào Dân Chủ Thế Giới trao tặng. Trước đó, năm 2003, ngài từng lãnh giải thưởng nhân quyền quốc tế Homo Homini cùng với Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Linh Mục Nguyễn Văn Lý.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ từng là giảng sư đại học, một nhà văn, một dịch giả với một kho tác phẩm rất đáng kính nể: “Kinh Mục Liên Sám Pháp”; “Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân”; “Thoát Vòng Tục Lụy” (Sài Gòn 1962, truyện dịch từ Hán văn của Thiền Sư Tinh Vân); “Dưới Mái Chùa Hoang” (Sài Gòn 1962, truyện); “Truyện Cổ Phật Giáo (Sài Gòn 1964); “Ðại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận”; “Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận”; “Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận”; “Từ Điển Phật Học Hán Việt” (2 tập); “Phật Quang Đại Từ Điển” (9 tập); “Chiến Tranh Và Bất Bạo Động”; “Thơ Trong Tù” (tháng 3 Đinh Tỵ đến tháng 11 Mậu Ngọ); “Thơ Lưu Đày” (tháng 2 Nhâm Tuất đến tháng 2 Nhâm Thân)…

Sự ra đi của Hòa Thượng Thích Quảng Độ là sự mất mát lớn của Phật giáo Việt Nam, giữa lúc các hoạt động giả tôn giáo được tổ chức mạnh mẽ để huyễn hoặc dân chúng từ sự yểm trợ của nhà nước vô thần”.

Trang mạng Người Việt Online ghi nhận, trong một chuyến viếng thăm Đức Đệ ngũ Tăng Thống của phái đoàn Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ (USCIRF) hồi tháng Chín 2019, theo lời tường thuật của Hòa Thượng Thích Nguyên Lý, trụ trì chùa Từ Hiếu, cho hay: “Phái đoàn hỏi Đức Tăng Thống rằng có nhờ đoàn đưa ra các kiến nghị can thiệp với nhà nước? Ngài đưa ra ba kiến nghị nhờ phái đoàn chuyển đạt: (1) Tách tôn giáo ra khỏi chính quyền, vì chính quyền gắn kết với tôn giáo thì không có tự do dân chủ; (2) Không ép buộc tu sĩ Phật giáo tham gia vào Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân các cấp, bởi vì làm như vậy là sai với giáo luật nhà Phật; (3) Can thiệp để Việt Nam có tự do dân chủ, vì nếu vẫn còn độc đảng thì Giáo Hội không thể nào sinh hoạt được”.

Từ trong nước, Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam phổ biến bản Phân Ưu trên các trang mạng, đứng tên Hòa Thượng Thích Không Tánh (Phật giáo), Linh Mục Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Chánh Trị Sự Hứa Phi (Cao Đài chơn truyền), Đạo Hữu Lê Văn Sóc (Phật giáo Hòa Hảo thuần túy), Mục Sư Nguyễn Hoàng Hoa (Tin Lành). Bản Phân Ưu viết: “Toàn thể thành viên Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam quốc nội và hải ngoại chân thành chia buồn cùng Tang môn Pháp quyến và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Xin nhất tâm cầu nguyện giác linh ngài Đệ ngũ Tăng Thống cao đăng Phật Quốc. Từ nay chúng tôi đã mất đi một bậc trí dũng đồng hành đòi Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ Nhân Quyền cho Đất Nước và Dân Tộc. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mất đi một nhà lãnh đạo tận tụy suốt đời vì lý thưởng Giải Thoát. Hàng hậu bối mất đi một bậc Trí Nhân uyên bác”.

