Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 5

Tiêu Sơn Tráng Sĩ (Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng) Hồi 5

TIÊU SƠN TRÁNG SĨ
* Tiểu Thuyết Tiền Chiến – Khái Hưng (trong Tự Lực Văn Đoàn)
*Minh Đức xuất bản – Hà Nội, 1937

* Để đọc những phần đã đăng, xin vào khung Search this site (Tìm Kiếm) và gõ tên tác giả: Khái Hưng

HỒI 5
TRÊN LẦU TIÊU LĨNH

Vừa ngồi yên chỗ, Phạm Thái hỏi Quang Ngọc:

– Có việc gì quan trọng thế? Hiền huynh?

– Việc nào đi việc ấy. Bây giờ hãy chén đã.

Lê Báo cười hỏi rỡn Phạm Thái:

– Sư ông giới tửu chứ?

Phạm Thái làm thinh, miệng lâm râm cầu nguyện, khiến Quang Ngọc cáu kỉnh gắt:

– Thôi, xin thầy tu hãy tạm cất cái lòng mộ đạo của thầy đi cho chúng tôi nhờ.

Phạm Thái ung dung đáp:

– Ngu đệ đọc bài kinh sám hối để cầu nguyện Phật tổ xá cho anh em mình cái tội sắp ăn thịt lợn.

Lê Báo cười:

– Chúng mình có sát sinh đâu mà sợ, còn như ăn thì ai không ăn. Không ăn, sống sao được!

Quang Ngọc khen:

– Chú ba nói phải lắm. Vả Phật tổ khi xưa cũng ăn thịt kia mà. Trong kinh có chép rằng vì ăn thịt lợn rừng của một chú tiều phu kính dâng mà Phật tổ hóa ở giữa đường.

Lê Báo reo mừng:

– Ồ! thế thì hay lắm nhỉ! Hôm nay không có thịt lợn rừng, anh em chúng ta ăn thịt lợn nhà vậy. Cũng là một cách kỷ niệm ngày Phật tổ hóa chứ sao.

Quang Ngọc cất tiếng cười vang. Còn Phạm Thái thì chàng có vẻ mặt buồn rầu, nghĩ ngợi, tâm trí như để cả đâu đâu. Song tuy chàng làm ra không tưởng tới ăn uống, mà chàng ăn rất khỏe, uống rất nhiều, có phần gấp rưỡi hai người kia. Khi ai nấy rượu ngà ngà say. Lê Báo thấy chàng vẫn ngồi ngây như người mất linh hồn, liền bảo Quang Ngọc:

– Phạm hiền huynh sao hôm nay nhạt nhẽo thế? Hay vì có em đây, nên không được vui?

Quang Ngọc đáp:

– Phạm hiền đệ vẫn thế đấy, càng say càng lỳ. Chẳng thế đã không nổi danh là Chiêu Lỳ?

Lê Báo cười hỏi:

– Chiêu là Phổ Chiêu hay là cậu Chiêu đấy?

Phạm Thái gật gù đáp:

– Cả hai.

Rồi chàng khoan thai ứng khẩu đọc:

Có ai muốn biết tuổi tên gì?
Vừa chẵn hai mươi, gọi chú Lỳ.
Năm, bẩy bài thơ ngâm lếu láo,
Một vài câu kệ tụng a ê.
Tranh vờn sơn thủy màu nhem nhuốc.
Bầu giốc kiền khôn giọng bét be.
Miễn được ngày nào ngang dọc đã.
Sống thì nuôi lấy chết chôn đi.

Lê Báo khen lấy khen để. Quang Ngọc thì chau mày tỏ vẻ không bằng lòng mà cự rằng:

– Hay thì có hay, nhưng ý chưa được rồi rào lại kém khí phách anh hùng.

– Vậy xin đại huynh phủ chính cho. Hay hơn nữa xin hiền huynh, hiền đệ mỗi người họa lại một bài cho bữa tiệc này thêm vui.

Lê Báo nhanh nhẩu đáp:

– Ồ! Phải đấy!

