Trong Vòng Tay Du Đãng (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 1.1

Trong Vòng Tay Du Đãng (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 1.1

TRONG VÒNG TAY DU ĐÃNG
* Tiểu Thuyết Phóng Tác Hoàng Hải Thủy
* Chiêu Dương xuất bản (Sài Gòn, 1970)
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com); https://vietmessenger.com

CHƯƠNG 1
1/1

Vụ án khởi đầu vào một buổi trưa hè nóng bức và nặng nề, dưới một bầu trời mây vẫn nặng nề u ám như đe dọa sắp có bão tố và sấm sét…

Mọi ngày, trên con đường Sài Gòn – Đà Lạt này, khi du khách từ Sài Gòn lên qua Định Quán đã thấy khí hậu mát mẻ, dễ chịu. Nhưng hôm nay trời nóng và oi bức đến nỗi càng lên cao người ta càng cảm thấy nóng và nghẹt thở.

Trên quốc lộ nối liền Sài Gòn và Đà Lạt, khi qua khỏi Định Quán được chừng hai mươi cây số, có một ngã ba. Con đường từ trong rừng đi ra đường cái làm thành ngã ba này là một con đường đất, xe hơi đi vừa. Đường này là đường riêng của những chiếc xe be chạy vào rừng chở cây về Sài Gòn. Ngay trên ngã ba đó có một cái quán nghèo nàn có tên là Quán Lá. Quán bán thức ăn phần nhiều là thịt rừng và rượu đế. Chủ quán là một ông già chán đời. Ông này thời thanh xuân đã từng làm bồi tàu biển đi sang Pháp, nấu bếp cho quan Thống sứ Pháp, làm đầu bếp cho nhà hàng lớn ở Sài Gòn, nay về già tới đó mở quán sống dưỡng già như một triết nhân chính hiệu không còn lý gì đến sự đời.

Ông có một cô con gái. Cô này năm nay đã mười bảy hoặc mười tám tuổi, thân thể nảy nở trước tuổi và là một đề tài cho các bác tài, chú lơ xe đò, xe be qua lại đường này để ý, bàn tán, gạ gẫm, quyến rũ. Cô gái này chắc sẽ không còn ở đây lâu nữa với bố già. Ông già cũng biết như vậy nhưng dường như điều ấy cũng không làm cho ông bận tâm mấy.

Bên cạnh Quán Lá, ông già còn đặt mấy cái thùng “phuy” bán và mua xăng dầu của những xe chạy ngang. Nhiều bác tài ăn cắp được xăng trong xe chủ đem đến đây bán, ông già bán lại số xăng đó cho các bác tài nào cần xăng với một giá rẻ, ăn lời chút đỉnh. Thân chủ của quán vì vậy hầu như chỉ toàn là tài xế xe đò và xe be. Họ dừng xe tại đây để ăn nhậu, để chờ đợi nhau, nghỉ ngơi và o bế cô quán.

Cô quán, với tuổi tác chỉ là một cô bé, nhưng một cô bé có bộ ngực và cặp mông đàn bà.

Buổi trưa trời nặng mây vần vũ, oi bức đó, có hai người khách lạ tới Quán Lá.

Họ tới trên chiếc xe hơi cũ, sơn đen, bám đầy bụi đất. Màu sơn của chiếc xe loang lổ làm cho chiếc xe có cái màu ở giữa màu đen và màu xanh đậm. Máy nó xọc xạch như chiếc xe chỉ muốn nằm dài “ăn pan” ở giữa đường.

Hai người đàn ông đi trên xe trông cũng tang thương, tả tơi, thê thảm không kém gì chiếc xe của họ.

Khi xe ngừng lại trước quán, chỉ có người đàn ông cầm lái xuống xe. Người đàn ông thứ hai ngồi bên nằm ngủ, đầu dựa thành ghế, miệng há hốc trông thật thảm hại.

Bái – người đàn ông lái xe – bước ra khỏi xe. Y thấp lùn, đáng điệu nặng nề, mặt vuông nhưng cái cằm lại nhọn trông vừa có vẻ ngu độn, vừa tàn nhẫn.

Một vết sẹo dài do dao găm gây nên nằm ngang trên gò má bên phải của Bái. Vết sẹo dao găm làm cho làn da ở má của Bái nhăn lại và kéo đuôi mắt y sụp xuống. Do đó, khi Bái nhìn ai, dù chỉ là một cái nhìn rất thường, người bị y nhìn cũng thấy sợ sợ như là khi bị y đe dọa hãm hại.

Chiếc xe bám đầy bụi đất và người Bái cũng trắng những bụi đất. Tóc y có bụi, và những sợi râu ria mọc tua tủa trên miệng y cũng vướng bụi. Y bận bộ quần áo tây nỉ xanh bạc phếch vì nhàu nát như là cả năm nay không được giặt ủi lần nào. Cổ áo vì hai tay áo sơ mi của y cáu ghét và sờn rách.

Bái có vẻ mệt mỏi và bực dọc, cáu kỉnh.

Đêm trước, Bái đã không được chớp mắt ngủ. Từ sáng đến giờ, y lại phải lái xe chạy dưới bầu trời nắng lửa và bụi mù. Tuy mệt vì buồn ngủ, y cũng không dám trao tay lái cho lão Tiến già nằm bên y vì y sợ để lão già hết đường này chạy xe, y sẽ tỉnh dậy trong chiếc xe dưới vực sâu. Lão Tiến không thể tin được, vì lão chắc chắn sẽ ngủ gục trên tay lái.

