Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 13

Trong Ánh Lửa Thù (Tiểu Thuyết Dã Sử – Uyên Thao) Hồi 13

Hồi 13:
MỘT MẢNH ĐỜI CỦA CHỦ QUÁN AN MIÊN

Lý Đại đi rồi, phu nhân cho người hầu gái đi nghỉ, rồi cùng Nguyệt Quế ngồi lại bên Trung Chính. Nghe Nguyệt Quế kể lai lịch xong, bà nói:
– Vậy thì cháu là cháu gái của ta. Từ lúc này cháu cứ gọi ta bằng thím.
Bà tiếp:
– Cháu cùng Lý Đại vô tình đưa tiểu vương gia tới đây là do tiền định nhưng hẳn cũng có sự dẫn dắt của anh hồn Võ Thành Vương và phu nhân. Cuộc sống của ta kéo dài thêm ngót hai chục năm nay chắc dành cho việc này.
Bà đưa tay vặn nhỏ ngọn đèn. Làn sáng yếu ớt đổ xuống mặt Trung Chính một màu vàng nhợt. Chàng thở khó khăn trong cơn sốt nóng triền miên.
Nguyệt Quế nhìn Trung Chính rồi nghĩ chính mình đã tạo ra sự nguy hại cho chàng thì bưng mặt khóc. Phu nhân đặt bàn tay lên vai nàng, nói:
– Đường đời có khi nào bằng phẳng. Tai họa chẳng qua là chuyện thường tình trong cuộc sống. Nếu cứ gặp tai họa mà nhỏ lệ thì không bao giờ khô nước mắt. Cháu hãy nhìn lại thân xác ta coi.
Bà dõi mắt theo ánh đèn đang run rẩy, cất giọng đều đều kể:
– Cho tới khi ngoài ba mươi tuổi, ta hầu như không khi nào nghĩ tới tai họa, dù quanh mình diễn ra không biết bao nhiêu biến cố. Lúc đó ngôi cửu ngũ đã về tay họ Trần nhưng ta vẫn thấy mình tràn trề hạnh phúc. Ta còn nguyên vẹn niềm tin nơi chồng và nguồn vui bên các con. Ta thực sự không cần gì ngoài hai điều đó. Thế rồi chỉ trong một buổi chiều ngắn ngủi, cả bốn đứa con yêu quí đã vĩnh viễn xa ta. Hai đứa bị xô vào lưới lửa chỉ cách ta không quá mười bước chân. Ta ôm mỗi bên tay một đứa em của chúng, điên dại lao theo. Nhưng ta không kịp đến bên lưới lửa. Những lưỡi đao bén ngọt lúc đó quay cuồng bên ta như mưa loạn.
Bà đưa cánh tay cụt lên trước mặt Nguyệt Quế:
– Cháu nhìn coi. Nhát dao cắt đứt cánh tay này của ta cũng cắt đôi người đứa con nhỏ mới tròn một tuổi của ta. Rồi nhát dao thứ hai cắt rời chân ta đã xả đứa con gái vừa ba tuổi khi ta và nó cùng ngã xuống. Cho tới nay, mỗi lần gợi lại chuyện xưa, ta vẫn nhớ chắc là không hề cảm thấy đau đớn vì dao chém trên thân thể. Ta chỉ kinh hoàng chồm dậy vơ các con ôm vào lòng. Tay ta mất rồi nhưng ta vẫn cố đưa cánh tay ra. Rồi ta đứng lên với ý định ôm con đi cứu chữa. Nhưng cháu hiểu là không ai cứu chữa nổi cho chúng và bản thân ta cũng đâu có đứng dậy nổi.
