Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 20

Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 20

TIÊU SƠN TRÁNG SĨ
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng (trong Tự Lực Văn Đoàn)
*Minh Đức xuất bản – Hà Nội, 1937

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Khái Hưng

HỒI 20
VUA CHIÊU THỐNG

Năm hôm sau, bốn người đến Lạng Sơn và theo Phạm Thái đi thẳng đến Kỳ Lừa thăm sư cụ chùa Tam Thanh. Sư cụ đạo hiệu Phổ Mịch thiền sư là bạn đồng chí của Phạm Thái và là một đảng viên trong đảng Tiêu Sơn.

Hàn huyên dăm câu rồi hai người hỏi nhau đến việc đảng. Vô tình không biết có Hoàng phi đứng trước mặt, Phổ Mịch buột miệng nói:

– Về vùng trấn Bắc như thế cũng có thể hy vọng lắm. Còn ở đây, từ khi cái tin Hoàng đế thăng hà đưa về nước, các bậc sĩ phu xem chừng đều có ý chán nản…

Thiền sư bỗng ngừng bặt vì thấy Phổ Chiêu ra hiệu bảo im ngay. Nhưng đã quá chậm rồi. Hoàng phi nấc lên một tiếng rồi ngã vật xuống đất. Nhị Nương vội nâng dậy đật lên giường và gọi mãi mới tỉnh. Thấy bà khóc thảm thiết và luôn miệng kêu “Bệ hạ”, Phạm Thái lại gần khẽ nói:

– Tâu lệnh bà nên bình tĩnh.

– Ta cần gì. Ta cố sống đến ngày nay là chỉ vì hy vọng mai sau được gặp mặt Hoàng thượng. Nhưng nay Hoàng thượng thăng hà rồi, thì ta chỉ còn một thác mà thôi.

Phạm Thái nói:

– Tâu lệnh bà, lệnh bà dạy thế sao được! Vì nào chỉ có một mình Thánh thượng? Còn Thái hậu, vâng còn Quốc mẫu, sau này ai người phụng dưỡng ngài? Và xin lệnh bà tha tội cho, Hoàng thượng mất tuy là một sự đau đớn, vì Hoàng thượng mất còn tìm được người trong hoàng tộc kế vị, chứ giang sơn mất vào tay người khác, mới là mất hẳn. Vậy xin lệnh bà tĩnh tâm cho, đừng làm náo động lòng thần dân. Nhất lại ở chốn biên thành này, binh lính cùng thám tử của ngụy triều đông như kiến cỏ, nay lệnh bà khóc lóc ầm ỹ, nhỡ đến tai bọn họ, thì không những một mình lệnh bà bị khổ nhục, mà đảng trung thần phục quốc cũng đều vì lệnh bà mà phải ly tán mất. Xin lệnh bà nghĩ kỹ mà lượng xét cho.

Hoàng phi lau nước mắt ôn tồn đáp lại:

– Đạ tạ thiền sư, không có lời dạy bảo của thiền sư thì suýt nữa tôi đã làm lỡ cả việc lớn.

Bà liền cố gượng khuây nói chuyện với Phổ Mịch thiền sư, cốt để hỏi về mọi sự đã xảy ra ở bên Tàu. Phổ Mịch sợ hãi khép nép:

– Tâu lệnh bà, vì lệnh bà cải trang, bần tăng không biết, đã xúc phạm tới lệnh bà.

– Điều ấy không hề gì. Vả từ nay tôi thực đã trở nên một người tu hành, một nhà chân tu. Vậy xin sư cụ cứ gọi tôi là Phổ Bác cho tiện.

Dùng thiền trà xong, Hoàng phi cố nài Phổ Mịch thuật lại cho biết tình cảnh bọn bầy tôi tòng vong ở nước người sau khi Hoàng thượng thăng hà. Phổ Mịch nói:

– Điều ấy, bần tăng không được tường. Nghe đâu vua Càn Long đày mỗi người ở một nơi…

Hoàng phi thương hại phàn nàn:

– Trời ơi! Sao lại còn bị đày nữa! Tội tình gì mà bị đày như thế?

– Họ bị đày ngay khi còn sinh thời Tiên đế, vì vua Càn Long không muốn bọn họ được gần đấng Tiên đế, sợ họ thúc giục Tiên đế xin quân đem về nước lo sự phục hưng.

Hoàng phi thốt ra một câu mắng nhiếc:

– Quân khốn nạn!… Vậy thế thì ta không còn mong gì nhà Thanh giúp binh nữa đấy.