Bái ra khỏi xe, đứng khạc nhổ xuống đường. Y nhăn mặt khi cảm thấy miệng y khô và lưỡi y cứng lại vì bụi. Y quay lại nhìn tên bạn đồng đảng già đang ngủ không còn biết trời đất là gì đó với một vẻ bất mãn, khinh bỉ không cần giấu diếm. Y toan gọi song nghĩ lại, y mặc kệ và đi vào quán một mình.

Cô gái bán quán cười tình với Bái. Nụ cười đĩ thõa quen thuộc tự động nở trên môi nàng trước khi nàng kịp nhận rõ những nét hung bạo, tàn nhẫn và không có qua một chút cảm tình nào trên người ông khách lạ.

Bái là đàn ông không có ác cảm với đàn bà, nhất là với loại đàn bà dễ dãi có thể mua được bằng tiền như cô gái bán quán này. Nếu là ngày khác, y đã mỉm cười đáp lễ nàng và buông lời chọc ghẹo, tán tỉnh ngay, nhưng hôm nay y đang bực mình, đang cáu giận vu vơ, nên bộ mặt hãm tài của Bái vẫn giữ nguyên vẻ hầm hầm, dữ tợn.

Cô gái tươi tỉnh,vồn vã:

– Chào ông… Trời nóng quá hé ông? Mời ông ngồi… Gớm đêm qua nóng quá… cả đêm em không ngủ được.

Bái cấm cẳn:

– Rượu… Cả chai…

Bái lấy ngón tay đẩy cái nón nỉ ra sau gáy rồi rút chiếc khăn tay nhầu nát đưa lên trán lau mồ hôi.

Chưa chịu nhận là thất bại, cô quán còn nói:

– Hôm nay trời nóng, ông nên uống la-ve. Nhà em có la-ve lát xê, uống dễ chịu hơn là ba xi đế…

Bái ngắt lời nàng:

– Rươu… Lẹ lên. Có thịt nai cho hai đĩa…

Đến lúc đó cô ả vô duyên mới nhận thấy vẻ dữ tợn của cái mặt sẹo và con mắt nhăn nhăn hung bạo của ông khách lạ. Ả vội vàng để lên mặt quầy gỗ ọp ẹp một chai rượu và hai cái ly sứt miệng.

Bái xách chai rượu và hai cái ly tới ngồi ở một bàn trong góc, khuất nhất quán.

Y rót rượu vào ly và uống từng ngụm lớn. Hết trọn một ly đầy chất nước nóng bỏng thiêu đốt dạ dày. Y rót rượu vào ly và ngoảnh mặt nhìn ra đường.

Ả quán đi vào bếp nói với ông già dọn thịt rừng cho khách rồi trở ra. Thấy ông khách thản nhiên như không có mình ở đó, ả trề môi rồi móc từ dưới quầy lên một cuốn tiểu thuyết tình rẻ tiền cho mướn, chăm chú đọc.

Sau khi uống chừng ba ly rượu đế nặng nhất thiên hạ, Bái mới thấy đỡ khát. Y ngồi bật ngửa, dựa lưng vào thân cột tre sau lưng và bắt đầu suy nghĩ. “… Mẹ kiếp! Lâu quá rồi không làm được vố nào ra tiền… Rách quá… Hết nhẵn cả tiền, hết tiền thì chẳng làm sao còn có thể hào hoa phong nhã được… Muốn hào hoa phong nhã thì bắt buộc phải có tiền. Nếu Sơn gù nó không nghĩ ra được một áp phe nào hay, có lẽ mình đến phải làm một vụ cướp đường mất”.

Nghĩ đến Sơn, người bạn đồng đảng “quái” – tức là du đãng ăn trộm, ăn cướp của, hiện đang ở Sài Gòn – với chuyện cướp đường, bộ mặt của Bái nhăn nhó. Vết sẹo trên má y lúc thường đã làm cho mặt y nhăn nhăn thật đáng sợ rồi, giờ đây khi y nhăn hẳn hòi, trông lại kinh khiếp, rùng rợn.

Việc làm một vụ cướp đường đối với Bái lúc này, mặc dầu y đang túng tiền và đang sẵn sàng làm bất cứ việc gì để ra tiền, không có hào hứng gì. Vì hồi này bọn quái đã làm quá nhiều vụ cướp đường trên con đường này. Người đi đường bảo nhau và đọc báo thấy những vụ cướp xảy ra luôn luôn trên đường này đều đề phòng cẩn mật. Họ không mang nhiều tiền theo nữa, hoặc có bắt buộc phải mang tiền theo, họ cũng giấu diếm thật kỹ, cướp có tìm ra được hoặc có đe dọa được họ để bắt họ chỉ nơi họ dấu tiền trong xe cũng mất nhiều thì giờ.