THƠ TÙ VÀ THƠ LƯU ĐÀY
* Sa Môn Thích Quảng Độ
(Một số bài thơ Hòa Thượng Thích Quảng Độ viết trong nhà tù cộng sản, từ ngày 06/4/1977 đến ngày 10/12/1978 (tháng 3 năm Đinh Tỵ đến tháng 11 năm Mậu Ngọ), và trong giai đoạn bị lưu đày về làng quê Thái Bình từ ngày 25/02/1982 đến ngày 22/3/1992 2 tháng 2 năm Nhâm Tuất đến 20 tháng 2 năm Nhâm Thân)
* Nguồn: Trang nhà Quảng Đức (https://quangduc.com)

TỰ THUẬT

Thân ta trong chốn lao tù
Tâm ta vằng vặc trăng thu mặt hồ
Bao trùm khắp cõi hư vô
Lao tù đâu thể nhiễm ô tâm này
Mặc cho thế sự vần xoay
Tâm ta vẫn chẳng chuyển lay được nào
Ngọc thiêu màu thắm biết bao (*)
Sương càng phủ trắng tùng cao ngất trời
Trăng tròn khuyết biển đầy vơi
Mây bay gió thoảng cuộc đời sợ chi!

(*) Lấy ý trong câu: “Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận” của Thiền sư Ngộ Ấn, đời Lý. Đại ý: viên ngọc ở trên núi bị đốt màu sắc vẫn tươi thắm.

ÁC MỘNG

Vào một đêm trời không trăng sao bóng tối ngập tràn
Tôi bắt đầu cuộc hành trình từ đó luân hồi mấy độ
Lang thang khắp nẻo mịt mù
Lần mò quờ quạng trong kiếp sống phù du
Không gian tôi thở toàn mùi tử khí
Chặng đường tôi đi xương trắng ngổn ngang
Những vũng máu từ nghìn xưa còn đọng lại
Bên những thành quách hoang tàn
Chắc hẳn nơi đây là chiến địa, nơi đây là trần gian
Rồi băng qua một miền đất lạnh
Bát ngát mênh mông gió thổi vù vù
Tôi thấy những nấm mồ nằm la liệt
Giữa những đám cỏ úa vàng đìu hiu quạnh quẽ
Và qua đốm lửa lập lòe trên những tấm bia tôi nhìn rõ
Từ các Đế vương đến những người cùng khổ
Tất cả chỉ còn lại nắm xương tàn
Chắc hẳn nơi đây là nghĩa địa, nơi đây là trần gian
Tiếp tục cuộc hành trình tôi đi sâu vào một vùng u tịch
Tường cao cửa kín bóng tối dày đặc đượm mùi hôi tanh
Những dẫy nhà màu xám chìm trong im lặng
Và dưới ánh đèn ma trơi tôi nhìn ra những cảnh tượng hãi hùng
Tôi thấy những người mà không ra người nhưng giống đười ươi
Nằm trong gọng cùm xiềng xích cũi sắt kẹp kìm trên tường
Tôi thấy những vết máu đào loang lổ
Trông như những con vật không đầu hay những hình thù ma quái
Mặt ngựa đầu trâu phồng mang trợn mắt
Như muốn ăn tươi nuốt sống khách bàng quan
Và từ đâu đây vọng lại tiếng kêu cầu cứu thất thanh
Tiếng rên la quằn quại và những tiếng kêu “oan”
Chắc hẳn nơi đây là địa ngục nơi đây là trần gian
Tôi bàng hoàng sực tỉnh cơn ác mộng vừa tàn
Nhìn ra ngoài đầy trời trăng sao và vui mừng
Tôi reo lên:
Ôi trần gian sáng đẹp biết bao!
Ôi trần gian sáng đẹp biết bao!

