Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 10

Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 10

TIÊU SƠN TRÁNG SĨ
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng (trong Tự Lực Văn Đoàn)
*Minh Đức xuất bản – Hà Nội, 1937

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Khái Hưng

HỒI 10
CHÍN VÀ SỐNG

Từ hôm đánh hụt trận Kim Lũ thì hai viên phân phủ, phân suất đem lòng thù oán bọn cựu thần nhà Lê lắm, vì họ chắc rằng cánh quân đến phá ngục cứu Lê hoàng phi chỉ có thể là bầy tôi nhà Lê. Phân phủ bàn với phân suất:

– Việc nầy ta nên giữ bí mật. Quan trên với triều đình đều chưa biết tin ta bắt được Thị Kim. May mà chưa kịp cho chạy giấy về kinh đấy.

Phân suất hậm hực tức tối:

– Tôi thề không đội trời chung với bọn này. Không những chúng nó giết mất viên đội nhất của chúng ta mà chúng nó còn làm cho tôi lặn lội đêm khuya cất quân đi, rồi lại đem quân về, thực là mình làm trò múa rối cho dân vùng Kim Lũ coi.

Phân suất cười khà nói tiếp:

– Rõ đen cho mấy tên lái thuyền vô tội bị chặt đầu.

– Ngài chặt đầu?

– Vâng, Bực mình về nỗi bị lừa nên gặp mấy thằng lái đò đương họp nhau ở dưới thuyền đánh bài phu, tôi cầm dao khoa tay một lượt, bốn, năm cái đầu rơi xuống ván! Như thế cũng hả lòng được đôi chút.

Phân phủ ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Cái bực tức của ngài, ngài cho còn gấp năm gấp mười cái bực tức của phân suất. Đêm hôm ấy còn bao giờ ngài quên được? Trốn vào chuồng ngựa nằm ở máng ăn, lấy rơm phủ chùm kín người, rất là khó thở, lại thêm mùi phân ngựa khai quá đỗi, thế mà ngài phải nằm dí ở đấy cho tới sáng rõ, trong mấy canh dài đằng đẳng lắng tai nghe động tĩnh ra sao. Giữa lúc ấy thì gia quyến ngài đang bị nhốt ở trong buồng chứa, lo sợ im hơi lặng tiếng.

Nhớ lại những sự đau đớn đáng kỷ niệm ấy, phân phủ mỉm cười. Đối với con nhà võ như phân suất thì cái tức giận hiện ra nét mặt, thốt lời chửi rủa thề nguyền. Nhưng đối với con nhà văn thâm nho như phân phủ thì cái tức dẫu dữ dội đến đâu cũng chỉ ngụ trong một khoé mỉm cười chua chát. Chẳng thế ngài lại thường mỉa mai tính võ đoán của phân suất bằng những câu thơ đại ý nói: Trăm quân hùng tráng không mạnh bằng một lời văn mát mẻ của nhà cầm bút.

Lần này lại là một dịp để ngài phô cái sức mạnh của sự giận yên lặng ngấm ngầm cháy trong lòng ngài. Ngài không làm thơ nữa. Ngài chỉ mở tráp lấy ra một cái bảng mà theo sự dò xét cẩn mật của bọn thám tử, ngài đã làm ra. Đó là bảng chứa đủ tên nhừng bực trung thần nhà Lê trốn trong địa hạt Từ Sơn.

Phân phủ gõ xuống cái bảng ấy, bảo phân suất:

– Bấy lâu tôi để bọn họ ăn ngon ngủ yên là cũng tưởng họ hiểu thời thế, không hoạt động nữa. Ai ngờ ngày nay lại chính họ gây sự. Vậy bắt đắc dĩ, ta phải mời những ông tướng ấy đến chơi ít bữa.

Lời ngài thật ngọt như mía lùi. Ngài lại mỉm cười nhìn phân suất nói tiếp, ý chừng để được lòng ông bạn đồng thành:

– Việc đó phải nhờ đến bàn tay sắt của tướng quân.

Tướng quân phổng mũi đáp liền:

– Đại nhân cứ truyền, việc dẫu khó đến đâu tôi cũng xin đảm nhận.

– Vậy chúng ta cùng bàn xem nên bắt những tay nào trước.

Tức thì phân phủ mở rộng cái bảng đẹp đẽ của ngài ra.

