Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 4

Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 4

TIÊU SƠN TRÁNG SĨ
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng (trong Tự Lực Văn Đoàn)
*Minh Đức xuất bản – Hà Nội, 1937

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Khái Hưng

HỒI 4
TIÊU SƠN KẾT NGHĨA

Đã lâu nay cửa tam quan chùa Tiêu Sơn rào kín hẳn hàng ba, bốn lần tre, hóp và chông chà.

Khách thập phương phải đi qua một con đường vòng chạy theo chu vi trái đồi, rồi rẽ ngoặt ra phía bên. Ở đó có một cái cổng nhỏ hẹp nhưng xây rất kiên cố. Qua lần cổng, một hàng bậc gạch cao và giốc đưa đến nhà trai. Như thế, đứng trên ngồi đồi hay trong lầu Tiêu Lĩnh nhìn xuống có thể biết ai sắp đến chùa, nhất là có một cái lạch nước rất sâu ngăn chận đồi ra với con đường vòng. Cái lạch ấy, sư Phổ Tĩnh cho đào để lấy đất đắp tường dài bao bọc quanh đồi. Và cũng nhờ việc to tát ấy mà nhà sư đã được dân làng nức nở ca tụng công đức. Họ cho nhà sư đắp tường đào hào như thế không những chỉ có một mục đích giữ chùa, mà còn có mục đích che chở cho dân quanh vùng trong khi nhiễu loạn, vì hạt ấy, họ sợ hãi bọn Nguyễn Đoàn, Phạm Thái lắm, tuy chỉ sợ bóng sợ gió.

Ý chừng Phổ Tĩnh thiền sư cũng biết vậy, nên ngay ở cửa tam quan, có dán một tờ yết thị nói cửa Từ Bi không hẹp, ai sợ quân cường đạo cướp bóc cứ vào chùa nương náu ít ngày, nhà chùa sẳn sàng lòng dung nạp.

Kỳ thực chỉ có đồ đảng của Phổ Tĩnh là hay lui tới cửa chùa và tờ yết thị kia không có mục đích gì khác là để che mắt quan quân. Chẳng thế có khi trong chùa tụ họp đến hàng trăm người mà viên Phân phủ Từ Sơn vẫn không lưu ý tới, cho rằng đó toàn là những bọn quê mùa yếu hèn, nhút nhát đến ẩn núp. Không những thế, viên Phân phủ còn nhân tờ chiếu của vua Quang Trung bắt bỏ chùa nhỏ trong các làng để dựng một ngôi chùa lớn ở mỗi phủ, mỗi huyện, mà đệ tờ bẩm lên quan trấn thủ xin lấy chùa Tiêu Sơn làm chùa chính thức được trụ trì, ở chùa ấy. Tuy việc tư xin bị đình bãi, vì từ khi vua Quang Trung thăng hà, vua Quang Toàn và thái sư Bùi Đắc Tuyên không còn lưu gì đến công việc cải cách thiền học nữa, nhưng lòng tín nhiệm của quan quân hạt Kinh Bắc đối với Phổ Tĩnh thiền sư, nhờ việc đó mà ngày một thêm vững chặt.

Lòng tín nhiệm hầu hoàn toàn ấy đã giúp đồ đảng bí mật của Quang Ngọc hoành hành dễ dàng ở vùng Kinh Bắc, vì những viên kiện tướng của chàng đều là các sư ông, sư bác, mà tay quan trọng nhất là Phạm Thái tức sư ông Phổ Chiêu chùa Linh Đài, làng Nghiêm Xá.

Chiều hôm trước nhân sư bác chùa Bình Bảng đến báo có một bà Hoàng Phi bị bắt giải về giam ở phủ Từ Sơn, Quang Ngoc liền hốt hoảng chít vội cái khăn vuông xuống tận mắt và khoác vội vào mình cái mền nâu cũ, cho người ta không nhận được, rồi ra đi.

Nguyên chàng vẫn biết rằng từ khi thành Thăng Long mới vỡ, người em thứ ba vua Lê là Lan Quận công Duy Chí đem bà Hoàng Phi họ Nguyễn chạy lên Tuyên Quang rồi chiêu dụ những người thổ hào cùng nhau lo toan việc hưng phục. Nhưng Duy Chí mới chống chọi với quân Tây Sơn được vài tháng ở Bắc Lạng thì bị bắt bỏ cũi giải về Phú Xuân đầu hàng cùng với hết thảy các tướng tá. Hoàng Phi liền rời Tuyên quang trở về hạt Kinh Bắc ẩn núp ở trong các nhà bình dân. Quân Tây Sơn thường đi lùng bắt mà không được, vì người Kinh Bắc vẫn còn mến tiếc nhà Lê, không ai chịu tố cáo nơi Hoàng Phi trú ẩn.

