Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 16

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 16

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 16
TỔNG THỐNG THIỆU TỪ CHỨC

Thứ Hai 21 tháng Tư năm 1975

Sài Gòn bắt đầu nhúc nhích và có hành động. Tổng Thống Ford với lý do cấp bách của tình hình, đã đòi hỏi Quốc Hội Mỹ công bố các đề nghị viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam “trước ngày 19 tháng 4”. Nhưng, bất chấp hạn định do Hành Pháp yêu cầu, các nhà Lập Pháp Hoa Kỳ tiếp tục trì hoãn trả lời. Báo chí Sài Gòn đã công khai nói đến việc Mỹ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam. Trong lúc quân đội Miền Nam dựa lưng vào tường để chiến đấu, đang cần phương tiện để nuôi dưỡng và yểm trợ cho cuộc chiến, thì sự triển hạn bỏ phiếu của Quốc Hội Mỹ kể như một sự “phản bội” đồng minh thật sự. Người dân Việt Nam nói là “người Mỹ đang tái diễn hành động của họ ở Phnom Penh (Campuchia), trước hết là cắt viện trợ, sau đó là sẽ rút đi”.

Thành phố Sài Gòn đầy rẫy tin đồn: Hoa Thịnh Đốn đã quyết định tiến hành nhanh chóng cuộc hành quân di tản công dân của họ. Một công điện của Bộ Ngoại Giao sẽ được gởi đến đại sứ Graham Martin để ra lệnh phải thi hành sớm cuộc hành quân này.

Nhưng những chuyến di tản đầu tiên đã thực hiện từ ngày 10 tháng 4, khi hầu hết xí nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Hàng không, công ty xăng dầu và các công ty có những công tác lớn) đã quyết định cho hồi hương cán bộ, nhân viên của họ. 2000 người Mỹ và 6000 người Việt (chuyên viên kỹ thuật và gia đình) đã được đi sang Hoa Kỳ.

Trong tuần lễ từ 14 đến 20 tháng 4, các phi cơ vận tải khổng lồ thuộc cầu không vận quân sự của Ngũ Giác Đài, chuyển quân dụng thay thế cho quân đội Miền Nam (2 liên đội pháo binh, một số cao xạ phòng không và 2 tiểu đoàn chiến xa) lượt về sẽ được sử dụng để chở người tỵ nạn. Các phi cơ có thể chở nhiều người, như Galaxie, Starfighter, Hercules sẽ bốc khoảng 20.000 người Việt Nam tỵ nạn và 2000 người Mỹ trong 6 ngày. Nhưng vẫn còn hơn 5000 người Mỹ ở Sài Gòn, và Bộ Ngoại Giao ước tính có khoảng 130.000 người Việt Nam mà “tánh mạng bị cộng sản đe dọa” cần được di tản. Như vậy số người cần được bốc đi không nhỏ.

Hồi 1 giờ trưa, tôi nhận được một điện tín của hãng thông tấn UPI loan báo Xuân Lộc đã thất thủ. Tin này ở đâu ra? Tôi mới ở Xuân Lộc chỉ vài giờ trước, lúc đó binh sĩ còn giữ chặt vị trí của họ… Dù sao tin này đã được tung khắp thành phố như một dây thuốc pháo gây một cú sốc tinh thần cho dân chúng.

Nếu đúng cộng sản Bắc Việt đã chiếm Xuân Lộc thì tình thế thật là nghiêm trọng. Chiếm được một giao điểm quan trọng trên quốc lộ và tập trung lực lượng ở một nơi chỉ cách thủ đô Sài Gòn có 50 cây số, cộng sản Bắc Việt sẽ có khả năng tiến nhanh về Vũng Tàu ở phía Nam và về Biên Hòa ở phía Tây. Nếu chiếm được Vũng Tàu thì họ sẽ cắt đứt đường lui duy nhất còn lại của Sài Gòn để ra biển, Nếu chiếm được Biên Hòa, họ sẽ vô hiệu hóa một trong hai căn cứ Không Quân sau cùng của miền Nam Việt Nam và đặt Sài Gòn trong tầm pháo binh nặng của họ.