Và việc mất thì giờ là điều tối kỵ đối với những tên cướp đường. Những xe cảnh sát và quân đội tuần tiễu lên xuống luôn luôn không cho phép cướp chặn xe đò quá lâu giữa đường. Cướp đường lúc này đã trở thành một trò làm ăn nguy hiểm, dễ chết mà lại không còn ra tiền. Bọn côn đồ như Bái đều là những tên nhát gan. Chúng chỉ dựa vào võ khí và đông người để dọa nạt những người dân làng không quen tự vệ và không có võ khí để tự vệ, nhưng chúng rất ngán đụng độ với quân đội hoặc cảnh sát võ trang.

Bái dù không muốn cũng vẫn phải nhìn cảnh lão Tiến già nằm ngủ mồm há hốc trong xe. Trời nóng hun đốt trong lòng xe hơi nóng như lò than, vậy mà lão già ăn hại này cũng vẫn ngủ được như thường. Đầu lão nghẹo qua một bén, trông lão như người chết rồi. Y nghĩ thầm “Anh già này không còn có thể làm được gì nữa rồi, kể cả việc lái xe cho mình ăn hàng. Lão chỉ còn biết ăn, uống và ngủ, nằm đâu là ngủ đấy… kể cả ngủ ngồi…”

Đúng như Bái nghĩ, trong nghề ăn cướp, lão Tiến già giờ đây giữ chân lái xe – gọi là “chá xế”, tức chân nhàn nhất, dễ làm nhất – cũng không xong. Lái xe cho những vụ ăn hàng, người lái phải bình tĩnh, gan dạ, liều lĩnh và lanh lẹ. Nếu người lái không có đủ điều kiện ấy thì chỉ có chết. Không phải chết một mình mà là chết cả bọn. Không phải bất cứ ai biết lái xe hơi cũng có thể “chá xế” cho quái ăn hàng được.

Nhận xét này về đồng đảng càng làm cho Bái thêm bực dọc. Làm ăn thì một ngày một thêm khó khăn, nguy hiểm, mà đồng đảng của y thì lại già nua gần như là vô dụng. Y thấy rõ là y phải nuôi báo cô lão Tiến già mà không thể nhờ cậy được gì. Y lại nghĩ: “Mình và Sơn gù phải cấp tốc nghĩ ra cách làm ra tiền bằng cách nào bây giờ?”

Mấy ly rượu mạnh làm cho Bái đói bụng.

Y kêu như sủa về phía cô quán:

– Nè… thịt rừng của người ta đâu?

Không cần đáp lời khách cũng chẳng cần nói gì thêm với bố già cho lễ độ đôi chút, ả quán kêu vào nhà trong:

– Thịt…

Hai đĩa thịt rừng được ông già bưng ra.

Không gọi bạn, cũng không có qua một ý nghĩ về bạn. Bái cầm đũa và gắp ăn ngấu nghiến, nhồm nhoàm. Vừa ăn, y vừa uống từng hớp rượu lớn. Một loáng sau,một đĩa thịt nai thui đã vơi cùng với nửa chai rượu.

Bắt đầu lửng bụng, Bái ăn uống chậm chạp hơn.

Có tiếng máy xe hơi chạy xọc xạch từ xa vẳng lại, Bái quay lại nhìn. Qua ô cửa sổ đục trong tấm liếp che đầu quán. Y thấy một chiếc xe “trắc xông” cũng loang lổ và già lão không kém xe của y, ì ạch chạy tới. Y chú ý hơn đến chiếc xe và người ngồi trong xe khi chiếc xe dừng lại trước cửa quán, ngay sau chiếc xe của y. Một người đàn ông mà y thấy có vẻ quen quen từ trên xe đẩy cửa bước xuống.

Bái nhận ra gã đàn ông đó. Y nghĩ thầm “Thằng Kính xi-măng, nó lò mò lên Đà Lạt chăng? Không biết nó đi có việc gì?”

Kính xi-măng có mái tóc điểm bạc, mái tóc bạc nghèo nàn, đói rách, hiện rõ vẻ lao lực, vất vả chứ không phải mái tóc hoa râm gợi cảm của những người đàn ông hào hoa, phong lưu. Gã trạc trên dưới năm mươi tuổi. Trước khi bước chân vào làng “quái” tức là kiếm sống bằng những nghề bất lương, y có thời đã làm trong một hãng xi-măng, nên y có cái biệt hiệu là Kính xi-măng, cái tên tục này rất hợp với con người Kính vì tánh gã keo bần, chỉ khoái ăn của người, ăn mà không bao giờ trả lại.

Bái và Kính xi-măng có quen biết nhau nhưng không thân.

Dân làng quái đa số đều quen biết nhau nhưng nếu không cùng chung bọn đã từng làm ăn với nhau, không bao giờ chúng tin nhau. Chúng còn đề phòng nhau hơn cả đề phòng người lạ. Vì bọn cùng nghề thường làm hại nhau và nguy hiểm với nhau hơn cả những kẻ làm cảnh sát. Bái thấy nhận xét đó đúng. Thực ra, đa số những vụ rắc rối, lo âu của gã từ trước tới giờ đều là do bọn quái đồng nghiệp gây ra chứ không phải do “cớm”.

Kính xi-măng xuống xe và khệnh khạng đi vào quán.

Trông thấy lão Tiến già nằm ngủ há hốc mồm trong xe và Bái ngồi một mình trước chai rượu với đĩa thịt rừng, Kính không tỏ vẻ ngạc nhiên chút xíu nào.

Gã cũng không tỏ ra vồn vã, mừng rỡ, gã chỉ giơ tay chào Bái:

– Rua bồ. Hồi này làm ăn khá không?