Quang Ngọc mỉm cười:

– Vậy xin nhường chú ba họa lại. Còn Ngọc này thì đành thú thực rằng văn thơ rất kém, địch sao nổi tài Chiêu Lỳ.

– Hiền huynh nhún nhường quá!

Nhưng Lê Báo đã cầm thìa gõ vào miệng bát, đọc luôn:

Anh Phạm làm như chẳng biết gì,
Hỏi anh, anh cứ giả ù lì.
Trông thì có vẻ nhà nhân đạo,
Kỳ thực ra tuồng loại xú ê.
Thơ thánh ngâm nga không thiếu vận,
Rượu thần nốc cạn kể hàng be,
Đương trai sao đã lo khi chết
Còn tám mươi năm hãy sống đi.

Quang Ngọc cười ngất, nhưng Phạm Thái lặng lẽ rót đầy chén rượu mà nói rằng:

– Ba chữ “loại xú ê” thì phải phạt đủ tam bôi.

Lê Báo chữa thẹn:

– Phạt gì chớ phạt rượu thì ngu đệ không lo lắm. Nhưng vận “ê” của hiền huynh cũng xét lại cho ngu đệ được nhờ.

Tuy nói vậy mà chàng cũng uống luôn ba hơi cạn ba chén rượu phạt.

Quang Ngọc bảo Phạm Thái:

– Thơ Lê hiền đệ tuy không được hay, nhưng mà có hậu. Hai câu kết thực đã làm cho bài thơ của Phạm hiền đệ bớt sai: “Còn tám mươi năm hãy sống đi” là phải lắm, chứ sao lại nói gở “chết chôn đi” được?

Phạm Thái mỉm cười:

– Vậy xin phép hiền huynh thưởng cho chú ba sáu chén rượu nữa.

Lê Báo chau mày xua tay:

– Thưởng với phạt sao lại giống nhau thế được. Hoạ chăng có phạt Trần đại huynh ba chén về tội không họa thơ thì còn có lý.

Phạm Thái hỏi Quang Ngọc:

– Vậy Trần đại huynh nghĩ sao? Chẳng lẽ lại trốn rượu phạt. Hay là thế này này, câu chuyện tức cười mà hiền huynh chưa bao giờ chịu kể cho ngu đệ nghe, nay nhân tiện có Lê hiền đệ đây, đại huynh đem thuật ra mà thế vào bài thơ là ổn.

Lê Báo vui mừng hỏi:

– Truyện gì mà bí mật thế, Phạm đại huynh?

– Truyện tu hành của một vị sư ông.

Quang Ngọc cười đáp:

– Xin hiền đệ đừng tưởng Quang Ngọc này không làm nổi thơ. Chẳng qua chí ngu huynh còn để cả chỗ khác, có tĩnh tâm mới làm được thơ hay, chứ làm bậy làm bạ chỉ tổ bị phạt rượu!

Lê Báo thấy Quang Ngọc riễu mình thì tức giận nói bướng:

– Chẳng qua hiền huynh nói khoác. Có giỏi cứ họa thơ đi đã nào?

Phạm Thái mỉm cười:

– Lại xin phạt Lê hiền đệ một chén rượu về tội xúc phạm huynh trưởng.

– Có phải nhị vị đại huynh về bè nhau để công kích ta chăng?

Phạm Thái vẫn tươi cười:

– Lê hiền đệ có lẽ say rượu?

Thấy Lê Báo có tính lỗ mãng, Quang Ngọc liền giải hòa:

– Thôi xin hai hiền đệ, lỗi tại ngu huynh cả. Vậy cố nhiên là ngu huynh phải kể câu chuyện đã hứa.

Lê Báo hết giận, vỗ tay reo:

– Ừ, có thể chứ! Nếu không, ta bắt đấu võ liền, mà đấu võ thì ta chấp hai anh một bên.

Quang Ngọc biết Lê Báo say lắm rồi, liền vui vẻ cười vang nói đùa:

– Lê hiền đệ nên để dành lực lượng với võ nghệ, có lẽ tối hôm nay phải dùng đến. Bây giờ hãy xin lắng tai nghe câu truyện khôi hài của ngu huynh.