– Đây đại nhân coi, tất cả có bảy mươi ba tên. Nhưng xét ra chỉ có bảy tên thực lợi hại. Bảy tên đó là cha con ngự sử Nguyễn Bặc, người chứa chấp Thị Kim. Hai tên này ta hãy để đó vì hiện tại chúng còn trốn tránh, mà trốn thì hẳn trốn ở nơi khác. Nếu ta bẩm tỉnh sức giấy đi lùng thì cũng bắt được, nhưng là thế là làm cỗ sẵn cho kẻ khác ăn. Chi bằng ta cứ để yên, ít lâu thế nào chim chẳng bay về tổ, lúc ấy ta hãy mời nhẹ hai ngài vào cũi.

Phân suất cười lớn:

– Hay! Mưu hay lắm! Còn ai nữa, thưa đại nhân?

– Kế đến Đào Phùng. Tên này tuy còn trẻ, nhưng đáng lo ngại lắm đấy. Nhiều bài thơ hẳn ngâm vịnh có ý nghĩa cuồng bột, phạm thượng. Mà hắn tụ họp anh em rượu chè luôn luôn. Trong một bữa tiệc hắn ngà ngà say có nói một câu hỗn xược mà thám tử đã chép lại đem nộp tôi. Câu ấy đây.

Phân phủ vừa nói vừa đưa phân suất một mảnh giấy. Phân suất vốn không biết chữ, cười gượng nói:

– Đại nhân đọc cho tôi nghe xem nào.

– Xin vâng. Hắn ta nói thế này: Kẻ sĩ cúi cổ khom lưng làm tôi bọn Bùi Đắc Tuyên, Nguyễn Quang Toản thì khác gì bán rẻ linh hồn cho bọn đồ tể.

Phân suất đập mạnh tay xuống ghế ngựa quát tháo:

– Nó bảo thế? Thực nó bảo thế? Được, để nó đấy rồi ta bán rẻ linh hồn nó cho Diêm vương. Nhưng còn ai nữa?

– Còn Hoàng An ở Phù Đổng, Nguyễn Tiết ở Phù Ninh, Nguyễn Đắc ở Đồn Kỷ. Trần Xá ở Phú Xuân. Đó toàn là những tay ghê gớm cả!

– Được, đại nhân cũng nên cẩn thận, vì chúng không phải là những tay tầm thường. Mà biết đâu chúng nó lại không mật thông với đồ đảng Phạm Thái?

Phân suất lớn tiếng cười, toan nói câu gì để tỏ lòng khinh bỉ bọn kia. Bỗng ngài ngừng bặt, hoảng hốt quay ra hỏi:

– Cái gì thế?

Một tên lính mặt tái như gà cắt tiết chạy xồng xộc vào trong phòng đứng thở không ra hơi:

– Bẩm… hai ông lớn… có người… chết ở cổng phủ…

– Người chết? Ai?

Tên lính đứng thở một hồi nừa rồi mới thuật lại rằng một võ sĩ trông rất mạnh mẽ, dữ tợn, phi ngựa qua cổng phủ và ném xuống đó một cái xác người chết.

Phân phủ và phân suất vội vàng theo lính ra cổng. Một người trần truồng nằm sấp ở giữa đường, ngay bên cầu treo. Phân suất cúi xuống lật ngửa cái thây lên thì thấy một con dao sáng loáng cắm trúng chỗ trái tim. Thốt nhiên phân phủ hét lớn:

– Trời ơi! Nguyễn Kha! Nguyễn Kha bị giết rồi!

Phân suất kinh hải vội hỏi:

– Nguyễn Kha là ai vậy?

Phân phủ vẫn đứng yên lặng nhìn tròng trọc vào cặp mắt trắng đã mở to của người chết và nói một mình hai, ba lần:

– Trời ơi! Nguyễn Kha bị giết! Ai giết Nguyễn Kha? Nguyễn Kha! Ai giết?

– Vâng, tôi cũng hỏi đại nhân: Ai giết người này, mà người này là ai?

Phân phủ như chợt tỉnh, quay lại bảo phân suất:

– Ngài cho lính cỡi ngựa đuổi theo lùng bắt ngay lấy nó… Mau chẳng nó trốn thoát.

– Nhưng biết nó chạy ngả nào?

– Cho mỗi người đuổi một ngả.

Phân suất ra lệnh, tức thì hai chục lính kỵ mã chia làm bốn bọn, đem theo bốn cây súng hỏa mai rầm rộ kéo đi.

Phân suất theo phân phủ vào công đường và nhắc lại câu hỏi:

– Nguyễn Kha là ai vậy, thưa đại nhân?

Phân phủ có vẻ lo sợ, nhìn trước nhìn sau, rồi nói khẽ:

– Người đến báo tối hôm ấy, ngài đã quên? Hắn là một viên thám tử rất có tài của tôi.