Bái trả lời mơ hồ:

– Vậy… vậy…

Y tiếp một câu không liên lạc gì đến câu vừa nói:

– Mẹ kiếp… nóng thấy mẹ…

Kính xi-măng đồng ý ngay:

– Ừa… nóng quá trời. Tới đây mà còn nóng như vầy không hiểu ở Sè Goòng trời còn nóng tới đâu…

Gã khệnh khạng đi tới bàn Bái ngồi và không cần Bái mời ngồi, gã khèo chân kéo cái ghế và ngồi xuống trước mặt Bái. Như vậy có nghĩa là gã tự tiện mở chầu ăn nhậu với Bái mà không cần có sự mời mọc của khổ chủ.

Đoạn đời làm tư chức của Kính xảy ra cách đây đã lâu lắm rồi. Kính bị đuổi ra khỏi sở cũng đã từ lâu lắm nhưng cái tên Kính xi-măng vẫn ở lại với gã. Trong thời gian gần đây, nhờ biệt tài biết rất nhiều đời tư của rất nhiều người, nhất là những người giàu tiền hoặc nổi tiếng, mặc dầu gã không hề được quen biết gì những người đó. Kính đã sống với nghề “điều tra viên” cho thầy bói Sáng đội lốt “chiêm tinh gia”. Một nghề mới toanh, khó tin nhưng có thật. Thời loạn cuộc sống con người trở nên bấp bênh, người ta sống nay, chết mai, những gia sản dựng lên và mất đi thật mau chóng. Do đó con người thấy tương lai mình mịt mù và luôn luôn bị đe dọa, luôn luôn lo sợ, người ta phải tìm đến nhờ cậy những gì mà người ta tin là huyền bí, siêu hình.

Những người làm nghề bói toán lợi dụng lòng mê tín, kinh sợ tương lai của người  đời, người giàu muốn được giàu hơn và lo sợ trở lại nghèo, kẻ nghèo sợ sẽ còn nghèo hơn và muốn trở thảnh giàu có v.v… sống ung dung nhờ biết khai thác điểm tâm lý đó của người  đời. Có một số thầy bói giảo hoạt và khéo tổ chức hơn các đồng nghiệp, sau khi làm ăn mãi ở Sài Gòn thấy hết khách bèn làm những cuộc viễn du đến những tỉnh xa.

Thầy bói tới mỗi tỉnh ngụ tại khách sạn lớn nhất tỉnh hoặc mướn nhà người quen, treo bảng coi bói. Thầy có một số đàn em đi điều tra đời tư của những người giàu tiền nổi tiếng ở trong thị xã. Nếu những người này tới coi bói tức là “thầy” trúng mối nói trúng phong phóc.

Trong số những điều tra viên đắc lực nhất của lão thầy bói Sáng có Kính xi-măng. Kính có biệt tài dò hỏi về đời tư của kẻ khác. Gã chỉ cần vào nằm trong một tiệm công yên – tức là tiệm hút thuốc phiện – của tỉnh là có thể biết được gần hết về đời tư cùng gia đình, công ăn việc làm của những người  nổi tiếng trong tỉnh.

Gần đây, Kính xi-măng còn cộng tác với người khác, mở một sở Điều Tra Tư chuyên cung cấp tin tức và tài liệu cho những cặp vợ chồng muốn ly dị nhau hoặc những người muốn cưới nhau. Nhưng việc kiếm tiền nhiều nhất của Kính, việc làm nuôi sống của Kính là việc gã điểm chỉ cho bọn côn đồ và những nhà giầu tiền để bọn côn đồ tổ chức đánh cướp.

Chẳng hạn như Kính có thể chỉ rõ ngày giờ một viên quản lý hãng tư ra Ngân Hàng lãnh tiền về trả lương cho công nhân, số tiền đúng là bao nhiêu, đường nạn nhân đi về v.v… họa đồ cả một villa đủ các phòng và chỗ có két bạc, v.v… Bọn quái chỉ cần theo đúng những chỉ dẫn của Kính để đánh cướp, Chúng có thể mua những tài liệu đó của Kính hoặc đánh cướp xong về chia tiền cho Kính.

Không ai có thể hiểu tại sao Kính xi-măng biết nhiều như vậy. Có điều là gã làm ăn cũng khá thận trọng, những gì gã cung cấp cho bọn quái không mấy khi sai và gã vẫn chưa bị mang tiếng là bầy đặt ra “tuy dô” để bán lấy tiền.

Kính xi-măng cũng như đa số dân quái khác là một cây cờ bạc. Gã rất mê đánh cá ngựa. Nếu gã không có việc phải đi xa hoặc phải “nằm ấp” tức là đi ở tù trong khám, chiều Chủ nhật nào người ta cũng thấy có mặt gã ở trường đua Phú Thọ.

Theo đúng thông lệ “ăn uống gỡ gạc không can được mời”. Kính điềm nhiên rót rượu vào ly uống và cầm đũa gắp thịt ăn ngon lành.

Vừa nhồm nhoàm gã vừa nói:

– Nóng, nóng thật. Đêm qua moa dự tiệc cưới trong một đồn điền ở Bảo Lộc. Nóng chảy mỡ ra… Trời nóng như vầy là đêm tân hôn cô dâu, chú rể hết cả hứng.