Lê Báo cười:

– Truyện khôi hài chắc là nhạt thếch.

Phạm Thái đỡ lời:

– Thì cứ để Trần đại huynh kể đã nào.

Quang Ngọc giốc cạn chén rượu đầy, rồi nói rằng:

“Ba năm trước đây, một khách chinh phu niên thiếu lang thang trên con đường gió bụi. Chàng ta đi xa cửa xa nhà tìm chốn trú thân.

“Cha chàng vừa qua đời, mà lúc qua đời, chàng không gặp mặt, qua đời một cách thảm khốc đầu bị rời mình nơi pháp trường…”

Lê Báo ngắt lời:

– Thì cứ nói ngay là bị chém có giản dị hơn không!

Nhưng thấy Quang Ngọc ngồi yên, cặp mắt đỏ ngầu dữ tợn, đăm đăm nhìn nơi chân trời xa tắp, thì chàng lấy làm sợ hãi im ngay.

Bỗng Quang Ngọc cười sằng sặc một hồi, rồi kể tiếp:

“Một buổi chiều, tâm hồn ngây ngất, chàng thiếu niên bỏ lỏng dây cương để mặc ngựa theo con đường hẻm, cỏ rậm, muốn mang đi đâu tùy ý. Chàng đưa cặp mắt mỏi mệt nhìn sắc trời tà đỏ mà đoái tưởng lại thời oanh liệt theo cha tung hoành trong hai trấn Đông, Bắc.

“Cái vỏ kiếm lách cách đập vào yên ngựa lại nhắc tới những bài ca chàng thường hát để tự phấn khởi tâm hồn trong khi thất vọng. Chàng liền kìm cường. Rút thanh kiếm báu giơ lên múa. Toan cất lời ca thì xa xa có tiếng chuông rời rạc, buồn tẻ, như gieo vào lòng chàng sự hư vô chán nản. Chàng thong thả tra kiếm vào vỏ rồi theo tìm nơi có tiếng chuông.

“Trời nhá nhem tối, thiếu niên tới chân một quả đồi. Ở lưng chừng có một ngôi chùa. Tiếng chuông đổ hồi từ trên cao gieo xuống, gieo vào lòng khách chinh phu, làm cho tắt hẳn ngọn lửa đương bùng bùng cháy.

“Thiếu niên xuống yên, buộc ngựa ở cửa tam quan. Chờ lâu vẫn không thấy có người ra, mà gọi cửa cũng không ai thưa. Mãi sau, khi chàng quay đi mới có một nhà sư ở gian phòng trai bước tới. Người ấy nói mình chỉ là sư bác, còn sư cụ thì chơi vắng phương xa. Chàng liền nhờ sư bác cho ở trú một đêm, sáng hôm sau lại xin đi sớm, nhưng sư bác nhất định không thuận, nói không có phép sư cụ thì không thể tự tiện để khách thập phương ngủ trọ trong chùa được. Ngôn ngữ, cử chỉ, nhất là sức vóc của nhà sư khiến chàng trẻ tuổi phải nghĩ thầm: “Quái! Sao đi tu mà hỗn xược dữ tợn đến thế?”

“Chẳng muốn nói khó, chàng tuổi trẻ lẳng lặng xuống đồi, ra cửa tam quan. Nhưng, ôi thôi! Con ngựa buộc đó đã biến đâu mất, mà lạ nữa, nghe xa xa có tiếng ngựa phi nước đại về phía làng Nội Duệ. Chàng biết kẻ trộm vừa trốn thoát. Bực tức uất người, nhất là từ trên chùa lại ném xuống những tiếng cười mai mỉa. Chàng lộn tiết chạy một mạch lên đồi, lại gần sư bác sừng sộ hỏi:

“- Sao người biết ta mất ngựa lại cười?

“- Ta cười thì có can dự gì đến ai?

“Chàng tuổi trẻ mắm môi trợn mắt, giọng đe dọa:

“- Có can dự đến ta. Nếu ngươi không bảo cho ta biết đứa nào bắt trộm ngựa của ta thì ta thề xin đưa linh hồn người lên Nát bàn ngay lập tức.

