Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 38

Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 38

TIÊU SƠN TRÁNG SĨ
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng (trong Tự Lực Văn Đoàn)
*Minh Đức xuất bản – Hà Nội, 1937

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Khái Hưng

HỒI 38
QUÁN BẠCH PHƯỢNG

Đã mấy hôm nay trong khắp các phố Bắc thành bày ra một cảnh rất náo nhiệt.

Vì kỳ thi tuyển Cống Sinh sắp sửa bắt đầu nên hàng nghìn sĩ tử Bắc Hà vác lều chiếu từ các trấn xa gần kéo nhau về, lăm le tên chiếm bảng vàng rồng mây gặp hội.

Ở các cửa ô, từng bọn thí sinh áo lương khăn nhiễu, đầu đội nón sơn, chân dận dép da trâu, xúm xít đọc tờ chiếu chỉ dán trên thành tường. Tờ chiếu ấy viết bằng chữ Nôm như sau này:

Sự kén chọn nhân tài rất có quan hệ đến sự thịnh hưng của một nước.

Từ khi Trẫm lên nối ngôi trời trị dân, không một lúc nào Trẫm sao nhãng điều ấy. Trẫm mong mỏi tìm bậc hiền sĩ giúp nước như người làm ruộng mong mỏi trời mưa giữa thời hạn hán.

Vì thế theo gương Tiên đế, nay Trẫm mở kỳ thi Cống Sĩ để các sĩ tử trong nước có dịp cùng nhau thi thố tài năng.

Trẫm lại nghĩ, một nơi đế đô không đủ chỗ cho sĩ tử khắp nước đến hội họp. Vả những kẻ ngoài Bắc hà phải lặn lội vào Kinh đô, e đường xá xa xôi, nhất là đối với những người nghèo khó, phải lo kiếm tiền lộ phí để đi thi.

Bởi những lẽ trên, Trẫm đặt kỳ thi Cống Sĩ ở ba nơi, một là Kinh đô, một là Quy Nhơn, một là Bắc thành. Như thế người hạt nào đươc thi ở hạt nấy, thực là giản tiện. Rồi kẻ nào đậu Cống Sĩ sang năm vào Kinh đô dự kỳ thi Bác Sĩ.

Ở trường thi Bắc thành, việc kén chọn nhân tài, Trẫm giao cho Đại Tư Đồ Nguyễn Văn Danh cùng với Thị Trung Ngự Sử Ngô Thì Nhậm đươc tùy nghi.

Khâm thử. Niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ sáu“.

Bên cạnh tờ chiếu chỉ lại có một tờ yết thị cũng bằng chữ Nôm của hội đồng chấm thi như dưới:

Thừa lệnh Hoàng đế, quan chánh chủ khảo yết thị cho các thi sinh biết rằng:

Có ba kỳ thi:

Kỳ đệ nhất: một bài giải nghĩa cùng bàn luận một câu tục ngữ hay ca dao viết bằng chữ Nôm.

Kỳ đệ nhị: một bài luận Nam sử cũng bằng chữ Nôm.

Kỳ đệ tam: một bài thơ chữ Nôm, hoặc chữ Hán, một bài phú chữ Nôm hoặc chữ Hán.

Đúng giờ Dần, các thí sinh đã phải có mặt ở trường thi, ai nấy phải mang theo lều chiếu cùng là bút mực giấy vở.

Kẻ nào gian trá sẽ bị tội nặng.

Nay yết thị.

Quan chánh chủ khảo: Ngô Thị Trung Ngự Sử đại thần“.

Ở cửa ô Ưu Nghĩa, khi đọc xong tờ chiếu chỉ và tờ yết thị, một bọn học trò đủ các tuổi, từ mười tám đến ngoài năm mươi, đưa mắt nhìn nhau tỏ vẻ hoặc kinh ngạc, hoặc chế riễu. Một người đã đứng tuổi nói:

– Năm xưa, đức Tiến đế mở khoa thi. Tôi phải lặn lội vào tận Phú Xuân, thế mà tôi còn bỏ không thi, nữa là năm nay ở ngay Bắc thành.

Một thầy khóa đùa bỡn hỏi:

– Sao vậy?

– Tôi học đạo thánh hiền, dầy công đèn sách, nấu sử sôi kinh, lại thèm làm những bài nôm na mách qué hay sao?

Dút lời, ông đồ vứt giấy bút xuống đất, giận dữ quay đi thẳng, khiến mọi người phá lên cười.

Rồi họ xôn xao bàn tán. Kẻ phàn nàn chưa học Nam sử, kẻ lo ngại quên mặt chữ Nôm. Lại có kẻ hỏi:

– Không biết làm phú Nôm thì làm sao?

Một người đáp:

– Khó gì! lại hàng sách mua lấy một quyển phú Nôm, văn sách Nôm của cụ Lê Quý Đôn mà xem. Nhân tiện học lại chữ Nôm một thể.