Bái tuy không mời nhưng cũng không tỏ vẻ khó chịu khi thấy Kính xi-măng ăn gỡ. Có lẽ bây giờ Bái đã no rồi và khi no bụng, người ta thường dễ dãi và bớt giận đời như lúc đói. Thấy Bái không nghe chuyện mình, Kính hỏi:

– Còn toa, Bái? Hồi này làm ăn ra sao?

Bái lắc đầu:

– Từ nhiều tháng nay cóc làm được vố nào ra hồn. Nguy lắm…

– Nản vậy sao…

Bái châm một điếu Bastos, hít vào một hơi dài và thở khói xanh um lên không gian nặng và nóng.

Một con nhặng xanh bay qua bị vướng vào vùng khói thuốc lá. Chắc chất khói rất hôi hám với con nhặng cho nên nó vội vã vỗ cánh bay ra xa.

Như thấy cần phải đưa ra vài “tuy dô” đền bù lại Bái bữa nhậu thịt rừng này, Kính xi-măng vừa ăn vừa nói với giọng bí mật:

– Có muốn làm cú này không? Chớp tiền lương của bọn làm cây gần đây… Cách đây lối ba mươi cây số và có thể thâu một khoảng lối ba trăm ngàn…

Bái tưởng tượng ra cuộc sống của những lao công làm nghề đốn cây trong rừng. Bọn họ đông mà bọn gã thì chỉ có hai người. Gã và Sơn. Lão Tiến già ngoài kia không được kể. Hai lên côn đồ bịt mặt với hai khẩu súng lục không thể đe dọa và đàn áp nổi cả trăm lao công khỏe mạnh, gan lì, biết xử dụng dao búa. Những người chỉ huy đám phu chặt cây lại có võ khí tùy thân hoặc được chính quyền địa phương cho binh sĩ theo bảo vệ. Không thể đánh cướrp được bọn họ, nhất là bọn gã thì lại càng không thể…

Bái gạt đi:

– Thôi đi cha. Xúi người ta đi lấy tiền của bọn chặt cây để mà tịch à? Mẹ kiếp, có còn cách nào xúi con ông cụ đi tự tử lẹ hơn nữa không?

Kính xi-măng trợn mắt như người kinh ngạc nhất đời. Gã bào chữa cho tuy dô của gã, cùng lúc ấy gã vẫn ăn nhậu như máy. Bữa ăn giữa đường này chẳng ngon lành gì nhưng Kính có tật ăn lấy được, người nào càng không mời gã, càng tỏ ra lệnh nhạt với gã, gã ăn càng ngon càng khoải vì càng ăn nhiều. Suốt thời gian ấy, Tiến già vẫn há hốc mồm ngủ ngoài xe.

Bái hỏi một câu cho có chuyện:

– Toa lên Đà Lạt?

– Ừa… Moa lên dự một đại hội tổ chức tại Đà Lạt. Mẹ kiếp… phú quới sinh lễ ngãi. Bọn nhà giầu sướng thật, động một tí là tiệc tùng linh đình. Dường như chúng chỉ lo không có dịp để mà tiêu tiền…

– Ai tổ chức?

– Tạ Phong.

– Tạ Phong là ai?

Dư biết Kính xi-măng chỉ là một anh phóng viên xoàng, tuy đi xe hơi nhưng xe của y chỉ là một chiếc cũ nát, có bán rẻ cũng chẳng ai thèm mua. Bái không chú ý lắm đến nhũng lời Kính nói, và Kính cũng chỉ nói câu chuyện làm quà vì chẳng lẽ gặp nhau, ăn chực của Bái mà lại lầm lì không chịu nói gì, cũng ngượng:

– Tạ Phong? Tạ Phong là ai? Hả?

Kinh trố mắt nhìn Bái như một kẻ vừa từ thâm sơn cùng cốc nào về nói chuyện với y:

– Ở Sài Gòn mà không biết tiếng Tạ Phong… thì chết rồi. Mán quá… Nếu bây giờ tôi hỏi anh… chú Hỏa là ai, ông Bá hộ Sường là ai? Anh có biết không?

Thấy bị Kính chê là “quê”, Bái bực mình :

– Mẹ kiếp… Chú Hỏa với ông Bá hộ Sường thì ai mà không biết…

– Thì người Sègòong bây giờ có bổn phận biết đến nhà tỷ phú Tạ Phong… Ông này mời nổi tiếng từ sau năm 1945 tới nay… Giàu kinh khủng… Ổng làm chủ nhiều đồn điền cao su, cà phê và cả một hãng tàu biển chạy đương ngoại quốc… Người ta nói gia sản của lão tới mấy ngàn triệu…

Bái cười mỉa mai:

– Đâu đã nhiều bằng thằng này… Gia sản của thằng Bái có tới vài trăm bạc lận.

Rồi Bái hỏi như sủa vào mặt Kính:

– Bộ lão nhà giàu ấy là bạn thân của anh sao? Tại sao hắn phải mời một thằng đói như anh đến dự tiệc? Nếu quả thật lão giàu tiền như anh vừa nói thì lão thiếu gì bạn bè? Thằng nào mà giao du với anh là thằng đó tới ngày tàn.