“Nhà sư cười ha hả đáp lại:

“- Mi làm như Nát bàn của nhà mi gần lắm! Dẫu sao, xuống địa ngục vẫn dễ dàng hơn, vậy nếu mi muốn xuống thì cứ việc ỡm ờ đứng lại.

“Chẳng nói chẳng rằng, chàng tuổi trẻ tuốt ngay kiếm ra. Nhà sư ý chừng đã phòng bị trước, cũng giơ ngay câu búa dấu sẵn trong vạt áo ra. Hai người đánh nhau được một hồi, thì nhà sư biết sức không chống nổi quay đầu chạy. Chẳng may chân vướng cỏ khô, vấp ngã bổ chửng. Chàng trẻ tuổi liền nhanh nhẹn dẫm chân lên ngực rồi dí mũi kiếm vào ngực hắn mà dọa rằng:

“- Ai lấy trộm ngựa ta?

“Bất giác nhà sư kêu rống lên. Tức thì ba chú tiểu lực lưỡng ở nhà trai chạy ra. Chàng tuổi trẻ cả tiếng thét lớn:

“- Nếu chúng mày lại gần hay kêu cầu cứu thì trước hết tao hãy thí cho thầy chúng mày một mũi kiếm đã, rồi tao giết chết hết chúng mày như tao giết một đàn nghé.

“Bọn tiểu thất kinh quỳ cả xuống lạy van xin”công tử” xá cho sư bác. Còn lão sư thì luôn mồm kêu: “Nam vô A di đà Phật! Lạy ngài tha tội cho bần tăng, bần tăng thú hết, Nam vô A di đà Phật!”

“Chàng tuổi trẻ lộn ruột vì mấy tiếng Nam vô A di đà Phật của lão ác tăng, đã toan đưa lưỡi kiếm vào cổ hắn, nhưng nghĩ đến con ngựa bị mất trộm chàng lại thôi…”

Lê Báo vui vẻ giốc cạn chén rượu rồi vỗ tay reo:

– Ồ! Ngộ lắm nhỉ! Ngu đệ tưởng như trông thấy ở trước mắt một tráng sĩ dẫm chân lên ngực một nhà sư, gần đấy, ba chú tiểu quỳ gối chắp tay van lơn. Thực là một bức tranh linh hoạt của một họa sĩ đời Chiến Quốc.

Phạm Thái thì lâm râm cầu nguyện, có vẻ cảm động xót thương. Mãi sau, chàng mới ôn tồn bảo Quang Ngọc:

– Nếu trang thiếu niên kia không là hiền huynh thì ngu đệ xin bảo chàng ta là một người lỗ mãng, dám quý con ngựa hơn mạng một nhà sư, dù là một nhà sư ăn trộm.

Quang Ngọc cười đáp:

– Nhưng hắn ta có lấy trộm ngựa của chàng tuổi trẻ đâu?

– Vậy ai lấy?

– Không ai lấy cả.

Chàng kể tiếp:

“Nhà sư sợ hãi thú thật với chàng tuổi trẻ rằng giữa lúc chàng lên chùa thì sư cụ đi ra cửa sau vòng ra tam quan thấy có con ngựa tốt liền mượn tạm vì có chút việc cần. Nhà sư lại mời chàng tuổi trẻ hãy vào nghỉ trong phòng quan cư để chờ một lát nữa sư cụ về.

“Chàng tuổi trẻ đoán rằng nhà sư muốn cạm bẫy mình để trả thù cho bõ ghét, nhưng đấng trượng phu ngang tàng há sợ chì? Vả chàng cũng muốn dò xét ngôi chùa còn giấu diếm những sự bí mật ghê gớm gì nữa chăng, vì cứ ngắm cái cử chỉ bất chính của vị sư cụ mượn ngựa bằng một cách khác thường để đi chơi đêm, chàng cũng đoán biết rằng chùa này không phải là một nơi tu hành của các bậc đồ đệ tôn sùng Đức Thích Ca.