MƠ ƯỚC NGÀY VỀ

Ngày trở về đường tôi đi thênh thang rộng mở
Ánh nắng chan hòa mùa xuân tươi sáng
Và đầy vườn hoa nở chim ca
Gió thổi vi vu nghìn khúc nhạc hòa
Qua những hàng cây sum suê trải dài bóng mát
Thoang thoảng không gian một mùi thơm ngát
Của hương trời lá thắm cỏ non
Khắp nẻo đường tôi đi
Những tà áo xinh tươi vờn theo ngọn gió
Dưới nắng vàng cành liễu thiết tha
Tiếng cười vui vang lên từ khắp mọi nhà
Hòa lẫn tiếng trẻ thơ ê a tập
Mọi người nhìn nhau qua ánh mắt
Của tình người của trìumến thiết tha
Sau hàng phượng vĩ dưới mái trường xưa
Thầy trò hoan ca ngày mở Hội
Thôi hết rồi những năm dài tăm tối
Sống đọa đày tủi nhục lầm than
Những năm dài áp bức bạo tàn
Đã vĩnh viễn chôn vùi trong dĩ vãng
Đất nước hôm nay muôn màu rực sáng
Đời tự do hoa nở thắm tươi
Hạnh phúc trên môi hé nở nụ cười
Như chào đón một mùa xuân bất tận
Thôi hết rồi những tháng năm thù hận
Tình thương yêu mở lối tương lai
Người với người tay trong tay
Cùng ước mơ xây dựng ngày mai
Trong thanh bình ấm no hạnh phúc
Cùng điểm tô non sông gấm vóc
Sáng đẹp muôn đời Tổ Quốc Việt Nam!

ĐÊM PHẬT ĐẢN

Đêm Phật Đản ánh trăng rằm huyền ảo
Khắp không gian như tỏa ngát mùi hương
Tinh tú ba nghìn tụ lại một phương
Để chào đón đấng Siêu nhiên xuất thế

Nơi ngục thất tôi nhìn vào hiện thể
Khắp quanh tôi tràn ngập bóng vô minh
Từ xa xưa vì nghiệp lực chúng sinh
Đã tạo dựng nhân gian thành địa ngục

Tôi cười vang  trong đêm trường u tịch
Bốn bức xà lim như sụp đổ dưới chân tôi
Ôi đau thương đây thế giới Sa Bà
Cực Lạc Niết Bàn cũng là đây hiện thực

Ánh Đạo rọi giữa lòng tôi sáng rực
Bao ưu phiền trút sạch tựa mây tan
Kia gông cùm xiềng xích cảnh trần gian
Trong khoảnh khắc cháy tan thành tro bụi

Tôi vận dụng sức “hiện tiền Tam muội”
Ngồi an nhiên như sen nở giữa than hồng
Thời gian trôi lặng lẽ đã hừng đông
Tôi bừng tỉnh thấy bình minh ló rạng

Thế giới ngày mai mùa xuân tươi sáng
Đạo từ bi nhuần thấm khắp năm châu.

(15 tháng 4 Đinh Tỵ – 1977)

ĐÊM XUẤT GIA

Đêm nay kinh thành Tỳ la yên lặng
Mảnh trăng thượng tuần vừa khuất sau đồi
Khung trời mờ ảo ngàn sao tỏa ánh lung linh
Sóng Nô-ma cuồn cuộn chuyển mình

Gió Hy-mã ào ào rung động
Vạn vật đã chìm sâu trong mộng
Từ không trung tiếng vọng ngân xa
Tất Đạt Đa! Tất Đạt Đa!

Giờ đã điểm, Ngày hãy ra đi tìm chân lý
Vì muôn loại sầu đau từ vạn kỷ
Đang đợi chờ và kỳ vọng thiết tha
Tất Đạt Đa! Tất Đạt Đa!