Nguyệt Quế cảm thấy nghẹt thở. Nàng nhìn sững bà trong lúc bà nói tiếp:
– Vậy mà cuối cùng ta vượt qua tất cả, qua được cái tai họa kinh hoàng kia và qua nổi cả nỗi đau đớn trùm kín khắp trời đất. Ta qua được nhờ tấm lòng của chồng và nhờ sớm liễu ngộ cuộc đời vốn là bể khổ mênh mông. Vào lúc đó, chồng ta đã đem thân mình làm tấm khiên che đỡ gươm dáo đưa ta ra ngoài vòng tai họa. Sau đó cũng chính ông ấy mở đường cho ta hiểu rằng con người có mặt trong cuộc sống bao giờ cũng cần sẵn sàng cho cả hạnh phúc lẫn đau khổ. Oan khiên hay hạnh ngộ chính là hai mặt của một mầm sống. Lầm tưởng cuộc đời chỉ là bình an, tươi đẹp ắt khó tránh đau đớn cùng cực khi tai họa xẩy ra. Cuộc sống vốn từ hư vô do Âm Dương phối hợp mà thành, cũng như đời người từ hư vô do Hạnh Phúc hòa trộn với Khổ Đau mà có. Mưu cầu giữ riêng thứ này, xa lánh thứ khác, là một mưu cầu vô vọng vì hoàn toàn nghịch lý. Mưu cầu như thế chính là tự giết cuộc sống của chính mình, đẩy mình vào coi trầm luân vì những mong muốn thái quá. Hãy chờ đón mọi mặt của cái mầm sống kia tự nhiên như hơi thở của mình. Chỉ như thế cuộc đời mới luôn êm ả.
Nguyệt Quế không hiểu hết điều bà nói nhưng giọng nói dịu dàng của bà như dòng suối ngọt thấm theo từng mạch máu khiến nàng thấy bớt căng thẳng. Phía ngoài, trời đã rạng sáng. Bà vẫn chìm trong câu chuyện mà bà chỉ mới kể lần thứ nhất trong đời:
– Ta không rõ mình mê man bao lâu sau cái buổi chiều tai họa đó mà chỉ nhớ bắt đầu hiểu lại mọi chuyện khi những vết thương trên da thịt đã lành. Lúc đó chúng ta ẩn mình trong một sơn thôn dưới chân núi Ba Vì. Ta sống lại được do bàn tay chăm sóc và sự dẫn dắt của chồng. Ông ấy đã trị lành các vết thương trên cả thể xác lẫn tâm hồn ta. Rồi ông ấy để lại bên ta người hầu gái và lão Tứ, đem theo ba gia nhân khác lên đường tiếp tục con đường của ông ấy.
Bà nhìn Nguyệt Quế nhưng nàng ngỡ bà đang nhìn vào cõi nào xa thẳm và vẫn không ngừng nói:
– Ta ở lại dưới chân dẫy Ba Vì gần mười năm. Suốt thời gian đó, mỗi năm ông đều trở về thăm ta một lần vào dịp đầu xuân. Ta đã hết lời van xin ông hãy quên ta để yên lòng lo việc lớn, nhất là để tránh hiểm họa rất dễ xẩy ra trên đường ông trở về. Ta còn mong ông có lại một gia đình thật sự, có một người vợ bình thường chăm sóc chứ không thể quên mình vì một phế nhân như ta. Mỗi lần nghe ta nhắc những việc đó, ông chỉ nhìn ta bằng ánh mắt dịu dàng, không nói một lời.
Nguyệt Quế không hay là nàng đã đưa hai bàn tay ôm lấy bàn tay duy nhất còn lại của bà. Bà ngừng lại nhìn nàng rồi tiếp:
– Thấy ông không chịu đổi ý, ta nghĩ chính ta phải hành động để thúc đẩy ông. Lúc đầu ta nghĩ tới việc tự hủy mình, nhưng ta lại thấy làm vậy là bất hiếu với cha mẹ, nhất là phụ rẫy công lao chăm sóc bấy lâu của chồng. Cuối cùng, ta nghĩ được một điều. Ta cho lão Tứ và người hầu gái đắp lên một ngôi mộ giả ở vườn sau rồi sai lão Tứ đi báo tin cho ông hay rằng ta đã từ trần. Từ đó tới nay gần mười năm nữa đã trôi qua. Ta nghĩ rằng cái chết của ta sẽ khiến ông có một mái gia đình vì không còn phải ưu tư đến ta. Nhưng suốt mười năm qua, ông vẫn thui thủi một mình và mỗi năm đều trở về chốn cũ thắp hương trên ngôi mộ giả trong vùng núi Ba Vì. Ông càng thêm cô đơn câm nín sau quyết định của ta. Nhưng đã đặt mình vào cõi chết nên ta không thể sống lại để trở về.