“Chàng bèn theo sư bác vào phòng trai. Tức thì các chú tiểu xúm xít hầu hạ, kẻ lấy thau, người pha nước. Nhưng chàng không dám uống nước, sợ trong đó có thuốc mê. Và lúc nào chàng cũng nhăm nhăm cầm thanh kiếm tuốt trần ở tay để phòng ngừa sự phản trắc.

“Chờ mãi tới cuối giờ Tuất cũng không thấy gì, chàng liền đóng cửa phòng tắt đèn đi ngủ. Kỳ thực chàng vẫn thức, nằm nghe ngóng…

“Bỗng vào khoảng nửa đêm, nghe có tiếng ngựa hí. Chàng rón rén đứng dậy, ghé mắt nhòm ra cửa, thấy dưới anh trăng suông lờ mờ hiện ra hai cái bóng đen từ chân đồi đi lên: một bóng nhà sư lực lưỡng và một bóng người thiếu nữ rất yểu điệu, thướt tha…”

Lê Báo vỗ tay cười:

– Sư cụ hỗ mang, tới rước gái về chùa rồi!

Phạm Thái buồn rầu chắp tay nói:

– Nam vô A di đà Phật, nhưng rồi sao nữa, thưa hiền huynh?

Quang Ngọc kể tiếp:

“Chàng tuổi trẻ toan cầm kiếm xông ra thì lại nghe có tiếng – tiếng sư cụ – hỏi một người thứ ba vừa đi tới:

“Hắn ta ra sao?

“Tiếng trả lời của sư bác:

“- Bạch cụ, hắn ta nằm trong buồng quan cư. Xin cụ nên đề phòng, hắn ta giỏi võ lắm kia đấy!”

“Hai người còn nói nhiều, chàng tuổi trẻ không nghe rõ, vì họ nói nhỏ, nhưng ý chừng sư bác thuật lại cuộc đánh nhau vừa xảy ra, vì thấy người thiếu nữ khúc khích cười có dáng chế nhạo. Bỗng sư cụ lớn tiếng:

“- Được! Để nó đấy, ta đây sẳn lòng đưa nó về cực lạc thế giới.

“Bấy giờ ba người đi ngay sát cửa phòng chàng thiếu niên. Sư bác thì thầm bảo sư cụ:

“- Hắn ta ở trong này, nhưng chắc đương ngủ say.

“Thiếu nữ không biết thích chí điều gì, vỗ tay cười vang, cười ngã cả vào cánh cửa phòng đến rầm một tiếng. Sư bác vội vàng xua tay bảo:

“- Se sẽ chứ! Hắn ta thức dậy thì nguy bây giờ.

“Thiếu nữ vần cười:

“- Sư cụ sợ gì thằng nhãi ranh ấy, phải không bạch sư cụ?

“Sư cụ được gái khen, phỗng mũi:

“- Phải, ái khanh nói phải. Ngữ ấy vị tất đã chịu nổi nửa chùy này.

“Vừa nói vừa giơ ra một cái chùy đồng nặng. Sư cụ lại nói:

“- Nhưng ái khanh ạ, bây giờ ta hãy cùng nhau hưởng cuộc ái ân đã…”

“Thiếu nữ nũng nịu:

“- Không. Bao giờ sư cụ giết được tên hỗn xược ấy, em mới chịu nghe lời.

“Tức thì cánh cửa phòng mở toang, chàng tuổi trẻ xông ra, tay múa kiếm, miệng thét:

“- Có ta đây!

“Sư cụ cũng khoa chùy lên đối địch. Trong khi ấy thì, lạ lùng xiết bao, thiếu nữ nhân lúc bất ngờ rút ngay dao dấu trong bọc ra thí cho sư bác một nhát trúng ngay cửa họng, nằm vật xuống đất chết tươi. Rồi nàng quay lại giúp sức chàng tuổi trẻ. Thấy nàng trong tay chỉ có một cây đoản đao, không đỡ nổi cái chùy nặng của sư cụ, chàng tuổi trẻ vội kêu:

“- Cô lùi ra, cứ một mình tôi cũng đủ giết nổi thằng sư hổ mang này rồi.