– À? Tôi nhớ ra rồi. Chính hắn đã đến báo cho ta biết người con gái ở nhà Nguyễn Bặc làng Hà Vị là Thị Kim, vợ Lê Chiêu Thống.

– Chính hắn. Nguyên tôi sai hắn giả danh là một bậc trung thần nhà Lê đi lại chơi bời với bọn kia để dò tin tức. Nhưng không rõ sao bọn kia biết hắn là thám tử của ta.

Nghĩ một lát, phân phủ lại nói:

– Việc này ta phải ra tay mới xong… Phiền ngài đem quân áp đến bắt ngay năm tên đầu sỏ nghi phạm điệu về phủ cho.

Phân suất tuân lời, xem lại bảng kê tên tuổi và chỗ ở của những người kia rồi điểm binh mã ra đi.

Chiều hôm ấy, quân lính khiêng về phủ ba cái cũi đóng sơ sài, trong mổi cái có một người bị trói ngồi lom khom như con khỉ lớn. Phân suất xuống ngựa vào công đường, hớn hở bảo phân phủ:

– Tuy không bắt được đủ năm tên, nhưng trong ba tên này có tên Đào Phùng. Mời ngài ra coi.

Phân phủ vui mừng vừa theo ra sân vừa hỏi:

– Có Đào Phùng? Làm thế nào mà ngài bắt được hắn?

Có tiếng cười the thé trong một cái cũi đưa ra. Phân suất tức giận vì giọng cười chế nhạo, đạp mạnh vào cái cũi làm nó đổ lăn ra. Tiếng cười càng ròn, càng to, rồi người bị nhốt dằn từng tiếng hỏi phân suất:

– Ông bảo ông bắt được tôi. Vậy dám hỏi ông: Ông bắt được tôi ở đâu?

Sau một cái đạp thứ hai của phân suất, người kia khẳng khái nói tiếp:

– Than ôi! Kẻ chiến sĩ anh hùng mong ước được bỏ mạng ở nơi trận địa, da ngựa bọc thây, nhưng tôi đây vô tội mà được người anh hùng bắt trói giữa lúc tôi yên giấc ở nơi buồng tối, tôi đây vô tội mà được anh hùng giơ chân đạp một cái mạnh bạo, trong khi tôi bị nhốt trong cũi hẹp. Đáng kính thay cái dõng cảm của người anh hùng.

Thấy phân suất rút gươm hầm hầm xông lại, phân phủ vội ngăn cản và ung dung nói:

– Ngài cần gì phải nóng thế, cứ để Đào quân đấy cho tôi.

Rồi trỏ hai cái cũi khác hỏi:

– Còn hai ông này?

– Thưa ngài, đó là Nguyễn Tiết với Trần Xá. Còn Hoàng An, Nguyễn Đắc đi đâu mất từ tháng trước.

Phân phủ truyền lệnh tháo cũ lôi ba người ra, rồi lại gần ôn tồn hỏi:

– Thưa ba ngài, nếu ba ngài làm ơn cho tôi biết ba ngài dấu bà hoàng phi ở đâu, thì tôi xin cho lính đem kiệu rước ba ngài về nhà ngay.

Nguyễn Tiết và Trần Xá cùng cãi là oan ức. Phân phủ hỏi tiếp:

– Hai ngài không biết Lê hoàng phi là ai, vậy chắc ngài Đào Phùng thì hẳn biết?

Đào Phùng thản nhiên đáp:

– Tôi ấy à? Có, tôi có biết Lê hoàng phi, khi ngài còn ở trong cung điện kinh thành Thăng Long. Ngài thật là bậc quốc sắc, khuynh thành.

– Vâng, ngài cũng là bậc quốc sắc khuynh thành! Bữa nọ tôi đã được hân hạnh gặp long nhan. Nhưng tôi muốn biết Đào quân giấu ngài ở nơi nào?

Đào Phùng vờ ngơ ngác:

– Giấu ngài? Chết, ai giấu được ngài?

– Đào quân! Nhà tôi có quen Đào tướng công, vì thế tôi không muốn để Đào quân bị hình phạt đau đớn. Vậy Đào quân chẳng nên chối cãi. Việc này tôi biết tường tận lắm rồi.

Đào Phùng mỉm cười:

– Thưa Nguyễn đại nhân, tôi biết tường tận hơn nhiều, vì tôi biết đích xác rằng tôi không giấu hoàng phi.

– Có lẽ Đào quân không giấu thực, nhưng Đào quân biết nơi ẩn núp của Lê Hoàng phi.