Cặp mắt bà như mờ đi, nhưng giọng bà đều đều:
– Ta hiểu ra chỉ vì ông mà ta sống và ta cũng chính là một phần cuộc sống của ông. Ta không thể thiếu ông và ông cũng không thể thiếu ta trong cuộc đời. Vì thiếu suy xét, ta đã cướp mất một phần cuộc sống của ông, gieo thêm một nụ mầm bất hạnh vào cuộc đời tràn ngập tai ương của ông. Nhưng chuyện đã xẩy ra không khác những lưỡi dao chém xuống người ta và các con ta chiều nào. Không thể cứu vãn gì nữa. Ta chỉ còn sám hối cho lầm lẫn của mình bằng cách cố trở nên hữu ích hơn cho cuộc sống. Hàng ngày, ta cố đào sâu thêm hiểu biết về y lý học được từ thuở nhỏ, tìm kiếm dược thảo luyện chế thuốc gửi tới một lão ni gần đây để giúp đỡ cho những người đau yếu trong vùng. Trọn đời chồng ta không bao giờ nghĩ đến bản thân nên ông sẽ không phiền muộn về việc làm này.
Bà thở ra một hơi dài, nhìn Nguyệt Quế:
– Ta nương mình tại góc rừng này đã gần mười năm kể từ khi giả chết. Ta chọn nơi đây vì ít có người qua lại và gần gũi hơn với nơi cư ngụ của chồng để có thể luôn biết rõ chuyện xảy ra với ông ấy. Mấy bữa nay, ông ấy lại vướng vòng tù ngục chưa biết lành dữ ra sao nên ta sai lão Tứ về lộ phủ dò la. Ta hiểu cảnh giam cầm chẳng đáng kể gì với ông ấy nhưng hẳn ông ấy sẽ buồn vì trong dịp xuân này không thể về thắp hương trước mộ ta dưới chân núi Ba Vì. Ông ấy sẽ buồn vì thương ta phải lạnh lẽo cô đơn đợi chờ trong lòng đất. Nhưng cuộc đời vốn là thế. Cầu cho ông ấy sớm vượt qua tai họa để tiếp tục con đường của mình.
Nguyệt Quế nghĩ bà không nói những lời cuối cùng này với nàng mà như đang thầm khấn nguyện. Cặp mắt hõm sâu của bà như càng sâu hơn trên gương mặt bơ phờ mệt mỏi. Nàng ấp bàn tay bà lên ngực mình như muốn nhờ bàn tay bà chặn lại cảm giác nghẹn ngào đang trào lên. Xiết chặt bàn tay bà, nàng nói trong tiếng nấc:
– Thím ơi!
Cặp mắt hõm sâu của vị mệnh phụ thuở nào phủ lên gương mặt đầm đìa nước mắt của nàng một cái nhìn thương cảm. Bà mỉm cười nói:
– Ta không muốn cháu coi đời ta như một chuyện khổ não. Sở dĩ ta kể cùng cháu chỉ vì trong đời có những lúc người ta cần nói lên điều gì đó về mình. Nói cho vơi những chất chứa trong lòng chứ không mưu cầu gì. Tương tự như khi ông ấy ngồi thì thầm bên nấm mộ ta vào mỗi lần trở lại.
Bà lẩm bẩm như nói thầm với chính mình:
– Tội nghiệp ông ấy biết bao! Năm nay ông ấy không thể làm như vậy được!

oOo

Quả là Trung Dũng Hầu đã nghĩ ngay tới nỗi cô đơn lạnh lẽo dưới mồ của vợ khi đưa chân vào cùm. Ông nhìn vách đá nhà giam, thầm đo lại sức mình. Bên cạnh ông, Long Diên đang nghiêng mình về phiá Kiều Phúc quan sát gã thủ hạ. Cả ba bị cùm chung trong một cỗ cùm lớn ép cứng ngang đầu gối, tay bị xích nhiều vòng, ngồi tựa lưng vào vách đá. Kiều Phúc đang trong tình trạng hôn mê, còn Long Diên và Trung Dũng Hầu đầy người thương tích. Mái tóc bạc của Trung Dũng Hầu bết máu kết lại từng cụm. Nửa mặt ông sưng vù bầm tím. Vết sưng che lấp một bên mắt khiến ông không nhìn rõ Long Diên. Ông chỉ nhận thấy một dáng người cúi nghiêng xuống và đoán Long Diên đang theo dõi bệnh tình Kiều Phúc. Chuyện xẩy ra cho Kiều Phúc bắt nguồn từ việc viên ngục lại nện mạnh đốc gươm vào mặt ông. Trung Dũng Hầu thấy lòng mình se lại. Một nửa đời ông đã trôi qua trên chiến địa ngập máu tanh. Nửa đời tiếp nối là những tháng ngày chìm nổi trong đau đớn chồng chất của thân tộc và chính bản thân. Trái tim ông tưởng chừng thành đá bỗng mềm đi trước tấm lòng của gã thủ hạ. Viên ngục lại vừa nện đốc gươm vào mặt ông thì Kiều Phúc hét lên, bứt tung dây xích. Hai chân bị cùm chặt, gã vẫn nhào tới đánh thẳng vào ngực viên ngục lại để phải nhận một cán dáo vào giữa mặt và tiếp theo là một trận mưa đòn. Trung Dũng Hầu và Long Diên đưa mình ra che đỡ khiến cả hai đều tươm máu đầy mình nhưng Kiều Phúc vẫn ngất xỉu. Gã mê sảng từ đó tới lúc này. Long Diên lo lắng nói với Trung Dũng Hầu:
– Kiều Phúc nguy mất.