Kính gân cổ cãi:

– Cóc cần phải lão mời cá nhân tôi đến dự tiệc vui mà là mời tờ báo có tôi làm phóng viên. Tôi có nhiệm vụ tới dự dạ hội rồi về viết bài đăng báo. Lão Tạ Phong là thần tượng của thằng cha chủ báo tôi, lão biểu gì mà anh chù báo tôi chẳng làm… Không chừng lão đó là người cho anh chủ báo tôi vay tiền làm vốn để ra báo lắm ạ. Vì vậy tôi thấy anh chủ tôi sốt sắng với lão lắm… Anh chủ báo tôi là một cây tham tiền, chỉ biết có tiền, mù mịt về tình nghĩa. Hắn không làm việc gì mà không ra tiền, không có lợi cho hắn bao giờ.

Thấy Bái không nói gì, Kính kể lể như người tự nói chuyện với mình:

– Kỳ này… đại ký giả kiêm phóng viên Văn Kính… tuổi già, tài thấp này lên Đà Lạt dự dạ hội mừng tiểu thư Bạch Lan, thành niên hai mươi mốt tưổi, thể nào tỷ phú Tạ Phong chẳng phát cho đại ký giả Văn Kính vài bó mang về… Mẹ kiếp… các cụ nói “phú quý sinh lễ nghĩa” chẳng sai tí ti ông cụ nào. Nhà nghèo cơm áo không có đủ thì con gái có đi lấy chồng cũng chẳng có gì. Nhà giàu thừa tiền thì con gái vừa đến tuổi thành niên đã làm tiệc tùng mời cả nước đến đớp. Cái đinh của dạ hội này sẽ là chuỗi kim cang của tiểu thư. Nghe nói tinh theo thời giá, chuỗi kim cang đó phải đến năm triệu đồng… Năm triệu đồng chuỗi hạt xoàn được trao cho cô ái nữ đêm nay, sau buổi tiệc mừng sanh nhật. Chắc chắn nó là chuỗi hạt xoàn đắt giá nhất nước ta. Giá mà mình chớp được vài hạt. Mẹ kiếp chỉ vớ được hai hạt xoàn đó thôi, cũng có vốn làm ăn no đủ suốt đời.

Những tiếng… “chuỗi kim cương, hạt xoàn trị giá năm triệu đồng” thốt từ cái miệng móm của Kính xi-măng vang vang đập vào nhĩ tai Bái. Y ghi nhận ngay sự kiện tối nay, sau lễ ăn mừng sanh nhật năm thứ hai mươi mốt tuổi, nhà tỷ phú Tạ Phong sẽ trao cho cô con gái quý chuỗi kim cương đắt giá nhất Việt Nam, năm triệu đồng. Bái nghĩ đến chuyện y cướp được chuỗi hạt xoàn quý báu ấy. Cướp được và không cần bán chỉ cần cho khổ chủ tức là nhà tỷ phú Tạ Phong chuộc lại y cũng có ít nhất là hai triệu đồng bạc!

Bái nghĩ thầm: Năm triệu đồng! Lớn quá… Không biết Sơn gù nó có dám liều cùng mình làm cú này không?

Bái nhìn qua khung cửa sổ ra xe, lão Tiến vẫn ngủ miệng hả hốc – “Chỉ có thể trong cậy vào Sơn gù thôi, Sơn và mình sẽ lã hai thằng làm vụ này, lão già vô dụng kia là vứt đi rồi…”

Bái chợt ngừng suy nghĩ để hỏi:

– Dạ hội tối nay được tổ chức ở đâu? Ở nhà riêng của lão Tạ Phong hay là ở khách sạn nào?

Đang ăn nhồm nhoàm, Kính đáp:

– Nhà riêng… Rồi tiểu thư tới khách sạn tiếp riêng các bạn. Ở biệt thư Bạch Lan thì có mặt Tạ Phong cùng những vị tiền bối. Trao nhận chuỗi kim cương xong thì cô Bạch Lan đến khách sạn Như Hoa. Ở khách sạn chỉ có các bạn của cô ả, tức là toàn những cô cậu trẻ tuổi…

Bái hỏi bằng một giọng cố tình làm ra vẻ không chú ý:

– Cô ả mang theo chuỗi kim cương chứ?

– Chắc vậy. Chuỗi hạt xoàn đó là của gia bảo của nhà họ Tạ mà. Một khi cô ả đó đã mang chuỗi hạt vào cổ, đời nào ả chịu bỏ ra cất đi ngay.

Bái trề môi:

– Anh thì biết quái gì… Chỉ nói tếu…

Kính xi-măng trợn mắt:

– Ơ hay… tôi nói dóc anh làm quái gì? Tôi mà không biết thì còn ai biết nữa. Dạ hội này được tổ chức chu đáo lắm mà. Có chương trình gửi trước cho tân khách đàng hoàng. Chương trình có ghi rõ cả chuyện trao nhận chuỗi kim cang kia mà.

– Độ mấy giờ thì tiểu thư Bạch Lan tới khách sạn Như Hoa?

– Khoảng nửa đêm…

Kính chợt ngừng nói và cũng ngừng cả ăn, gã nghi ngờ nhìn Bái:

– Không được đâu.

Bái nhíu mày:

– Không được cái gì?

– Toa không có ý định làm liều… chớp chuỗi kim cang của nhà họ Tạ đó chứ? Có… không?