Phạm Thái đáp:

– Tâu lệnh bà, ta cũng chẳng nên mong cậy gì ở họ. Trước kia họ cho Tôn Sĩ Nghị mang quân sang ta, tuy miệng nói là cứu giúp, nhưng kỳ thực chỉ cốt chiếm cứ nước Nam mà thôi. Nhà Minh xưa giúp nhà Trần, cái gương xâm lược ấy ta đã quên rồi sao? Chỉ nên trông vào sức mình là hơn cả…

Phổ Mịch tiếp lời:

– Tâu lệnh bà, Phổ Chiêu thiền sư nói rất phải. Họ chẳng nhân nghĩa gì đâu. Cứ xem cách tàn nhẫn họ xử với một ông vua mất nước với đám bầy tôi tòng vong cũng đủ rõ tâm địa họ không ra gì. Ai đời thủa một ông vua láng giềng gặp bước loạn ly lánh sang nhờ vả mình, mà coi người ta không bằng một viên thượng thư! Bần tăng nghe Trần Thiện nói Càn Long hắn phong cho Tiên đế chức tả lĩnh, ban cho áo mũ quan tam phẩm. Cái tin ấy làm bần tăng thâm ruột tím gan. Vua mình nó còn khinh thường như thế không trách các quan đi hộ giá, nó đày mỗi người một nơi… Việc này chỉ tại thằng đô thống Kim Giản xui nên cả. Tâu lệnh bà, chẳng ai ngu như bọn Lê Quýnh, Phạm Như Hùng, Hoàng Ích Hiểu không biết cư xử cho phải đường. Thấy nó lãnh đạm với mình thì mình phải hiểu chứ, ai lại để Thánh thượng đi lại cầu cạnh mãi rồi ra quỳ bên đường dâng biểu lên vua Thanh xin binh, nhất lại nhờ tên Kim Giản đưa vào hầu. Thầy trò chúng nó đã bàn định cùng nhau rồi. Chúng nó sợ bọn Tây Sơn như sợ cọp, còn dám ho he gì nữa mà mong ngóng chúng nó cứu giúp? Vua Thanh có cho thằng Kim Giản ra dỗ ngon dỗ ngọt, đánh lừa tam tứ phen, nào là chỉ cho đất Khâm Châu, nào là sắp phong làm quốc vương ở đất Tuyên Quang. Chỉ thương hại Nguyễn Văn Quyên vì lòng trung quân mà bị bọn chó má nó ném đá chết ở trong vườn Viên Minh.

Hoàng phi rơm rớm nước mắt hỏi lại:

– Chắc cao tăng biết nhiều về mọi việc ở bên nước láng giềng. Vậy dám xin cao tăng làm ơn thuật lại cho nghe.

– Tâu lệnh bà, bần tăng quả mắt không trông thấy, nhưng tai được nghe Trần Thiện kể lại. Câu truyện đau lòng lắm, thiết tưởng lệnh bà chẳng nên biết làm gì thêm khó chịu. Chẳng qua nhà Lê ta đến vận suy, nên tình cảnh vua tôi sinh ra như thế…

Hoàng phi cố giữ nét mặt thản nhiên:

– Xin cao tăng cứ cho biết.

Nhị nương cũng nói:

– Việc đã xảy ra thì có can hệ gì. Đối với người đeo đuổi việc lớn, chỉ có việc hiện tại với tương lai là đáng kể. Vậy xin cao tăng cứ thuật lại hầu lệnh bà nghe rõ đầu đuôi.

Phổ Mịch ngồi ngẫm nghĩ một lát, như để sưu tầm mọi điều trong trí nhớ, rồi kể rằng:

– Hồi cuối năm ngoái, một hôm bần tăng đi tới cửa động Tam Thanh, bỗng gặp một người hành khất, quần áo rách rưới, dường như đứng chờ ai. Người ấy vái chào bần tăng, thì thầm xưng tên là Trần Thiện. Bần tăng giật mình, vì hôm tiễn thánh giá vượt biên giới sang Tàu, chính mắt bần tăng trông thấy trong bầy tôi có ông Trần Thiện. Ngày nay ông ta về nước, chắc có sự biến cố chi đây. Bần tăng liền thắp đuốc mời Trần quân vào chơi trong động nói chuyện. Thì ra Trần quân trá hình làm kẻ hành khất, trèo non, vượt suối về nước chỉ để báo tin cho thần dân biết rằng Hoàng thượng đã thăng hà, và đã lập Duy Khang kế nghiệp.

Hoàng Phi ngơ ngác hỏi:

– Duy Khang là ai vậy?

