Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 14

Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 14

TIÊU SƠN TRÁNG SĨ
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng (trong Tự Lực Văn Đoàn)
*Minh Đức xuất bản – Hà Nội, 1937

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Khái Hưng

HỒI 14
CÁI TRỐNG LỚN

Quang Ngọc quay ra nhìn rồi vui cười nói:

– Trời ơi, xuýt nữa tôi quên bẵng thân vương.

Người vừa bắt bẻ Phạm Thái là Trịnh Đán, con thứ Trịnh Bồng. Sau khi Trịnh Bồng rời bỏ chùa Long Tiên núi Chúc Sơn để về tranh nhau ngôi chúa với Trịnh Lệ, các chi nhánh họ Trịnh trốn tránh trong hạt Chương Đức, Đán mới qua sông Nhị Hà lánh sang trấn Kinh Bắc đến tu ở một ngôi chùa nhỏ tại làng Phú Cẩm. Sau nhờ có Phạm Thái giới thiệu. Trịnh Đán xin nhập đảng Tiêu Sơn.

– Xin thân vương cho biết tôn ý.

Trịnh Đán hắng dặng hai ba lần rồi nói:

– Nay không còn phải lúc bàn về lịch sử, việc gì đã qua là đã qua, mà việc gì…

Lê Báo vốn không ưa họ Trịnh, riễu cợt nói tiếp:

– Mà việc gì chưa đến là chưa đến.

Quang Ngọc quắc mắt, mắng:

– Lê hiền đệ coi thường lệnh của ta thực. Đây không phải là nơi để cho ai nói đùa hết.

Rồi ý chừng muốn tránh sự phá ngang của Lê Báo, Quang Ngọc bắt chàng ra ngay sân chùa để ăn năn tội lỗi… Nhìn thanh bảo kiếm rung rung ở tay ông đảng trưởng oai nghiêm, Lê Báo không dám trái lệnh, cúi đầu, thong thả đứng dậy đi ra.

– Xin thân vương tha thứ cho cái tính lỗ mãng của xá đệ.

Trịnh Đán mỉm cười:

– Những bực anh hùng ái quốc thường có tính nóng nẩy như vậy. Có hề gì điều ấy, quí hồ ai ai cũng một lòng yêu nước là được rồi. Tôi nói thế là vì tôi nhớ tới những trang lịch sử của ta: Không có lòng yêu nước thương dân mà chỉ nghĩ đến quyền lợi của một mình mình, của một đảng mình, thời dẫu có lên làm vua chúa nữa cũng chẳng ra gì, huống chi nhiều khi còn phạm thêm cái tội rước voi về giầy mồ…

Ngừng một lát đưa mắt nhìn hai hàng tráng sĩ Trịnh Đán nói tiếp:

– Đấy anh em ngẫm mà xem. Họ Hồ thấy nhà Trần hèn yếu liền cướp ngôi. Nếu nhà Trần biết mình không đủ sức trị dân nữa mà chịu đi, thì có xong không. Lại không thế. Lại đi rước quân Minh về. Khốn nạn! Chỉ trông cậy vào người để chiếm đoạt giang san, chẳng coi dân nước ra gì, để đến nỗi trong mười năm, trăm họ bị giầy xéo. Khác giống thì ai người ta thương hại mình kia chứ!

…Gần đây, vì việc lập chúa, quận Huy bị giết. Giá vua chúa cùng quần thần biết tìm mưu kế mà trừ bọn kiêu binh quá hống hách kia đi, thì rồi cũng êm. Khốn nỗi họ lại chia ra đảng phái, họ chỉ nghĩ đến thù riêng của họ. Rồi tên Chỉnh nham hiểm, phản nghịch kia vào Nam rước ngay được anh em Tây Sơn ra để định trả thù cho thầy mình là quận Huy. Họ trả thù vì mình hay vì họ đấy? Họ chặt đầu mình, rõ đáng kiếp, họ cướp lấy nước mình, đuổi vua chúa mình đi.