Một người nữa mỉa mai:

– Thi với cử! Chán ngắt! Văn Nôm thì là phải nặng mùi, tờ yết thị dán ở cửa ô Ưu Nghĩa, phố hàng Mắm, thực là đắc nghi.

Một thí sinh có tuổi vừa nhìn trước nhìn sau, vừa bảo người kia:

– Liệu giữ mồm miệng!

Rồi, từng tốp kéo đi các ngả.

Một bọn năm người rủ nhau ra chơi đền Ngọc Sơn. Nhưng vừa qua cầu Sầm Công và rẽ sang phố hàng Bạc, các thầy khóa gặp một thiếu nữ gương mặt sáng sủa đứng ở hè phố dương mắt nhìn và mủm mỉm cười tình. Một người trong bọn bảo anh em:

– Nghe nói con gái Bắc thành ghê gớm lắm kia đấy! Chớ có trêu vào. Nên lảng xa ra là thượng sách.

Nhưng người thiếu nữ nào có để cho các thầy lảng xa! Nàng tiến đến gần hỏi:

– Thưa các thầy, em coi như các thầy đương đi tìm nhà trọ?

– Có thế. Chừng cô là chủ hàng cơm?

– Thưa các thầy không. Em người Kinh Bắc, nhân gặp kỳ thi, về đây bán hàng trầu nước.

Một thí sinh trẻ tuổi đã bạo, phá lên cười ha hả:

– Chừng để kén chồng, để tuyển phu?

– Thưa không ạ, em chỉ bán hàng để kiếm ăn. Em nghèo lắm, thuê một gian xép ở tửu quán kia. Chủ tửu quán bảo hễ em đón được năm người khách trọ thì họ cho em ở nhờ không lấy tiền thuê. Vì thế em gặp năm thầy em mừng quá. Vậy xin năm thầy thương em nghèo mà đến đấy ở trọ giùm.

– Đấy là đâu?

– Thưa năm thầy, quán Bạch Phượng ở phố Cầu Gỗ.

Năm người đưa mắt nhìn nhau. Rồi người trẻ tuổi nói:

– Được, cô cứ về trước đi. Lát nữa chúng tôi đến.

– Tiện đường, em xin đưa các thầy về một thể.

– Nhưng lều, chiếu, tráp, nải, chúng tôi gửi cả đàng kia.

– Các thầy không ngại, để ở đâu rồi em xin đến lấy sau.

Chẳng đừng được, năm thầy khóa phải theo cô kia rẽ sang phố hàng Đào rồi đến phố Cầu Gỗ.

Tửu quán Bạch Phượng dựng ngay cạnh cái lạch nhỏ thông liền hồ Hoàn Kiếm với cái hồ nhỏ hàng Bạc. Trên lạch có cái cầu gỗ bắt ngang (vì thế mà người ta đặt tên là Cầu Gỗ). Đó là một nếp nhà gạch khá rộng, có gác, tuy gác ấy thấp và không có cửa sổ trông ra phía đường, chỉ giống như cái mái chồng của một kiểu nhà hai mái, dốc sây thành bậc.

Tửu quán ấy nguyên trước là nhà một người buôn lợn, khá giàu. Một hôm vợ lẽ chủ nhân đứng cửa ngắm phố. Bỗng hai viên vệ binh qua đó thấy nàng có chút nhan sắc, bèn thả lời trêu ghẹo. Cô vợ lẽ vốn người quê trấn Hải Dương mới theo chồng đến ở Bắc thành, nên chưa rõ oai các ông vệ binh xứ Nghệ. Nàng giở hết giọng chua ngoa tục bẩn ra đáp lại lời ngọt ngào của hai thầy vệ. Người chồng nghe tiếng ầm ĩ ở cửa chạy ra, thấy hai ông lính thì giật mình kinh hãi, nhưng đã quá muộn rồi. Chiều hôm ấy, gần một trăm vệ binh kéo đến nhà người buôn lợn phá phách, bắt hết lợn làm thịt. May mà vợ chồng con cái chủ nhà biết trước đã đi trốn tránh. Rồi sau họ dọn luôn đi ở nơi khác.

Nhưng nào bọn vệ binh đã thôi đâu. Chiều chiều họ còn kéo nhau đi lượn qua cái nhà bỏ hoang để thị uy. Kẻ cười khoái chí, kẻ thét bô bô:

– Đã biết tay chúng ông chưa?

Một người khác lại tiếp:

– Phải biết! Ai bảo trêu vào lính nhà vua! Trêu vào lính quan tổng trấn!