Trung Dũng Hầu đang theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Ông hỏi Long Diên:
– Vương gia thấy trong mình ra sao?
Long Diên nhìn hai cánh tay đầy máu, thở dài:
– Cháu thấy mất sức nhiều lắm.
Trung Dũng Hầu hỏi tiếp:
– Vương gia còn đủ sức bứt xích không?
Long Diên nhìn ông hỏi lại:
– Chú tính vượt ngục?
Trung Dũng Hầu gật đầu, nghiêng người nhìn về phiá Kiều Phúc nói:
– Kiều Phúc khó giữ mạng sống nếu không kịp đưa ra ngoài cứu chữa. Hơn nữa, tung tích của ta đã lộ rồi, không thể khoanh tay ngồi đây chờ đợi xét xử.
– Chú tính làm vào lúc nào?
– Nội đêm nay! Ta cố bứt xích rồi phá chiếc cùm này. Sau đó, tìm cách cho ngục tốt mở cửa và tuỳ cơ ứng biến thoát ra.
Chàng nhớ lại Quốc Ân lén gặp chàng từ đêm đầu chàng bị giam giữ và cho biết đang tìm cách đưa ba người ra khỏi nhà giam. Mới đêm trước Quốc Ân còn thông báo đã gặp được Lý Đại và đang cùng Lý Đại sắp xếp để mọi việc tiến hành êm ả. Chàng hỏi:
– Chú quên lời hẹn của Quốc Ân sao?
Trung Dũng Hầu nói:
– Quốc Ân là người đáng tin cậy nhưng tính mạng của Kiều Phúc không cho phép ta chờ đợi.
Ông thở dài ngắm hai cánh tay mình, giọng trở nên dứt khoát:
– Hãy thư giãn cho lại sức. Giữa canh hai khởi sự.
Phòng giam im lìm trở lại.
Ngục thất nằm khuất giữa vườn cây lớn cách Nghị sự đường một khoảng xa, gồm nhiều phòng giam có cửa mở thông ra một dẫy hành lang dài. Trên hành lang lúc nào cũng có hai ngục tốt tuần phòng. Vách ngục thất xây bằng đá xanh và các khuôn cửa đều làm bằng gỗ dầy nên phía ngoài không thể nghe thấy mọi âm thanh trong các phòng giam. Mỗi phòng có một lỗ thông hơi nhỏ sát mái hướng ra vườn cây. Qua lỗ thông hơi này, từ phòng giam có thể nghe được tiếng trống điểm canh nơi chòi gác trước cổng phủ. Khi nghe vẳng lại hai tiếng trống điểm dõng dạc, Long Diên lên tiếng:
– Chú bứt nổi xích không?
Trung Dũng Hầu vừa toan lên tiếng bỗng ngừng lại nhìn về phía cửa. Long Diên cũng im lặng nhìn trân trối vào vệt sáng mờ nhạt dọi qua khe cửa. Vệt sáng mỗi lúc một rõ hơn, rồi có tiếng khua động trên cánh cửa và liền đó cánh cửa bật mở lùa vào phòng giam một vùng sáng chói chang.
Trước cửa phòng một toán phiên binh dàn hàng phía sau Đỗ Nghiêm với mái tóc bạc nổi bật dưới ánh đuốc. Tất cả phiên binh đều lăm lăm võ khí trong tay.