“Nhân lúc chàng để ý đến thiếu nữ, giữ mình không được kín, nhà sư nhằm trúng thanh kiếm chàng cầm, giáng xuống một chùy hết sức mạnh, khiến kiếm văng ra. Tính mệnh chàng sắp bị nguy thì thiếu nữ đã múa tít lưỡi đoản đao xông vào cứu viện. Cử chỉ hào hiệp ấy giúp chàng tuổi trẻ đủ thời giờ nhặt thanh kiếm sấn lại đánh nhà sư. Chàng tức vì đã bị nhà sư làm mất thể diện ở trước mặt má hồng, nên chàng rán hết sức bình sinh, giở hết võ nghệ ra đối địch. Bởi thế, chẳng bao lâu thiếu nữ nghe thấy chàng thét lên một tiếng rất lớn, rồi nhảy bổ vào đâm nhà sư một nhát xiên từ ngực sang lưng”.

Lê Báo cười the thé:

– Thế là cả sư cụ, lẫn sư bác cùng được lên Nát bàn chầu Phật.

Quang Ngọc cũng cười:

– Họa chăng xuống địa ngục chầu vua Diêm vương.

Phạm Thái mơ màng đăm đăm nhìn, hỏi:

– Còn người thiếu nữ?

Quang Ngọc thản nhiên đáp:

– Tức Nhị Nương.

Phạm Thái kinh ngạc:

– Nhị Nương?

– Phải, Nhị Nương. Mà người thiếu nữ là Nhị Nương thì có chi lạ?

Lê Báo ngơ ngác hỏi:

– Nhị Nương là ai?

– Rồi hiền đệ ắt biết.

– Vậy bây giờ ta hãy uống mỗi người hai chén rượu để chúc thọ Nhị Nương đã!

– Lê hiền đệ nói rất phải.

Ba người cùng vui vẻ nâng chén. Lê Báo lại hỏi:

– Thế rồi sao nữa?

Quang Ngọc mỉm cười:

– Rồi chàng trẻ tuổi trở nên sư ông…

Phạm Thái nói tiếp:

– Đạo hiệu là Phổ Tĩnh thiền sư, phải không bạch sư ông?

Trần Quang Ngọc vẫn mỉm cười:

“Ý thế, giết xong hai tên ác tăng, Nhị Nương cùng ngu hữu xục xạo đi tìm bọn tiểu, thì chúng – tất cả năm tên – đều ra quỳ xuống van lạy xin tha. Ngu hữa liền sai chúng khiêng hai cái thây đem chôn ở phía bên kia đồi. Đoạn ai nấy lại đi ngủ, tuy lúc đó gà đã bắt đầu gáy sáng.

“Từ hôm sau, Trần Quang Ngọc đã nghiễm nhiên dùng đạo hiệu của nhà sư đã tịch một cách phi thường, nghĩa là hiệu Phổ Tĩnh thiền sư. Ở vùng này, nhiều người không ngờ rằng có xẩy ra sự biến gì hết. Một ít người biết chuyện thì lại làm ngơ, vì họ rất ghét, rất sợ lão ác tăng kia, nên biết hắn bị giết, họ rất đỗi vui mừng. Bởi vậy, ngu huynh đây, nhờ Trời, nhờ Phật tổ được yên lành mà tu đạo nhiệm mầu…”

Phạm Thái từ nãy vẫn theo đuổi ý nghĩ về Nhị Nương, tò mò hỏi:

– Thế còn Nhị Nương? Nàng không nói chuyện vì sao nàng lại để tên ác tăng bắt về chùa? Hình như nàng cũng thông võ lược kia mà?

– Phải, nàng rất tinh thông võ nghệ. Cứ kể tay đôi đánh nhau, nhà sư hổ mang kia cũng chưa dễ làm gì nổi, nhưng vì nhiều lẽ, nàng muốn dùng mưu giết tên ác tăng một cách kín đáo, không để tiết lộ cho ai biết.