– Chẳng có chẳng không gì hết.

Bái vẫn thản nhiên:

– Thấy chuyện hay hay thì hỏi chơi, không được à?

– Hỏi thì được nhưng nếu anh ôm mộng làm cú kim cang này thì không xong đâu. Chỗ anh em nói thực… chúng mình có đủ sức cướp một mối khác… Riêng vụ nhà tỷ phú Tạ Phong thì thực tình tôi khuyên anh đừng đụng vào…

Kính xi-măng – cũng như tất cả những anh làng “quái” ở cõi đời này – rất ít khi chịu tốn công, mất sức lao động khuyên bảo ai điều gì, nhất là lại khuyên ai làm điều thiện. Vì vậy giờ đây khi cất tiếng khuyên Bái đừng đụng vào chuỗi kim cương, thật bụng y nghĩ loại “quái” hạng áp chót – nghĩa đen là “cướp cạn” – cỡ Bái không đủ sức lấy cướp được chuỗi hạt xoàn đắt tiền đó. Kính thường cho bọn “quái” những “tuy đô”, tức là những nguồn tin mật để làm ăn, nhưng mỗi lần như vậy, gã đều được bọn “quái” chia tiền, lấy sau hoặc là lấy tiền liền ngay khi gã cho tin.

Kính nói thêm một câu rất thừa:

– Đừng chơi dại. Đớp vào cú đó không những chẳng ăn cái giải gì mà còn gãy hết răng nữa lận… Đói thì chờ đó, moa sẽ cho vài cái “tuy dô” mà làm…

Bái cười nhe hàm răng trắng nhởn.

Kinh nhìn rõ hàm răng đó của Bái và nghĩ rằng khi cười, Bái trông như một con chó dữ khi chó nhe răng:

– Đừng có lo.

Bái hạ giọng nói để cho cô gái bán quán đứng gần không nghe rõ. Cô này mang một đĩa thịt rừng mới tới gần bàn.

– Tôi dư biết vụ nào tôi có thể làm được và vụ nào không làm được. Mẹ kiếp, nếu thằng này không khôn, không ngoan, làm sao thằng này còn sống được đến bây giờ.

Có gái bán quán giật nẩy mình khi Bái đột ngột hỏi như sủa vào mặt cô:

– Bao nhiêu?

Cô giá lí nhí nói giá tiền, Bái móc ví. Kính xi-măng phản đối:

– Đi ngay à? Làm cái gì mà vội vàng quá vậy! Ăn cho xong hãy đi chứ.

Bái gạt đi:

– Yên trí mà, cứ ăn đi, tiền trả rồi, còn lo gì nữa?

Sư vội vàng đột ngột của Bái làm cho Kính nghi ngờ, nhưng gã nhíu đôi lông mày rậm nhìn theo Bái ngồi vào chiếc xe bám đầy bụi chứ không nói thêm gì hết.

Bái mở máy. Động cơ xe lâu không được ăn dầu phát lên những tiếng khọt khẹt cùng nhả khói đen ra khét lẹt.

Tiếng máy xe lọc cọc làm cho lão Tiến già choàng tỉnh. Lão hốt hoảng:

– Vô ăn cái gì chứ? Đói quá rồi?

Lão nhướng cặp mắt hấp háy nhìn vào quán ăn và nhìn Bái với tất cả hy vọng của lão, nhưng lão thất vọng ngay khi Bái thản nhiên:

– Có tiền không? Có tiền mới vô, không có gì phiền hết.

Tiền là một cái gì mà lão Tiến không có trong lúc này, lão biết là Bái đã vô quán ăn uống no say trong khi lão ngủ vùi vì quá mệt. Bái làm như vậy là tồi tệ nhưng lão cũng không dám phê binh gì, lão đành thở dài và cố ngủ để quên cái đói cào cấu gan ruột.

Nắng ban trưa hun hút đốt làm cho lòng cái xe hơi cũ nóng rực. Ngồi vào xe Bái có cảm giác như khi y ngồi vào một chiếc chảo rang đang đặt trên lò than hồng.

Y vội vã cho xe chạy để lấy gió mát thổi vào xe. Y cho xe thẳng đường về Đà Lạt.

Trong khí đó lão Tiến than thở:

– Sao hồi mày tụi mình lại đói quá vậy Bái? Không lúc nào tôi thấy bọn mình có tiền cả…? Sao vậy? Từ bao nhiêu năm nay có bao giờ chúng mình lại đói như vậy đâu? Tôi nghĩ thì có lẽ vì thằng Sơn nó không chịu đi làm ăn chung với anh em, nó cứ nằm rịt ở nhà với con điếm ấy.

Bái ngắt lời:

– Im đi, để cho người ta suy nghĩ.

Hai tiếng đồng hồ sau chiếc xe bám đầy bụi đất đưa hai tên “quái” hạng áp chót vào thành phố Đà Lạt. Bái lái xe thẳng tới Nhà Bưu Điện. Ở đây, y có thể gọi điện thoại thẳng về Sài Gòn cho đồng lõa của y là Sơn có biệt hiệu là Sơn gù.

Sơn ngụ trong một khách sạn có điện thoại lên tận phòng riêng.

Tuy nhiên Bái cũng phải vất vả, mất công mãi mới gọi đúng số máy điện thoại trong phòng riêng của Sơn.