Rồi nhìn thẳng vào mặt Đào Phùng, phân phủ đột ngột hỏi:

– Phạm Thái vẫn được mạnh đấy chứ?

Đào Phùng chau mày hỏi lại:

– Phạm Thái? Tôi tưởng Phạm Thái bị giết với Nguyễn Đoàn rồi?

Phân phủ cáu tiết gắt:

– Chú đừng trách tôi ác nhé? Vì bổn phận, tôi không thể không trừng phạt chú được.

Liền ra lệnh đánh mỗi người hai chục trượng. Một tên lính lực lưỡng giơ roi song ráng sức quật vào mông, vào lưng phạm nhân, khiến Nguyễn Tiết, người chịu hình phạt thứ nhất, kêu la ầm ỹ, và Trần Xá một nhà văn yếu đuối, mới đến roi thứ mười lăm đã chết ngất đi rồi.

Đến lượt Đào Phùng, chàng chỉ cười và cắn chặt hàm răng trên xuống môi dưới, không thốt một tiếng kêu ca, đến nỗi chú lính cáu tiết, đánh thêm cho ba roi rất mạnh. Đào Phùng giơ hai tay bị trói lên lau mồ hôi, bảo tên kia:

– Chú rõ quá cẩn thận! Quan truyền đánh có hai mươi roi, chú lại ra thêm cho ba roi nữa.

Phân suất căm tức trừng mắt nhìn, còn phân phủ thì có ý khen thầm. Trong khi ấy Trần Xá được một tên lính lấy nước phun vào mặt, đã tỉnh dây, lim dim cặp mắt và nằm thở hổn hển. Phân suất hỏi:

– Trần Xá! Ngươi đã chịu cung khai chưa?

– Bẩm đại nhân… Đoái thương tôi già yếu. Tôi không biết một tí gì… thì cung khai… làm sao được?

Nghe lời nói có vẻ thành thực, phân phủ xuống lệnh hãy giam Trần Xá vào ngục, rồi quay ra bảo Nguyễn Tiết:

– Còn ông này thì nghĩ sao?

Nguyễn Tiết lại gần nói thầm mấy câu. Phân phủ vui mừng cởi trói và mời vào trong nhà. Đào Phùng vội kêu:

– Hắn sợ đòn nên khai láo, ngài chớ nghe.

Phân phủ tức giận thét:

– Im ngay!

Rồi sai lính đi lấy một cái hỏa lò than hồng và hai cái kìm. Một lát sau thịt đùi Đào Phùng cháy xèo xèo, xông lên mùi giẻ khét. Đào Phùng bảo phân phủ:

– Xin ngài miễn cho cái hình phạt này.

Phân phủ hớn hở:

– Vậy ông chịu cung khai?

Đào Phùng nói luôn:

– Vì khó ngửi lắm. Tôi đến lợm nôn vì mùi thịt cháy mất thôi.

– Bản chức bằng lòng chuẩn lời xin của Đào quân.

Liền quay ra gọi:

– Lính đâu, dùng kìm và nước lạnh.

Tiếng dạ ran… Họ lại bắt đầu kẹp đùi bên kia của Đào Phùng. Hẳn kìm sống đau hơm kìm chín nhiều, vì kẻ bị hình phạt nghiến hai hàm răng vào nhau, tiếng kêu ken két, và tuy chàng cố cười gượng, nước mắt chảy ràn rụa ướt đẫm hai bên má.

Phân phủ bỡn cợt hỏi:

– Thế nào, bây giờ thì đỡ khét chứ?

Đào Phùng muốn trả lời một câu chua chát, nhưng vì phần đau quá, phần hai hàm răng nghiến mạnh như sai khớp, chàng nói không ra tiếng nữa. Đưa hai tay bị trói lên, nắn lại hàm dưới, rồi khi đã hơi hoàn hồn, chàng ôn tồn bảo phân phủ:

– Thưa ngài, tôi còn biết phân trần sao cho ngài tin được, vì ngài yên trí rằng tôi là đồ đảng của Phạm Thái mà tôi không biết mặt, lại buộc cho tôi cái tội tàng nặc Lê hoàng phi mà tôi tưởng đã chết. Nay đối với ngài tôi như con cá đối với người hỏa đầu, sống chết ở tay ngài. Vậy ngài muốn dùng cách hình phạt nào mà kẻ vô tội này chẳng phải chịu.

– Đào quân nói có lý lắm… Lính đâu, hãy mời Đào quân vào nghỉ tạm trong ngục thất mấy bữa cho lại sức đã, rồi ta sẽ nói chuyện sau.

(Hết Hồi 10)

Share this post