Ngài có nghe chăng tiếng khóc than đang vang lên từ khắp mọi nhà
Vì những khổ đau của sống già bệnh chết
Tử biệt sinh ly đói nghèo rách nát
Áp bức đọa đày bởi hận thù và tham vọng cuồng si

Tất cả trông chờ một chuyến ra đi
Một chuyến đi hùng tráng
Niềm ước mơ ở những ngày mai tươi sáng
Chỉ còn đêm nay thôi đừng tiếc chi

Tất Đạt Đa ơi Ngài hãy ra đi
Vì tất cả theo tiếng gọi đêm nay
Hỡi sóng Nô ma và gió ngàn Hy mã
Hãy gào to lên cho tiếng vọng vang xa

Tất Đạt Đa! Tất Đạt Đa!
Giờ đã diểm thôi đừng tiếc chi
Cung điện ngọc ngà với Da Du và La Hầu La yêu quí
Ngày hãy ra đi vì muôn loại sầu đau từ vạn kỷ
Đang đợi chờ và kỳ vọng thiết tha

Tỳ la! Tỳ la! Ôi kinh thành hoa lệ
Thôi đừng buồn chi
Ngài ra đi cho muôn vàn thế hệ
Ngài ra đi vì tiếng gọi khổ đau
Của ngàn nay đến ngàn sau
Và sẽ trở về trong một ngày hào quang rực sáng
Tất cả kinh thành rồi sẽ rơi vào quên lãng
Nhưng hào quang Ngài sẽ sáng mãi với thời gian.

(8 tháng 2 Mậu Ngọ – 1978)

ĐÊM THÀNH ĐẠO

Qua cửa gió xà lim vắng lạnh
Tôi đứng nhìn say đắm ánh sao mai
Tỏa lung linh sáng rực dưới vòm trời
Như báo hiệu bình minh đang trổi dậy
Sắp hết rồi ôi đêm dài tăm tối
Đang trùm lên cảnh vật một màu đen
Tôi im lặng hồi tường lại một đêm
Cùng giờ này hơn hai nghìn năm trăm năm trước
Dưới cội bồ đề mặt đất chuyển rung
Như hoan ca chào đón đấng Đại Hùng
Vừa chiến thắng ma quân lần cuối
Ánh Đạo vàng bừng lên chói lọi
Đốt tiêu tan màn hắc ám vô minh
Những khổ đau thù hận ngục hình
Đã vây hãm chúng sinh từ muôn thuở
Tất cả, tất cả trong tôi đang thiêu hủy
Với tham sân và cuồng vọng si mê
Ánh sáng chan hòa trên nẻo đường về
Suốt cuộc đời hôm nay tôi thấy sao mai đẹp nhất
Xin cảm tạ hồng ân Đức Phật
Đã cho con giờ phút hôm nay
Giờ phút thiêng liêng Thành Đạo của Ngài
Con tin tưởng sẽ đi vào giòng thời gian bất tận
Bao sự nghiệp huy hoàng xây trên thù hận
Từ ngàn xưa dấu vết phủ rêu xanh.

(18 tháng 12 Mậu Ngọ – 1978)

SỐNG CHẾT

Mưỡu
Đời người như một giấc mơ
Tỉnh ra mái tóc bạc phơ trên đầu
Tuyệt mù xanh thẳm ngàn dâu
Gió tung cát bụi tìm đâu lối về

Nói
Sống là thực hay là ảo mộng
Chết đau buồn hay chính thật yên vui
Cứ hằng đêm tôi nghĩ mãi không thôi
Chẳng biết nữa, mình sống hay là chết
Hoàng lương nhất mộng phù du kiếp
Sinh tử bi hoan thục giác tri? (1)
Sống với chết là cái chi chi
Lý huyền nhiệm nghìn xưa mấy ai từng biết?
Có lẽ sống cũng là đang chết
Bởi sống trong tôi mà chết cũng trong tôi
Chết đeo mang từ lúc thai phôi
Nào đâu phải đến nấm mồ mới chết
Vì lẽ ấy, sống tôi không sợ chết
Cứ thung dung sống chết từng giây
Nhìn cuộc đời sương tuyết khói mây
Lòng thanh thản như chim hoa người gỗ (2)
Giữa biển trầm luân gió dồi sóng vỗ
Thân tùng kia xanh ngất tầng cao
Sống với chết nào khác chiêm bao
Lý “nhất-dị” là hào quang bất diệt
Cũng có lẽ chết hẳn rồi mới biết
Sống đau buồn mà chết thật yên vui
Xin đừng sợ chết ai ơi!