Hôm đầu cũng có người láng giềng thương tình ra xin các thầy vệ cho gia đình bác buôn lợn. Nhưng người khéo hứng việc ấy bị một quả đấm nên thân. Từ đó không ai dám hé môi nói nữa lời, mặc cho nếp nhà kia bị khóa trái không người ở. Vì ai dại mà đến thuê một cái nhà nguy hiểm như thế, nhất là khắp phố Cầu Gỗ đều đã nghe rõ lời dọa nạt của các ông mãnh, lính hầu quan tổng trấn:

“Đứa nào có giỏi cứ đến đây mà ở!”

Hai tháng ròng, nhà người buôn lợn vẫn đóng cửa im ỉm.

Bỗng một hôm có người khách lạ đến thuê. Hai bên hàng phố khúc khích cười khi nghe người ấy hỏi thăm xem chủ nhà ở đâu. Họ thi nhau thuật lại những truyện chẳng lành đã xảy ra, rồi khuyên người kia chớ nên trêu vào lính quan trấn thủ. Nhưng người khách lạ không tỏ vẻ mặt cảm động mảy may, hỏi đi hỏi lại chỗ ở của chủ nhà để đến thuê, và nói nếu chủ nhà bán rẻ thì mua đứt.

Thấy vậy một người láng giềng nguyên có họ với bác buôn lợn mừng rỡ, đứng ra nhận bán cho người khác lạ lấy nghìn quan tiền, rồi làm văn tự liền lấy chữ ký của chủ nhà.

Người khách chừng là một tay đại phú, vì trả ngay một lúc năm mươi nén bạc, mà cũng chẳng cần phải có hộ trưởng ký nhận cùng áp triện.

Ngay mấy hôm sau nhà người buôn lợn đã trở nên một hàng cơm, ngoài cửa treo một giải cờ dài nhuộm đỏ có viết bốn chữ lớn “Bạch Phượng tửu quán”.

Từ hôm khánh thành tửu quán, suốt phố người nào cũng ngó tới cái nhà ghê gớm kia, mà bọn lính quan tổng trấn đã ra lệnh không cho ai được phép ở. Ngó tới để xem cuộc xung đột dữ dội đến bậc nào.

Quả nhiên cách đó vài ngày, năm người vệ binh đi qua phố Cầu gỗ. Thấy cái nhà bị cấm đã nghiễm nhiên trở nên một tửu quán, họ thì thầm bảo nhau:

– Thằng cha nào mà già gan thế?

– Ta thử vào xem sao.

Năm cậu vệ vừa bước chân qua ngưỡng cửa thì chủ quán ở trong nhà đã bước vội ra chắp tay lễ phép chào, rồi vồn vã hỏi:

– Thưa các thầy, có phải các thầy là vệ binh trong dinh quan tổng trấn không?

Một ngưòi lính xừng xộ đáp:

– Phải, anh muốn nói vệ binh của quan tổng trấn điều gì?

Chủ quán lại vái dài một cái nữa, rồi mừng rỡ cuống quít:

– Ồ, thế thì may cho chúng tôi quá, chúng tôi đương sắp sửa vào trong dinh mời các thầy ra chứng kiến cho bữa tiệc khánh thành tửu quán, thì các thầy lại quá bộ đến thăm. Thực là hân hạnh cho chúng tôi quá. Chúng tôi chẳng nói giấu gì các thầy, trước kia chúng tôi là vệ binh trong hai năm ở dinh quan trấn thủ Lạng Sơn. Chỗ đồng nghiệp…

Rồi trong khi mấy người lính còn ngơ ngác nhìn nhau chưa biết xử trí ra sao, thì chủ quán đã cất tiếng gọi:

– Em Hai!

Có tiếng dạ trong trẻo, rồi một người con gái rất xinh xắn, nhanh nhẹn, y phục gọn ghẽ, từ nhà trong chạy vội ra.

– Thưa anh, anh bảo gì em?

Mấy cậu vệ trố mắt nhìn, tấm tắc khen thầm.

– Có các thầy cai ở trong dinh quan tổng trấn ra chơi, vậy em sắp rượu mời các thầy xơi.

Dứt lời, chủ quán chạy xuống bếp bảo làm thức nhắm, để một mình cô em gái đứng tiếp chuyện với các cậu vệ. Giữ thể diện với một cô thiếu nữ cực kỳ xinh đẹp, các cậu cảm tạ và nhất định từ chối không nhận lời dự tiệc một cách quá đường đột.

Nhưng các cậu làm thân ngay với chủ quán, người đã được diễm phúc có một cô em gái rất dễ thương. Và chẳng bao lâu, hết thẩy bọn vệ binh trong dinh quan tổng trấn, từ đội, cai cho đến lính, không còn ai thèm nhớ đến câu chuyện phá phách và thù oán nữa.

Thế là Bạch Phượng tửu quán bắt đầu vào thời kỳ thịnh đạt ngay. Nay gặp kỳ thi Cống Sĩ, khách trọ đến càng đông, đông như trong động Hương Tích gặp ngày chảy hội vậy.

(Hết Hồi 38)

Share this post