Đỗ Nghiêm hất hàm ra dấu cho hai binh sĩ cầm đuốc tới sát bên khuôn cửa, rồi ông cùng ngục lại bước vào phòng giam. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Đỗ Nghiêm là khuôn mặt nhợt nhạt của Kiều Phúc dựa ngửa vào vách đá. Gã nhắm nghiền hai mắt thở một cách mệt nhọc. Bên cạnh gã, Long Diên và Trung Dũng Hầu ngồi bất động, y phục tả tơi, khắp người dính máu. Đỗ Nghiêm dừng lại ngắm từng người một. Cái nhìn của ông dừng lại trên vết sưng che khuất một bên mắt Trung Dũng Hầu. Vành môi vị lão tướng hơi mím lại. Đây là lần đầu Đỗ Nghiêm thấy lại ba người sau đêm đưa họ từ Bến Chợ về. Không rời mắt khỏi khuôn mặt Trung Dũng Hầu, ông hỏi ngục lại:
– Công việc của Hình quan ra sao?
Ngục lại vòng tay đáp:
– Bẩm tướng quân, chúng cứng đầu lắm, nhất là lão già kia. Mấy ngày rồi việc của Hình quan vẫn chưa xong. Suốt buổi chiều nay, Hình quan gần như năn nỉ mà lão già cứ khăng khăng không ký cung từ.
Đỗ Nghiêm hỏi:
– Cung từ ra sao?
– Bẩm, tiểu tốt không biết rõ mà chỉ nghe qua những lời nói của Hình quan được vài điều.
– Điều gì?
– Bẩm tướng quân, lão già kia là người của cố triều cải dạng thường dân cấu kết với một số người trên sơn trại ám toán Hà trại chủ, lôi kéo sơn trại chống đối triều đình và đang sắp đặt cho người trá hàng, lợi dụng chiếu chiêu an để đưa người về Thăng Long gây rối.
Đỗ Nghiêm gật đầu, nhìn Trung Dũng Hầu. Trung Dũng Hầu và Long Diên vẫn im lặng từ lúc Đỗ Nghiêm xuất hiện. Cả hai đều nhìn thẳng về phía trước và đang thắc mắc về sự xuất hiện tại phòng giam của Đỗ Nghiêm. Đỗ Nghiêm là người đứng đầu việc binh tại lộ phủ chứ không lo về hình pháp nên sự xuất hiện của ông khiến cả hai đều nghĩ mình sẽ bị chuyển tới một nơi khác.
Đỗ Nghiêm nói với Trung Dũng Hầu:
– Hai mươi năm nay, ngươi vẫn chống lại triều đình thì hà tất phải sợ nhìn nhận những chuyện nhỏ nhoi đó?
Trung Dũng Hầu nhìn vào mặt viên lão tướng:
– Lão không thể nhận những điều sai sự thật.
Đỗ Nghiêm nhíu mày:
– Không lẽ ngươi đã thực sự trở thành chủ quán?
Trung Dũng Hầu nói:
– Lão không bận tâm về việc trở thành người sang hay hèn. Lão cũng chẳng thấy việc thuận theo hay chống lại triều đình là đại sự. Đối với lão chỉ có một điều cần cân nhắc là sống sao cho hợp với lẽ phải.
Đỗ Nghiêm khẽ cười thành tiếng:
– Ta từ nhỏ chỉ quen nghề cưỡi ngựa múa gươm, và ngươi cũng trải một thời sống trên yên ngựa. Ngươi nên nói thẳng điều mình muốn thì hay hơn là dùng những lời lẽ bóng bẩy như thế.
Trung Dũng Hầu cũng cười nhạt:
– Kẻ cần làm thế lúc này không phải lão.
Mắt ông sáng lên, giọng nói tuy yếu ớt nhưng dứt khoát. Đỗ Nghiêm nhìn chằm chặp hồi lâu vào mặt ông rồi quay về phiá ngục lại ra lệnh:
– Mở cùm!
Ngục lại dạ lớn bước tới bên các phạm nhân trong lúc Đỗ Nghiêm quay về phiá binh sĩ cao giọng:
– Đưa cả bọn về quân doanh!
Cỗ cùm vừa mở ra thì Kiều Phúc gục xuống nền đá. Long Diên và Trung Dũng Hầu lật đật ngồi xuống đưa những cánh tay còn bó trong nhiều vòng xích cố nâng gã dậy. Đỗ Nghiêm quay lại lặng lẽ nhìn rồi bước ra hành lang. Ông quát binh sĩ:
– Khiêng đi!