– Tâu lệnh bà, là Lê Duy Vượng, con nuôi của đấng Tiên đế.

Hoàng phi có vẻ lo sợ:

– Thế Hoàng tử?

– Hoàng tử…

Phổ Mịch ngần ngại đưa mắt nhìn Phạm Thái, Nhị Nương, trù trừ đáp:

– Tâu lệnh bà, Hoàng tử lên đậu đã qua đời.

Nhị Nương kinh hãi nhìn Hoàng phi, chắc thế ngào nghe tin thái tử mất, bà cũng chết ngất đi. Nhưng không, bà vẫn giữ thản nhiên. Có lẽ sự thống khổ đã đến cực điểm làm cho bà nghẹn ngào không khóc được lên tiếng. Hay lòng căm tức vua tôi nước Tàu lấn át cả sự thống khổ? Cặp mắt mơ mộng xa xăm, bà ngây người, nhắc đi nhắc lại:

– Lên đậu!… Hoàng tử lên đậu! Lên đậu! Mất rồi!

– Tâu lệnh bà, có lẽ phần bực tức bị người Tàu khinh mạn, phần buồn phiền vì hoàng tử qua đời. Nên Hoàng thượng mắc bệnh nặng ngay, rồi qua năm sau, năm Quí Sửu, Ngài thăng hà.

Cặp mắt Hoàng phi vẫn mơ mộng xa xăm:

– Ngài thăng hà! Ngài thăng hà!

– Vâng, Ngài thăng hà đã được hơn bốn năm nay.

Hoàng phi rùng mình như có cơn gió lạnh thổi qua tâm hồn. Nhưng bà cố định thần mà hỏi rằng:

– Trần quân có thuật cho cao tăng nghe cái giờ lâm chung của bệ hạ không?

– Tâu lệnh bà, Trần quân thuật rất tường tận.

“Hôm ấy, Thánh thượng biết rằng sắp qua đời, liền gọi bảo Như Tùng Lê Duy Vượng đi nấu nước thơm để Ngài tắm. Khi đã lau mình mẩy sạch sẽ, Ngài truyền lấy triều phục mặc vào cho Ngài, rồi Ngài nằm thẳng trên giường, quay mặt về phía Nam, miệng lẩm bẩm khấn khứa rất lâu. Hai người tôi – Trần Thiện với Như Tùng – quỳ ở một bên giường, trong lòng lo sợ, đau đớn…”

Nhị Nương hỏi:

– Bạch cụ, còn ai nữa không, hay chỉ có hai người ấy?

– Chỉ có hai người ấy. Những người khác đã bị đày cả đi các nơi. Hoàng Ích Hiểu bị đày ra Y Lệ, Lê Hân ra Phụng Thiên, Quốc Đống ra Cát Lâm, Việt Triệu, Văn Chương ra Nhiệt Hà.

Hoàng phi thở dài nguyền rủa:

– Cha đời quân Mãn Thanh! Thế rồi sao nữa, bạch cụ?

– Tâu lệnh bà, Thánh thượng vẫn tỉnh lắm. Ngài bảo Trần Thiện lấy giấy bút thảo tờ di chiếu, lập Duy Khang, tức Như Tùng Lê Duy Vượng lên kế nghiệp, giữ hương hỏa hoàng phả, phụng thờ đức Hoàng Thái hậu. Đọc xong, Thánh thượng cười chua chát nói tiếp: “Hương hỏa của trẫm chắc cũng chẳng còn mấy?”

Trong phòng yên lặng, lạnh lẽo. Hai người tôi vẫn quỳ bên giường. Bỗng Thánh thượng nắm lấy tay Trần Thiện mà rằng:

“Các người theo trẫm trên con đường khốn quẫn, cùng trẫm nằm gai, nếm mật, mong có ngày lấy lại giang san… Ngờ đâu trẫm gặp phải vận nước, vận nhà chẳng ra gì, đến nỗi không giữ nổi được xã tắc, phiêu bạt quê người… Nay trẫm chết là linh hồn trẫm được yên… Trẫm thương các ngươi không biết còn đeo cái khổ, cái nhục đến đời thủa nào”.