Khi đã dò biết đích xác rằng Hoàng Phi bị bắt, Quang Ngọc vào hàng cơm nhà Ngỗng ở phố phủ, định sai chủ quán, một đảng viên của đảng Tiêu Sơn, đưa ngay tin đến Nghiêm Xá cho Phạm Thái. Chẳng ngờ gặp giữa lúc Lê Báo đang uống rượu và nói nhiều câu khảng khái. Chàng liền dốn ngồi lại để xem ông khách trẻ tuổi kia là người thế nào, nhất là chàng lại như như bị cái sức vóc vạm vỡ và nét mặt tươi như hoa của kẻ kia lưu luyến…

Việc cần kíp thứ nhứt của Quang Ngọc khi đã đưa Lê Báo về tới chùa là viết thư sai người tức tốc đến Kinh Bắc giao Nhị Nương đem về Nghiêm Xá cho Phạm Thái. Chàng biết tất có binh mã đuổi theo con đường Từ Sơn – Kim Lũ, nên chàng không cho người mang thư đi lối ấy. Chàng lại biết đàn bà, con gái ít khi bị ngờ vực, khám xét, nên việc thông tin tức chàng thường giao cho bọn họ.

Vào khoảng cuối giờ Tỵ, Phạm Thái tới chùa Tiêu Sơn. Quang Ngọc đã đứng chờ ở chân đồi. Hai người lớn tiếng chào nhau: “A di đà Phật!”

– Lê Báo đâu?

Quang Ngọc cũng khe khẽ đáp lại:

– Trong chùa.

– Có việc gì quan hệ nữa không?

– Có, chốc nói chuyện.

Lên đến đầu bực thang gạch, nghe có tiếng mõ lớn thưa thớt rời rạc. Phạm Thái mỉm cười, theo Quang Ngọc qua cái cửa nách bước vào chùa trên. Một nhà sư đầu mới cạo nhẵn thín, khoác áo cà sa ngồi ở cái bục gỗ trước bàn thờ, miệng lẩm nhẩm đọc kinh, tay uể oải gõ mõ. Hình như nhà sư chú hết tinh thần vào sự tụng niệm, nên không biết có hai người vừa vào, tuy họ cất tiếng đã cất tiếng chào: “A di đà Phật!”

Thấy người kia không nhúc nhích, Quang Ngọc đưa mắt liếc Phạm Thái, mỉm cười rồi lại gần bàn thờ gọi:

– Lê Báo?

Lê Báo vờ không nghe rõ, vẫn ngồi đọc kinh, mắt chăm chăm để vào quyển sách lớn mở đặt trên giá. Quang Ngọc cáu tiết, đến sau lưng ghé vào tai nói:

– Mới tu được một buổi mà đã mộ đạo thế ư?

Bấy giờ Lê Báo mới rời quyển kinh, ngước mắt nhìn lên, nhoẻn miệng cười:

– Không, đệ có đọc kinh đâu, đệ ngâm thơ đó chứ!

Cả ba người cùng cười ồ. Bỗng một chú tiểu ở ngoài đi vào để thắp hương. Các nhà sư lại im bặt, nét mặt người nào người ấy đều có vẻ thành kính, nhu mì, kín đáo. Phổ Tĩnh vờ hỏi Lê Báo:

– Sư cụ bên ấy vẫn được mạnh đấy chứ?

Lê Báo hấp tấp đáp lại:

– Thưa ngài….

Phổ Chiêu vẻ mặt nghiêm trang vội đỡ lời:

– Bạch sư ông, cụ Phổ Mịch nhờ ơn Phật tổ vẫn được như thường.

Phổ Tĩnh mỉm cười rồi quay ra bảo chú tiểu, ý chừng mới tu ở chùa này:

– Gọi chú Mộc!

Một lát sau, bước vào một người to lớn, gân cốt nở nang, cặp mắt tròn xoe, da dẻ hồng hào.

Phổ Tĩnh hất hàm hỏi:

– Nó mới đến, chú đã biết tâm địa ra sao mà dám cho lên chùa trông nom việc đèn nhang?

– Bạch sư ông, nó ở trong bọn thủ túc chân thành của đệ tử. Đệ tử xin cam đoan chịu hết trách nhiệm.

Phổ Tĩnh hơi gắt:

– Đành vậy, nhưng cứ phòng bị trước thì vẫn hơn. Tiệc đã sửa soạn xong chưa?

– Bạch sư ông, đã.

– Có nhiều rượu ngon đấy chứ?

– Bạch sư ông, đủ cả. Đệ tử đã cho xong đâu đấy ở trên lầu Tiêu Lĩnh.