Một binh sĩ bước tới xốc Kiều Phúc lên. Long Diên và Trung Dũng Hầu bước theo sau đi. Một toán kỵ binh đang chờ sẵn bên hông Nghị sự đường. Kiều Phúc được đặt nằm ngang trước yên ngựa của một kỵ binh. Gã đội trưởng kỵ binh hối Long Diên và Trung Dũng Hầu lên yên. Đỗ Nghiêm nói:
– Đường về quân doanh canh phòng rất nghiêm và gươm của thủ hạ ta rất bén. Đừng mưu toan vọng động mà uổng mạng.
Hai người lặng thinh nhìn về phiá trước. Ánh đuốc bập bùng soi tỏ vóc dáng những phiên binh vác dáo dài dàn hàng hai bên lối đi. Đỗ Nghiêm vẫy tay ra hiệu cho toán kỵ binh cất bước. Viên đội trưởng tuốt gươm khỏi vỏ kềm ngựa chạy bên Trung Dũng Hầu. Đỗ Nghiêm đứng nhìn theo một hồi rồi quay vào Nghị Sự đường. Trần Kiều đang ngồi sau án. Thấy viên tướng già bước vào, ông đứng dậy đi tới nắm lấy tay Đỗ Nghiêm.
Ngay sau khi biết chắc hai phạm nhân là Long Diên và Trung Dũng Hầu Lý Bảo Tuấn, Trần Kiều đã lập tức trình về phủ Quốc Sư. Một ngày sau đó, phái thần riêng của Quốc Sư đã có mặt tại lộ phủ nhắc Trần Kiều lập cung từ ra sao. Theo lệnh Quốc Sư, khi phạm nhân ký xong cung từ Trần Kiều phải cho giải Trung Dũng Hầu về Thăng Long tức khắc. Hình quan được lệnh Trần Kiều làm việc liên tục nhưng Trung Dũng Hầu dứt khoát không ký cung. Trần Kiều đành cho gọi Đỗ Nghiêm từ Bến Chợ về bàn:
– Quốc Sư nói việc sơn trại không đáng lo. Lúc này quan trọng nhất là nắm được tờ cung của Lý Bảo Tuấn. Hình quan làm mãi chuyện đó chưa xong nên ta muốn bàn tính với lão đệ xem có cách nào không.
Đỗ Nghiêm hỏi:
– Quốc Sư nhìn tình thế Qui Hóa ra sao?
– Quốc Sư nói họ Hà bất quá là một lũ thảo dã ngược ngạo chứ không phải loại người mưu đồ đại sự nên không đáng lo như phe đảng họ Lý. Việc đối phó với họ Lý lúc này sẽ dễ hơn nếu chúng ta bắt được Lý Bảo Tuấn ký vào bản cung từ mà Quốc Sư đã vạch ra.
Trần Kiều tiếp:
– Quốc Sư nói ít nhất ta phải đòi Lý Bảo Tuấn nhận hai điều. Thứ nhất, y vẫn coi việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là hành vi thoán đoạt của họ Trần nên chỉ coi nhà Trần là ngụy triều. Thứ hai, y đang theo đuổi mưu đồ lợi dụng chiếu chiêu an của Hoàng Thượng để gây binh biến tại Thăng Long.
Đỗ Nghiêm suy nghĩ hồi lâu rồi hỏi:
– Đại huynh có đoán ra lý do khiến Quốc Sư cần Lý Bảo Tuấn nhận như thế không?
Trần Kiều lắc đầu:
– Ta cố lo cho có tờ cung còn chưa xong nên chẳng nghĩ gì hơn. Lão đệ thấy chuyện đó quan trọng lắm sao?
Đỗ Nghiêm nói:
– Đệ cảm thấy quả là Hoàng Thượng và Quốc Sư có khác ý trong việc ban chiếu chiêu an. Theo đệ thì Quốc Sư đang muốn Hoàng Thượng đổi ý thu hồi chiếu chỉ nên cần thêm chứng cớ để thuyết phục.
Trần Kiều có vẻ ngờ vực:
– Đám tôn thân nhà Lý vẫn nói như thế và còn nói thêm rằng họ không tin tưởng chút nào ở thành ý của triều đình. Loại chứng cớ đó đâu có thiếu.