Trần Thiện khóc mà tâu rằng:

“Muôn tâu Thánh thượng, vua tôi có ngờ đâu gặp phải bọn quyền gian đánh lừa như thế này, để đến nỗi Thánh thượng âu sầu căm tức làm long thể mang đau. Hạ thần xin thề rằng, nếu Bệ hạ có mệnh hệ nào, thì kẻ hạ thần xin tận tâm báo được thù này…”

Hoàng thượng cười và an ủi:

“Thôi, không nên trách người ta làm gì, chỉ nên trách mình mà thôi. Vả ngày nay, vận mệnh nhà Lê ta đã hết, các ngươi dẫu có chống chọi đi nữa có lẽ cũng không ăn thua gì. Ta chỉ ước mong có một điều sau này các người được về nước. Bấy giờ các ngươi mang hài cốt ta về, phụ táng vào sơn lăng liệt thánh, để tỏ bụng ta; các ngươi nên nhớ kỹ điều ấy, cùng là truyền báo cho các quan ở xa được biết”.

Trần Thiện, Như Tùng khóc nức nở vâng mệnh.

Thánh thượng nằm nghỉ một lát, rồi lại nói:

“Khi trẫm bị quân Tây Sơn đuổi, kịp bỏ chạy sang đây, đến cửa Nam Quan thì thấy lạc mất Hoàng phi. Trong mấy năm nay trẫm hằng lo lắng chẳng biết Hoàng phi trốn tránh nơi đâu, hay đã bị quân giặc hại mất rồi. Nếu sau này về nước, các ngươi còn có gặp Hoàng phi, thì xin vì trẫm trông coi cho tử tế. Trẫm nhờ Trần Thiện trao cho Hoàng phi cái nhẫn này, Hoàng phi đeo ở tay chắc lại nhớ đến trẫm, mà biết rằng ở nơi đất khách quê người trẫm không bao giờ quên kẻ chung tình”.

Phổ Mịch ngừng kể, xin phép đứng dậy mở hòm lấy ra cái nhẫn vàng trổ lưỡng long chầu nguyệt đưa nộp Hoàng phi:

– Tâu lệnh bà, cái nhẫn này, Trần Thiện sợ thất lạc nên đã gửi bần tăng giữ giúp, nay bần tăng xin dâng lên lệnh bà.

Hoàng phi ứa nước mắt đỡ lấy vật kỷ niệm của người xưa, đeo vào ngón tay mà lẩm bẩm:

– Bệ hạ! Bệ hạ!

Nhị Nương ghé vào tai Hoàng phi nói thầm:

– Tâu lệnh bà, cái nhẫn ấy, xin lệnh bà gói lại cất đi, đeo vào tay như thế, sợ có nguy hiểm.

Hoàng phi khóc nức nở:

– Từ nay ta còn sợ gì nguy hiểm tới thân ta nữa. Ta sống đến nay chỉ mong mỏi có ngày được gặp long nhan, nhưng nay… ta chỉ còn lấy cái thác đền lại ơn tri ngộ của Hoàng thượng.

– Thiết tưởng lệnh bà càng nên giữ gìn quý thể để mai sau, khi rước hài cốt Hoàng thượng về nước, còn được nhìn thấy, cùng là trông nom việc mai táng trong sơn lăng liệt thánh.

Hoàng phi vụt tỉnh ngộ:

– Em nói rất phải. Chị đợi đến ngày ấy hãy xuống cửu tuyền hầu Thánh hoàng cũng không muộn.

Rồi quay lại hỏi Phổ Mịch:

– Hoàng thượng thăng hà vào năm nào, ngày nào, giờ nào, bạch cao tăng?

– Tâu lệnh bà, bần tăng đã biên chép cẩn thận. Thánh thượng thăng hà giữa giờ Dần, ngày mười sáu, tháng mười, năm Quý Sửu. Ngài thọ hai mươi tám tuổi.

Hoàng phi lấy bút chép lại ngày tháng vào một mảnh giấy, gập lại bỏ vào bọc và phàn nàn:

– Chẳng biết mấy năm nay, có ai nhớ ngày húy ky Hoàng thượng mà cúng giỗ không?

Phổ Mịch đáp:

– Tâu lệnh bà, thế nào ở bên Bắc Quốc, Duy Khang chẳng đèn nhang thờ phụng Tiên đế. Còn như ở bản sơn môn đây, thì năm năm vẫn nhớ ngày húy, lập đàn cầu nguyện lên vong linh Tiên đế.

– Đa tạ cao tăng, cao tăng đừng quên Hoàng tử nhé!

– Xin vâng… Nhưng bây giờ thì rước lệnh bà xơi lưng cơm chay cho đỡ đói.

Liền bảo các chú tiểu sắp cơm, trong khi Hoàng phi và Nhị Nương ngồi sụt sịt thì thầm nói chuyện.

(Hết Hồi 20)

Share this post