(1) Đại ý đời người cũng như giấc mộng kê vàng, như kiếp phù du sớm còn tối mất. Sống, chết, là buồn hay vui? Ai biết được?
(2) Mộc nhân thị hoa điểu: người gỗ ngắm chim hoa (chữ trong Thiền Lâm Bảo Huấn)

TRỜI ĐÃ SÁNG

Vào một buổi chiều mưa
Trời nhà tù buồn thảm
Như ngày ba mươi tháng tư
Năm bảy mươi lăm lịch sử qua rồi
Bên cửa sắt xà lim tăm tối
Tôi đứng nhìn những giọt mưa rơi
Từ mái nhà đổ xuống lênh láng chan hòa
Trông như những dòng nước mắt của muôn vạn người dân vô tội
Đã chảy ra khi trải qua một cuộc đổi đời
Gió rít từng cơn, mưa tuôn càng mạnh
Lòng trống lạnh bồi hồi
Tôi nhìn quanh tôi bốn bức tường dày đặc
Bóng tối phủ đầy
Rồi đưa mắt nhìn ra phía chân trời
Tôi tìm trong tưởng tượng một nơi trú ẩn sáng tươi
Nhưng hoàn toàn mờ mịt cũng như xà lim tăm tối của tôi
Miền Nam ôi!
Tôi thầm gọi, đây là miền Nam trong căn phòng giam chật hẹp âm u
Ngoài kia là miền Nam trong một nhà tù rộng lớn
Còn có nơi nào yên ổn xin chỉ cho tôi ẩn trốn
Hỡi miền Nam thương mến của tôi ơi!
Đêm xuống rồi và mưa đã ngừng rơi
Sau hồi kiểng hiệu vang lên
Toàn khu nhà tù chìm vào yên lặng
Yên lặng như một nấm mồ hoang vắng
Giữa miền cát trắng bao la và nằm trong căn nhà mồ
Tôi không thấy gì nữa cả trừ những bóng ma (vai mang khẩu súng AK)
Thỉnh thoảng chập chờn qua gang cửa gió (*)
Đêm khuya đã đưa tôi vào giấc ngủ
Một giấc ngủ thật ngon
Thời gian lặng lẽ trôi theo định luật vô thường
Và mơ màng tôi nghe đâu đây tiếng chim hót véo von
Tôi choàng dậy
Ô kìa! Thì ra trời đã sáng
Từ phương đông vừng thái dương hiện lên chói rạng
Mở đầu một ngày rực rỡ ánh hào quang.

(*) Trên tấm cửa sắt của xà lim, người ta để một cái lỗ nhỏ vừa bằng bàn tay để đưa thức ăn qua, gọi là cửa gió.

DÂNG MẸ

Bao năm rồi con lưu lạc ngàn phương
Con nhớ Mẹ suốt canh trường khắc khoải
Ơn dưỡng dục Mẹ ơi sao xiết kể
Công sinh thành con nghĩ quặn lòng đau
Khóm mai già xơ xác đã từ lâu
Trơ vơ đứng giữa trường đời gió lộng
Dòng sông chảy ấy đời con trong mộng
Lững lờ trôi trôi mãi đến bao giờ
Có những đêm con thiêm thiếp trong mơ
Con mơ thấy hồn con về thăm Mẹ
Được ấp ủ trong tình thương của Mẹ
Mảnh hồn con ấm dịu biết bao nhiêu
Bốn phương trời con tìm kiếm đã nhiều
Nhưng không có một tình yêu của Mẹ
Vu Lan đến cõi lòng con quạnh quẽ
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây
Một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy
Tình nghĩa ấy Mẹ ôi bao thấm thía
Con phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ
Đức cù lao muôn một trả chưa xong.