Đỗ Nghiêm lắc đầu:
– Đám tôn thân nhà Lý nói như thế sau khi bị ta bắt giữ chứ không phải họ vẫn có ý đó từ trước. Nhưng dù họ có cung khai ra sao thì mọi lời khai không thể sánh ngang với lời khai của Lý Bảo Tuấn. Mấy chục năm nay, từ kẻ chân trắng ngoài đồng đến Hoàng Thượng đều có dịp nghe nhắc tài đức và uy danh của Lý Bảo Tuấn. Lời khai của một kẻ như thế đáng kể gấp ngàn lần lời khai của đám tôn thân họ Lý vô danh. Quốc Sư cần có lời khai của Lý Bảo Tuấn vì lẽ đó.
Trần Kiều thắc mắc:
– Lão đệ cho là Quốc Sư muốn đưa Lý Bảo Tuấn và cung từ của y tới trước Hoàng Thượng?
Giọng Đỗ Nghiêm trở nên quả quyết hơn:
– Không bao giờ Lý Bảo Tuấn có cơ hội diện kiến Hoàng Thượng. Đệ dám đoan chắc là Lý Bảo Tuấn sẽ rụng đầu ngay khi về tới Thăng Long. Sở dĩ Quốc Sư đòi giao nạp Lý Bảo Tuấn thay vì cho hành xử tại đây chỉ vì Quốc Sư muốn nắm chắc phạm nhân chính là Lý Bảo Tuấn.
Viên tướng già hơi nhếch mép buồn nản:
– Quốc Sư chưa hoàn toàn tin chúng ta. Uy danh của Lý Bảo Tuấn khiến Quốc Sư ngại là ta sẽ bị gạt hoặc mắc sai sót.
Thấy Đỗ Nghiêm không vui, Trần Kiều nói:
– Quốc Sư là tiêu biểu của triều đình nên chúng ta không thể trái lệnh. Lúc này lão đệ cần giúp ta xem có cách nào buộc Lý Bảo Tuấn ký vào cung từ không?
Đỗ Nghiêm nhìn người anh kết nghĩa từ hơn ba mươi năm. Trần Kiều như già yếu hẳn đi chỉ sau mấy ngày ngắn ngủi. Vẻ mặt hốc hác của viên An Phủ Sứ khiến Đỗ Nghiêm hiểu Trần Kiều đang vô cùng lo lắng. Ngược lại, Trần Kiều cũng thấy trên mặt Đỗ Nghiêm hằn thêm nhiều vết sâu khắc khoải suy tư. Cặp mắt vốn sáng quắc của Đỗ Nghiêm tựa hồ đang bị phủ mờ một làn sương mỏng. Hồi lâu, Đỗ Nghiêm thở ra một hơi dài nói với Trần Kiều:
– Đại huynh hãy cho đệ đưa phạm nhân về quân doanh.
Trần Kiều gật đầu:
– Lão đệ muốn sao cũng được, miễn là có tờ cung của Lý Bảo Tuấn như ý Quốc Sư .
Đỗ Nghiêm nói:
– Đệ sẽ tùy cơ ứng biến.
Sau đó, ông xuống thẳng ngục thất.
Thấy Đỗ Nghiêm trở lại, Trần Kiều hỏi:
– Lão đệ đã gặp các phạm nhân rồi?
Đỗ Nghiêm gật đầu:
– Đệ đã cho chuyển cả ba tên về quân doanh. Lát nữa đệ sẽ trò chuyện với họ.
Trần Kiều thở dài:
– Ta mong lão đệ sẽ có cách nói cho Lý Bảo Tuấn chịu nghe theo.
Đỗ Nghiêm nhìn Trần Kiều bằng ánh mắt thương cảm. Giọng ông ngọt ngào chưa từng có, nói với vị quan cầm đầu lộ phủ:
– Đại huynh ráng nghỉ ngơi cho đỡ hao tổn tinh thần. Sức khoẻ của đại huynh suy kém nhiều lắm. Đệ phải về quân doanh ngay.
Trần Kiều cũng nhận ra dáng đi mệt mỏi của Đỗ Nghiêm khẽ lắc đầu. Suốt ba mươi năm kề cận bên nhau chưa bao giờ Trần Kiều thấy Đỗ Nghiêm mệt mỏi như thế.

(Hết Hồi 13)

Share this post