Đán hắng dặng rồi lại nói:

– Vậy anh em ta trông đó làm gương, chỉ nên tin ở sức mình là hơn. Nếu mình chưa đủ sức thì hãy đợi. Mà liệu không bao giờ đủ sức thì thôi đi đừng kháng cự người ta nữa. Chứ đi rước kẻ thù nọ về đánh kẻ thù kia thì kẻ nào mạnh hơn nó chiếm lấy nước, mà vua chúa mình vẫn hoàn không có chỗ nương thân. Không những thế, dân gian lại còn bị lầm than nữa là khác. Tôi nói tóm: Ta chỉ nên trông cậy vào sức ta, chứ đừng tưởng mong nhờ ai hết. Tôi đã nói mấy lời thô thiển, xin minh chủ cùng anh em lượng xét.

Phạm Thái đứng dậy quay về phía Quang Ngọc:

– Xin đảng trưởng cho phép ngu đệ đáp thân vương một câu: Thưa thân vương, lời bàn của thân vương rất đích đáng. Nhưng ta có mong nhờ hẳn vào ai đâu. Ta chỉ lợi dụng sự cạnh tranh của hai bên mà thôi.

Sau khi đã bàn bạc cùng nhau đủ các lẽ, sau khi anh em đã xin đảng trưởng cho phép Lê Báo lại vào dự nghị, thì kế hoạch của đảng Tiêu Sơn định đoạt như thế này:

Một là cử những nhà sư có tài biện luận giả danh đi khuyên giáo khắp các trấn để truyền bá chủ nghĩa phò Lê và quyên tiền, rủ người vào đảng.

Hai là chọn một thuyết khách cho vào Gia Đinh hội nghị với Nguyễn Vương, hứa sẽ chờ dịp tốt tiếp ứng khởi binh để cùng phá Tây Sơn mà tôn phò nhà Lê.

Ba là hợp nhất với đảng “Lê thần nghĩa dũng”, đảng trưởng đảng ấy là Đào Phùng hình như hiện đương trốn tránh và bị tróc nã.

Quang Ngọc vừa bàn được ba điều, bỗng ngừng bặt, vì ngoài sân chùa có tiếng ngựa hí và tiếng người ồn ào:

– Biến rồi!

Lê Báo rút kiếm đứng dậy:

– Để tôi ra xem…

Phạm Thái cũng lạnh lùng đứng dậy đi theo rồi ghé mắt nhòm qua khe cửa.

Bỗng chàng phì cười:

– Tưởng gì, chứ một anh ky binh vào kia thì để một mình tôi ra cũng đủ rồi.

– Nhưng cứ nên phòng bị cẩn thận thì hơn, biết đâu nó không có phục binh.

Giữa lúc ấy, người khách lạ đi lại gần, yên lặng dụi tắt bó đuốc cầm ở tay (vì trời tối đã lâu) rồi gọi cửa:

– A Di Đà Phật! Ngu muội đến dự lễ.

Phạm Thái vui mừng mở mạnh cánh cửa ra nói:

– Trời ơi! Hiền tỷ đến trễ quá!

– Nhị Nương xin chịu tội. Nhưng có việc khẩn bách, nguy kịch lắm.

Mọi người đều nhớn nhác hỏi:

– Việc gì thế? Việc gì mà dữ dội thế?

– Hoàng phi.

– Trời ơi! Sao? Lê hoàng phi sao?

– Bị bắt?

– Bị giết?

– Bây giờ đâu?

Nhị Nương để cho ai nấy hỏi xong, rồi thong thả nói:

– Cũng chưa rõ rồi ra sao. Chỉ biết trong lúc bí, ngu muội dấu hoàng phi vào…

Nhị Nương đưa mắt nhìn mọi người, như sợ trong đám có lẫn một vài thám tử của bên địch. Quang Ngọc vội đỡ lời:

– Hiền muội cứ nói, không lo ngại. Anh em trong đảng Tiêu Sơn chúng ta toàn là bậc anh hùng hảo hán cả.