– Được, ta không cần đến chú nữa.

Chú tiểu lễ phép cúi đầu chào, đi ra. Phổ Tĩnh đóng cửa cẩn thận mà nói rằng:

– Thôi, bây giờ chúng ta không còn lo sợ điều gì, cứ việc bình tĩnh mà đánh chén, vì muốn lên Tiêu Lĩnh tất phải qua chùa, mà cửa chùa thì đóng khóa kiên cố lắm.

Thấy Phạm Thái thì thầm nói chuyện với Lê Báo, Quang Ngọc quay lại hỏi hai người:

– Chỗ quen biết cả đấy. Mà dù chưa quen biết thì rồi cũng phải quen biết. Anh hùng trong thiên hạ phỏng được bao người, sao không cùng nhau làm việc đại nghĩa.

Phạm Thái đáp:

– Ngu đệ vẫn được nghe đại danh của quan Thiên thư Khu mật viện sứ. Nay được gặp ngài, thực lấy làm hân hạnh.

Quang Ngọc thẳng thắn cười lớn:

– Ngài! Cái tiếng xưng hô ấy không được ổn, bỏ nó đi.

Lê Báo cũng nói:

– Phải, chỗ anh em sao lại gọi thế?

Quang Ngọc bàn:

– Muốn chính kỳ danh, trước hết phải chính kỳ vị. Ngày xưa anh em Lưu, Quan, Trương kết nghĩa tại vườn đào, rồi lập nên cơ nghiệp kinh thiên động địa. Vậy ngày nay, sao chúng ta không theo gương ấy mà cũng kết nghĩa làm anh em?

Lê Báo vỗ tay, thét vang như tiếng lệnh:

– Ồ! Phải đấy! Hay! Hay! Ý đại huynh hay lắm!

Phạm Thái mỉm cười:

– Trong ba anh em mình chẳng biết có ai giống Lưu Huyền Đức, Quan Vân Trường không, nhưng giống Trương Dực Đức thì Lê hiền hữu là giống như đúc.

– Vậy đệ xin làm em út chứ sao?

Quang Ngọc hỏi:

– Hiền hữu niên canh bao nhiêu?

– Mười chín tuổi.

– Thế thì hiền hữa là em út hẳn đi rồi, vì Phạm quân hơn hiền hữu một tuổi.

Phạm Thái khiêm tốn:

– Nhưng Lê hiền hữu giòng dõi tôn thất nhà Lê, ngu đệ xin nhường làm anh.

Phổ Tĩnh vội gạt:

– Không được, chỉ có một điều đáng kể: Ai hơn tuổi là anh.

– Hiền huynh đã dạy như thế, thì hai em hẳn phải vâng theo. Vậy bây giờ chúng ta phải thề ra sao?

Lê Báo hỏi:

– Ở chùa này cũng có thờ Quan Công đấy chứ?

Quang Ngọc cười:

– Chùa nào lại chẳng thờ đức Thánh Quan.

– Thế thì hay lắm. Chúng ta cứ đến trước bàn thờ ông ấy mà thề.

– Phải đấy, phải đấy!

Ba người liền cùng nhau lại bàn thờ Quan Công. Lê Báo bảo hai bạn:

– Trông Quan Vân Trường lẫm liệt oai phong lắm nhỉ! Có lẽ vẻ lẫm liệt oai phong ấy là nhờ ở bộ mặt đỏ, mà muốn có một bộ mặt đỏ tất phải uống nhiều rượu. Vậy trước khi phát thệ, sao ta không đem rượu lên dâng ngài rồi cùng nhau uống thực say đã?

Quang Ngọc cười:

– Vì say rượu hiền hữu suýt bị thiệt mạng ở tửu quán, thế mà vẫn không chừa?

Lê Báo lấy làm xấu hổ với Phạm Thái, nói chữa thẹn:

– Hiền huynh bảo ngu đệ say à? Ngu đệ uống gấp năm, gấp mười thế cũng chẳng thấm vào đâu. Chẳng qua giữa lúc bất ngờ bị chúng nó đẩy cái bàn vào người, nên ngu đệ ngã đó mà thôi.

Phạm Thái vốn thích rượu mà uống bao nhiêu cũng không say, liền đỡ lời bạn:

– Lê hiền hữu nói rất đúng. Lễ phát thệ long trọng này không có rượu sao được?

Dứt lời, Quang Ngọc đi thẳng lên lầu Tiêu Lĩnh. Ở lại trước bàn thờ Quan Công, Phạm Thái sẽ bảo Lê Báo:

– Nghe nói tửu lượng hiền hữu khá lắm?