Bái nghe tiếng Sơn trả lời nhưng cùng lúc ấy có tiếng nhạc radio vang vang. Bái định kể cho Sơn nghe nguồn tin về chuỗi hạt xoàn trị giá nhiều triệu bạc mà y vừa nghe được nhưng y ngừng lại và nói:

– Không nghe rõ hả? Mở radio ầm ầm vậy làm sao nghe rõ được?

Tiếng Sơn đáp:

– Chờ chút…

Bái nghe qua máy điện thoại thấy tiếng radio tắt đi rồi tiếng phản đối của Tuyết Nhung, người đàn bà hiện chung sống với Sơn – cô này tự nhận là nữ ca sĩ và ôm mộng nổi tiếng với nghề diễn viên điện ảnh – Bái nghe rõ cả tiếng chửi thề của Sơn rồi tiếng một cái tát khá ròn. Bái lắc đầu chán nản. Cặp nhân tình Sơn – Tuyết Nhung suốt ngày đánh nhau rồi lại làm tình với nhau, y thấy hai tên đó sống không khác gì súc vật.

San trở lại máy điện thoại:

– Xong rồi. Có chuyện gì nói đi Bái…

Hơi nóng cùng nắng rừng và con đường leo dốc làm cho Bái khó chịu gần như hết nổi, y càng bực mình hơn khi thấy Tiến già lại ngủ. Y nghĩ thầm “Cái thằng già này ngủ khiếp thật… Ngủ dai dữ à. Mình có phải là mọi của nó đâu mà cứ lái xe hầu nó mãi như thế này?”

Mặc dầu không dám trao tay lái cho lão Tiến vì sợ lão run tay cho xe lao xuống ruộng, Bái cũng thúc mạnh cùi chỏ vào mạn sườn lão Tiến:

– Thức dậy…

Tiến già choàng dậy:

– Chi vậy? Thức làm chi?

Bái không thèm trả lời lão, y đang nghĩ qua chuyện khác. Y vừa lái xe vừa đốt một điếu thuốc lá. Tiến già nghiện thuốc lào, lão có đem theo một ống điếu “pọt-ta-típ” nhưng xe phải ngừng lão mới có thể xử dụng cái ống điếu đó được.

Bái nghĩ đến chuyện rất có thể nhiều tên quái khác cũng biết nhiều về chuỗi kim cương – nếu Kính xi-măng đã biết tức là phải có nhiều người biết – rất có thể là đã có nhiều tên quái tụ tập tới Đà Lạt để làm vụ này, nhất là khi tin chuỗi hạt xoàn bị cướp đoạt, bọn quái sẽ cùng với Cớm kéo đi lùng với hy vọng cuỗm tay trên… Làm vụ này, bọn chúng sẽ có rất nhiều kẻ thù, không biết Sơn có đủ tư cách để chống cự tất cả đến lúc có tiền hay không?

– Mẹ kiếp… nắm ôm con đĩ cả ngày… rồi lấy tiền ở đâu mà thanh toán tiền phòng, tiền ăn…? Ra Nhà Băng lấy tiền hả?

Sơn cũng chửi thề đáp lễ:

– Mẹ kiếp… nóng chết cha chết mẹ đi… Mày gọi về nói gì với tao hay chỉ cót để chửi tao mấy câu?

Bái hạ giọng:

– Nghe tao nói cho rõ đây… Tao gọi về cho mầy ở phòng điện thoại công cộng, không thể nói hơn được… Rõ chưa?

– Rồi, nói đi…

– Chúng mình có dịp làm ăn với một chuỗi hạt xoàn đắt giá lắm lắm… mày phải cấp tốc lấy vé riêng lên Đà Lạt ngay bây giờ, mình tao với lão Tiến ăn hại cóc có thể làm nổi vụ này… Chuỗi hạt xoàn của con gái nhà tỷ phú Tạ Phong trị giá năm triệu đồng…

– Mày nói bao nhiêu? Mấy triệu?

– Năm triệu đồng…

Số tiền đó làm cho Sơn như tỉnh người lại:

– Thật ư? Tao đi ngay. Mẹ kiếp… còn chờ gì nữa…? Mày đợi tao ở quán mụ Ốm, như mọi lần… Chờ tao lên tới hãy bàn…

Bái trả ống nói lên giá máy. Hai tay y run run. Y xúc động mạnh. Dù sao đi nữa, Sơn cũng vẫn là người mà y cần có mới có thể làm được vụ cướp lớn này, và Sơn, tuy hồi này có lười đi nhưng cũng còn đủ sốt sắng. Nếu có Sơn và nếu chúng có một chút may mẵn, chút thôi không cần nhiều lắm, phen này chúng sẽ có nhiều tiền.

Y đi trở ra chỗ đậu xe, Tiến đưa cặp mắt lờ đờ mệt mỏi lên nhìn:

– Đi đâu bây giờ?

– Về quán mụ Ốm chờ Sơn gù, nó sắp lên tới.

– Bọn mình sắp có việc làm hả? Về quán mụ Ốm cho tôi ăn uống tí gì vời chứ?

Đôi mắt ướt của Tiến sáng lên khi lão nghe Bái vui vẻ đáp:

– Ô kê… về đó anh muốn đớp gì thì đớp…

(Còn tiếp Chương 1)

Share this post