– Vậy ngu muội giấu hoàng phi ở trong đền Phú Mẫn.

– Đền thờ ông Nghè phải không?

– Vâng.

Phạm Thái bỗng phá lên cười nói:

– Khá đấy! Tôi biết hiền tỷ giấu hoàng phi ở đâu rồi.

Ai nấy đua nhau hỏi:

– Ở đâu?

– Ở đâu?

Nhị Nương cũng hỏi:

– Vâng, ở đâu?

Phạm Thái vẫn cười:

– Trời ơi! Chị tôi giỏi quá… Ở trong cái trống chứ gì?

Tuy vậy vẫn chưa ai hiểu. Quang Ngọc liền bảo Nhị Nương thuật lại đầu đuôi, thì câu chuyện như thế này:

Mấy hôm trước có một người thiếu nữ ở phố Từ Sơn đến chùa Ngô Xá xin làm tiểu. Người ấy trông vẻ mặt sáng sủa nhanh nhẹn và ăn nói lại dịu dàng, nên sư trưởng yêu mến ngay. Hỏi sao đi tu, thì người ấy nói giận nhà ép gả vào nơi không xứng đáng, nên đành đến ăn mày cửa Phật để quên hết nỗi trần duyên.

Sư trưởng thương tình cho ở chùa, nhưng chưa nhận cho quy y. Vả theo nhà chùa thì có khi sau mấy tháng, người xin tu hành mới được dự lễ thế phát. Sư trưởng còn xem tính nết tín nữ có thực thành tâm mộ đạo và có chịu nổi những sự khổ hạnh không đã.

Theo lệ thường, cách dăm hôm Nhị Nương lại quẩy gánh nồi đất xuống chủa Ngô Xá thăm Lê hoàng phi mà sư trưởng đặt cho cái đạo hiệu là Phổ Bác thiền ni.

Vừa đến sân nhà chùa, nàng đã để ý ngay đến người thiếu nữ. Sống cái đời giang hồ kiếm hiệp, lúc nào cũng như bị vây bọc ở giữa đám gian nguy, lừa dối, Nhị Nương không thể không ngờ vực cử chỉ nhu mì và ngôn ngữ đo đắn của người mới đến xin tu.

Nàng liền tìm cách làm quen với thiếu nữ, hỏi dò liên miên chuyện nhà cửa, rồi mời mua cho vài cái nồi. Đoạn nàng gánh hàng ra ngay không vào thăm hoàng phi nữa, vì như có tâm linh báo trước cho nàng biết sắp xảy ra chuyện chẳng lành.

Nàng còn lang thang ở bờ ruộng thì đã thấy thiếu nữ ở chùa ra đi. Đến gần, nàng vui cười chào hỏi:

– Sao cô lại về?

Người kia ấp úng đáp:

– Tôi xin phép sư trưởng về qua nhà… có tý việc cần…

Nhị Nương càng ngờ:

– Cô ở tận đâu?

– Tôi ở đàng kia.

Thiếu nữ vơ vẩn trỏ tay về phía trước mặt rồi hỏi:

– Còn cô, cô đi đâu?

– Ấy, tôi cũng đi lang thang, bán rong… Thế mà lắm hôm may mắn gặp khách mua đông đáo để. Với lại tôi muốn cùng đi với cô cho vui.

Đến Từ Sơn, hai người chia tay nhau, Nhị Nương chỉ kịp vội vàng quăng gánh nồi đất vào hàng Ngỗng, rồi lại chạy đi theo dò người thiếu nữ bí mật kia…

Thì thấy người ấy đi ngay vào phủ.