– Vâng, cũng khá. Hôm nay xin uống thi.

– Thi cái gì chứ thi uống rượu thì không bao giờ ngu đệ dám nhận lời.

– Sao vậy?

– Vì kẻ tu hành phải giới tửu.

– Thế thì buồn lắm nhỉ?

Quang Ngọc bê xuống một bình rượu lớn và hỏi hai người:

– Ngần này đã đủ chưa?

Lê Báo đáp:

– Cũng tiềm tiệm. Nhưng rượu có ngon không đấy? Chứ rượu của thằng cha chủ quán, ngu đệ uống hôm qua không thể nuốt được.

Phạm Thái cười:

– Ấy là không thể nuốt được mà còn như thế, nếu rượu ngon thì không biết hiền hữu say tới đâu?

Quang Ngọc cũng cười:

– Hai chú không ngại. Rượu đây tôi thửa mãi tận ở Thủ Khôi chính hiệu Hoàng Cúc. Nhưng ta làm lễ đã rồi hãy hay.

Quang Ngọc nói:

– Bây giờ mỗi người thề một câu. Tôi hơn tuổi được hai hiền đệ tôn làm anh, xin thề trước.

Chàng liền quỳ trước bàn thờ Quan Công và dõng dạc khấn rằng:

– Ngày xưa Quan Thánh đế có kết nghĩa với Lưu Huyền Đức, Trương Dực Đức tại vườn đào, thề cùng chết để cùng nhau phò nhà Hán, cứu giúp muôn dân. Ngày nay ở nước Việt Nam chúng tôi trăm họ loạn lạc, bị lầm than chẳng kém đời Hậu Hán, hai anh em lũ giặc Tây Sơn đem quân đi ăn cướp phá đánh đuổi vua chúng tôi phải chạy trốn sang bên quý quốc, giết cha chúng tôi, giết họ hàng chúng tôi, vậy trước bàn thờ ngài, ba chúng tôi là Trần Quang Ngọc, hai mươi nhăm tuổi, Phạm Thái hai mươi tuổi, Lê Báo mười chín tuổi, xin theo gương ngài cùng họ Lưu, họ Trương, kết nghĩa anh em, trước là để phò nhà Lê, sau nữa là để rửa thù cho cha chúng tôi. Tôi thề rằng tôi coi Phạm Thái, Lê Báo như hai anh em ruột, cũng hai người sống chết có nhau. Nếu tôi ở không đúng lời thề xin chết như thế nầy.

Dứt lời chàng bẻ nén hương ra làm hai đoạn mà vứt xuống đất. Phạm Thái thề cũng như Quang Ngọc. Đến lượt Lê Báo. Chàng rót thêm vào chén rượu thờ, rồi tự rót cho mình một chén đầy giốc một hơi cạn. Đoạn chàng bảo hai người:

– Hai hiền huynh thề như thế không được, nghe ngu đệ đây này.

Tức thì chàng vào quì trước bàn thờ và lớn tiếng khấn:

– Tôi đây lê Báo tuy mới mười chín tuổi đầu nhưng trong ba năm nay tôi đã đi chu du khắp nước, vì vậy tôi biết dân tình rất khổ sở. Tôi nhớ sách Mạnh Tử có câu: “dân vì quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Thế mà họ coi nước như tư sản của họ, không tưởng gì đến dân, đến xã tắc nữa. Vì vậy ba chúng tôi là Trần Quang Ngọc, Phạm Thái, Lê Báo cùng nhau kết anh em để ra tay tôn phò một vị nhân quân biết coi dân làm trọng. Tôi thề rằng (vừa nói vừa rót rượu vào chén) tôi xin giữ trọn đạo làm em út dốc lòng tuân theo mệnh lệnh của đảng trưởng là ông anh cả Trần Quang Ngọc của tôi, nếu tôi trái lời thề ấy thì nguồn ngày xanh của tôi cũng cạn như chén rượu này.

Cùng với câu thề, chén rượu cùng hết. Quang Ngọc và Phạm Thái đưa mắt nhìn nhau mỉm cười. Rồi Quang Ngọc rót ba chén rượu đầy mà nói rằng:

– Xin uống cạn chén rượu để chúc cho tình huynh đệ chúng ta ngày thêm bền chặt với non sông Nam Việt.

Uống xong Phạm Thái khen:

– Rượu của hiền huynh ngon lắm.

Lê Báo nghĩ thầm: “Đã giới tửu mà còn biết rượu ngon?”

Quang Ngọc mời hai bạn lên lầu Tiêu Lĩnh dự tiệc. Lê Báo sợ bỏ quên mất bình rượu, vội vàng bê theo.

(Hết Hồi 4)

Share this post