(Vu Lan Nhâm Dần – 1962)

LẠY MẸ

Hơn hai mươi bảy năm trời cách biệt
Mắt Mẹ đã mờ vì nhớ thương con
Mẹ trông chờ bao ngày tháng mỏi mòn
Nhưng chỉ thấy mây bay và gió thoảng
Mẹ có ngờ đâu đời con phiêu lãng
Như cánh chim trời xiêu bạt bốn phương
Để giờ đây trong cảnh ngộ đau thương
Cảnh tù ngục tối tăm và buồn thảm
Con hối hận từ đáy sâu tâm khảm
Đạo thần hôn (*) đã lỗi phận làm con
Tám mươi tuổi Mẹ có còn mạnh khỏe
Hay hạc vàng đã cất cánh bay cao
Cứ đêm đêm theo dõi những vì sao
Nhìn Bắc đẩu con tuôn trào nước mắt
Con quỳ xuống chắp hai tay trước ngực:
“Lạy Đức Từ Bi cứu độ Mẫu thân
Cõi Sa bà khi Mẹ đã mãn phần
Cảnh Cực lạc là quê hương An Dưỡng”
Lòng chí thành nguyện cầu trong tâm tưởng
Tháng năm dài con chỉ biết thế thôi
Nghĩa thù ân chua xót lắm Mẹ ôi
Con lạy Mẹ trăm nghìn muôn ức lạy!

(*) Thần hôn: hôn định thần tỉnh, nghĩa là buổi hôm phải hầu cha mẹ cho định giấc ngủ, buổi sáng phải thăm cha mẹ xem có được yên không.

XUÂN NHỚ MẸ

Mỗi lần xuân đến gợi thêm sầu
Con ở phương này Mẹ ở đâu
Nam Bắc đôi bờ dòng nước bạc
Trông vời bóng Mẹ khuất ngàn dâu
Con đi từ độ trăng tròn ấy
Trải mấy xuân rồi xuân viễn phương
Trên vạn nẻo đường con cất bước
Cõi lòng vương nặng mối sầu thương
Mái đầu Mẹ nhuộm mầu sương tuyết
Chồng chất đôi vai lớp tuổi đời
Con muốn thời gian ngừng đọng lại
Cho mùa xuân Mẹ mãi xanh tươi
Thời gian vẫn cứ lạnh lùng trôi
Hoa úa tàn phai trái chín mồi
Chua xót lòng con niềm hiếu đạo
Chân trời xa cách lệ tuôn rơi.

(Giáp Thìn – 1964)

NGUYỆN CẦU

Hỡi trời cao đất dày
Có thấu cho cảnh này
Mẹ tôi tội tình gì
Phải chết trong lưu đày
Trong cô đơn hiu quạnh
Trong buồn tủi đắng cay
Thôi cõi đời ác độc
Mẹ vĩnh biệt từ đây
Con nguyện cầu hồn Mẹ
Vãng sinh về phương Tây
Phật Di Đà tiếp dẫn
Chư Bồ Tát dìu tay
Trong hoa sen tinh khiết
Hồn Mẹ hóa sinh ngay
Vòng luân hồi chấm dứt
Vĩnh viễn được yên vui.

(Đêm 14 tháng 12 Ất Sửu – 23 tháng 1 năm 1985)

MẤT CẢ CUỘC ĐỜI

Xuân này tôi mất Mẹ rồi
Cũng là mất cả cuộc đời còn chi
Từ nay đoạn đường tôi đi
Qua hàng thông lạnh gió vi vu sầu
Một mình lặng lẽ cúi đầu
Quanh tôi tất cả nhuộm màu tóc tang
Bước đi nghĩa địa lan man
Chết rồi hay sống điêu tàn như nhau.

(Sáng mồng 1 Tết Bính Dần – 1985. Ra thắp hương ngoài mộ)

Share this post