“Nguyên nàng là con gái quan Binh bộ Thương thư Nguyễn Đình Giản. Khi Nguyễn Huệ lên chiếm ngôi nhà Lê, quan Thượng thư vì theo không kịp đức Chiêu Thống, đành phải quay về ẩn núp ở vùng huyện Lập Thạch, tỉnh Sơn Tây. Bắc Bình vương dụ mãi ngài ra làm quan không được, liền sai người đến Thanh Hóa bắt Nhị Nương – khi ấy mới mười lăm tuổi – cho vào hậu cung, tưởng làm thế thì thương con, thế nào ngài cũng phải ra hàng. Chẳng dè được tin, ngài rửng rưng như không, cười gằn mà nói rằng:

“Con ta không biết chết đi để làm nhục môn hộ nhà ta, chẳng vì tình phụ tử nhỏ mọn mà bỏ đại nghĩa đâu”.

“Nguyễn Huệ biết không dụ nổi, mới dùng mẹo bắt sống đem về. Nguyễn thượng thư không chịu khuất phục mà chết, Nhị Nương, bên thây cha không kêu khóc nửa lời, chỉ thì thầm khấn thề với linh hồn cha rằng: “Thù này xin trả”.

“Nhân xin được phép đi đưa đám cha, nàng thừa lúc bối rối trốn thoát, rồi đi chu du khắp đó đây, tìm đến những chỗ quen thuộc để cầu học nghề võ. Ba, bốn, năm trời, nàng lẩn lút trong vùng quê các trấn Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn Nam, Kinh Bắc, cho đến hôm gặp nhà sư hổ mang, mê cái sắc đẹp của nàng, thả lời chọc ghẹo. Nàng đã sắp ra tay cự địch, nhưng khốn nổi một sự ngẫu nhiên lạ lùng! Tên sư kia lại là người đồng hương với nàng: Sáu năm trước hắn trụ trì ở chùa làng. Hắn dọa nếu không bằng lòng hắn, thì hắn tố cáo tung tích nàng với quan Phân phủ Từ Sơn. Bất đắc dĩ nàng phải giả ưng thuận, cùng định chờ đêm khuya ra tay trừ khử tên cường bạo hoang dâm cho bỏ ghét…”

Ngừng một lát Quang Ngọc lại nói tiếp:

– Chính nàng cùng ngu huynh đã lập nên đảng Tiêu Sơn. Nàng đã giúp đảng được nhiều việc lắm, ấy là không kể cái công cứu sống cho Ngọc đây.

Lê Báo cười sằng sặc:

– Thế mà hai người không yêu nhau thì cũng lạ!

Quang Ngọc buồn rầu đáp:

– Nói kính trọng nhau thì đúng hơn. Đương lúc theo đuổi công cuộc lớn lao, còn bụng đâu nghĩ tới ái tình. Vả lại xin nhị đệ hiểu cho rằng, mình tuy không thực bụng tu hành, song đã nhờ cái áo cà sa để trốn tránh thì cũng không nên làm nhem nhọ nó.

Phạm Thái mỉm cười ngờ vực, ngồi im. Quang Ngọc lại nói:

– Nàng cũng bảo ngu hữu rằng khi nào việc lớn xong xuôi đã, hai người mới cùng nhau đi chu du khắp nước Nam như Phạm Lãi, Tây Thi đời xưa, chứ nay còn ở thời kỳ nằm gai nếm mật, nghĩ chi tới hạnh phúc êm đềm của tình ái… Lời vàng ấy, ngu hữu đây đã khắc ở bên lòng, thề không bao giờ dám sai.

Lê Báo bông đùa một câu:

– Nghĩa là hai anh chị còn tạm là đôi bạn cầm kỳ để chờ ngày trở nên đôi bạn cầm sắt chứ gì.

Quang Ngọc quắc mắt lườm, rồi giữ vẻ mặt trang nghiêm chàng nói:

– Thôi! Đã quá dài lời nói chuyện phiếm. Bây giờ rượu cạn thức nhắm đã hầu tàn, xin mời nhị hiền đệ đi nghỉ một giấc cho thực ngon, tối hôm nay ngu huynh cần đến lòng can đảm và hai cánh tay cứng cáp của nhị đệ lắm đấy.

Lời nói rắn rỏi như câu hô binh, khiến hai người vâng lời ngay.

(Hết Hồi 5)

Share this post