Thế là không do dự nữa, Nhị Nương quay về hàng Ngỗng, cải nam trang, nhảy phắt lên mình ngựa – con ngựa của một công tử thường ở trọ trong hàng, mà công tử ấy cố nhiên là Nhị Nương.

Phóng nước đại một mạch về tới chùa Linh Quang làng Ngô Xá, Nhị Nương cuống quýt hỏi:

– Hoàng phi đâu? Hoàng phi đâu?

Sư trưởng hỏi lại:

– Phổ Bác thiền ni ấy ư?

– Chứ còn ai nữa! Mau mau, nguy đến nơi rồi!

Vừa nói, nàng vừa chạy thẳng vào buồng hoàng phi, xốc bà đặt lên mình ngựa ra roi. Đến chợ Phú Mẫn, quay đầu trông lại thì ở gần lối rẽ vào làng Ngô Xá, cát bụi bay mù mịt. Nàng lền xuống ngựa dẫn hoàng phi vào ẩn trong đền ông Nghè bên cạnh chợ.

Phạm Thái nghe Nhị Nương thuật đến đấy, ngắt lời:

– Vậy hiền tỷ giấu hoàng phi vào trong lòng trống rồi chứ?

– Vâng, tôi chợt nhớ một lần trước mặt tôi, hiền đệ đã mở cái cửa nách ở tang trống để chui vào trong giấu những giấy má quan trọng.

Song Văn kinh ngạc hỏi:

– Giấu được người vào trong lòng trống, thì hẳn cái trống ấy to lắm.

Quang Ngọc đáp:

– Phải, to lắm. Hoàng quân không nghe nói đến cái trống thờ ông Nghè bao giờ?

– Thưa không.

– Cái trống ấy, trực kính bề mặt đo được đến hơn ba thước mà bề cao đến một ngũ rưỡi, nguyên là của hoàng đế ban để thờ ông Nghè không biết từ đời nào, vì chữ khắc ở tang trống lâu năm đã mòn, nhẵn thín, mà người làng Phú Mẫn sơn lại có tới bốn, năm lần rồi… Nhưng hãy nói đến việc cứu bà hoàng phi đã. Phạm Thái!

– Dạ.

– Việc này phải hiền đệ đi mới xong.

Lê Báo đứng lên nói:

– Thưa đảng trưởng, ngu đệ xin đi cho, cứ để Phạm đại huynh ở lại mà bàn việc lớn.

Quang Ngọc biết tính Lê Báo hay nóng nẩy liền phỉnh một câu:

– Kể Lê hiền đệ hay Phạm hiền đệ đi thì cũng thế thôi. Nhưng Phổ Chiêu đã thông thuộc miền ấy thì vẫn hơn. Vậy anh em hãy nghe: Chúng ta nên thêm điều này vào ba điều ban nãy.

Nhị Nương hỏi:

– Ba điều gì thế?

– Hiền muội đến trễ nên không biết. Nhưng không sao. Hãy bàn đến việc cần kíp hơn đã. Ba điều kia rồi sẽ thuật cho Nhị Nương nghe sau. Bây giờ Nhị Nương cùng Phạm Thái hãy đến ngay Phú Mẫn cứu Lê hoàng phi. Còn điều thứ tư ta nói, đó là: Cứu được hoàng phi thoát nạn, Phạm Thái phải đưa ngay ngài lên Lạng Sơn. Ở đó bọn trung thần nhà Lê rất đông, mà lại gần biên giới, có sao trốn sang Tầu cũng dễ. Chứ ở vùng này, họ nhẵn mặt ngài rồi, thực khó lòng mà trốn tránh ẩn núp được lâu, thế nào cũng đến bị bắt mất thôi.

Phạm Thái cúi đầu lĩnh mệnh rồi yên lặng cùng Nhị Nương ra đi. Chư tăng cũng giải tán, ai về chùa nấy, để sắp sửa theo đuổi công việc truyền bá chủ nghĩa phò Lê.

(Hết Hồi 14)

Share this post