Tôi liên lạc được bằng điện thoại với đại tá Xuân ở phòng nhì. Ông ta xác nhận:

Xuân Lộc chưa bị mất, nhưng từ 10 giờ sáng nay cộng sản đã cày nát thành phố điêu tàn này bằng đại pháo 130 ly với nhịp độ 2000 quả trong một giờ. Để tránh thiệt hại quá nặng về nhân mạng, Bộ Binh của tướng Đảo và Biệt Động Quân đã di tản khỏi đống gạch vụn này để ra bố trí quanh thành phố. Phòng tuyến chưa bị chọc thủng, chiến trận còn đang tiếp diễn, liên lạc vô tuyến chưa bị gián đoạn. Tất cả phi cơ đều sẵn sàng bay lên để thay phiên nhau nện các đoàn quân cộng sản đang di chuyển.

Hai ngàn đạn đại bác 130 ly trong một giờ! Tôi hiểu tại sao binh sĩ phải bỏ hầm trú ẩn. Cả một biển lửa ập xuống thành phố điêu tàn, đó là câu trả lời của cộng sản Bắc Việt đối với mấy trái bom CBU được thả xuống đêm qua!

Xuân Lộc còn giữ được ý nghĩa theo ngôn ngữ Việt Nam là mùa xuân hạnh phúc hay không?

oOo

Bắt đầu buổi trưa, tôi đi thăm bà Ngô Bá Thành, một phụ nữ nhỏ con sống trong một biệt thự khiêm nhường ở trung tâm thủ đô, bên cạnh dãy nhà của những người Pháp và thuộc khu vực do tòa đại sứ Pháp bảo vệ như ghi trên những tấm yết thị mới dán ở ngoài. Là nữ mưu sĩ của “lực lượng thứ ba“, bà tiếp khách thường xuyên ở ngoài vườn, nhất là các nhà báo ngoại quốc. Bà đỗ ba bằng tiến sĩ Luật (Pháp, Hoa Kỳ và Bồ Đào Nha), nói được nhiều ngoại ngữ, là chủ tịch Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, tham gia vô số tổ chức dân sự, tôn giáo, nghề nghiệp, từ Tổ Hợp 36 Chợ Sài Gòn đến Phong Trào Chống Tham Nhũng, dự định sẽ ngồi giữa Chính Phủ Lâm Thời CHMN và chính quyền Sài Gòn trong Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc được dự trù trong Hiệp Định Ba Lê. Là đối thủ hăng say của Tổng Thống Thiệu, khiến phải 4 lần vào khám, bà Thành hiện bị quản thúc tại gia. Báo chí Mỹ trong những tháng gần đây lên tiếng ồn ào về vấn đề “giải phóng phụ nữ” của bà, đã cho biết là bà đang bị giám sát nghiêm ngặt. Tuy thế, con trai bà, một thanh niên cao lớn, tóc để dài, là lính đào ngũ vẫn sống tại nhà từ nhiều tháng qua mà không sợ gì cảnh sát hết… Là con gái của một nhân sĩ miền Bắc, chồng là bác sĩ thú y dễ dãi, trầm lặng, bà Thành là một người tranh đấu tiến bộ, quả quyết, ương ngạnh. Bà nói với tôi:

– Thiệu đã ở thế cùng rồi. Số phận của ông ta được tính từng giờ. Ông ta dựa vào Mỹ và quân đội. Mỹ đã bỏ rơi ông ta và quân đội tan rã rồi. Sĩ quan và binh sĩ đã chán ghét ông ta. Có lẽ ông ta không biết là các binh sĩ ưu tú –  Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến – có nhiệm vụ bảo vệ nơi chôn nhao cắt rún của ông ta gần Phan Rang, đã nổi dậy, dùng chất nổ phá tan mồ mả của gia đình ông ta. Việc phá nát mộ phần cha mẹ ông bà của ông ta là một chối bỏ nghiêm khắc đối với Thiệu và tất cả những gì ông hiện đang nắm giữ. Ở Việt Nam, nơi mà sự thờ cúng ông bà là nền tảng tín ngưỡng của chúng tôi, không có sỉ nhục to lớn và nghiêm trọng nào bằng sự xúc phạm như thế. Đó vừa là lời nguyền rủa, vừa là sự khinh bỉ cùng cực và tác hại vô kể. Còn Kissinger, thì mới chiều hôm qua, đã tuyên bố một câu ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa: “Hoa Kỳ chúng tôi ủng hộ một chính phủ Miền Nam Việt Nam, nhưng không ủng hộ riêng một cá nhân nào”. Quá rõ rồi phải không? Hơn nữa, những ngày sau cùng này, đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin và đại sứ Pháp Jean Marie Mérillon đều ép ông Thiệu rút lui, nhường chỗ cho người khác có khả năng chận đứng được chiến cuộc.

Ông Ngô Bá Thành mời khách dùng trà trong những chiếc ly đẹp màu xanh với cử chỉ chậm rãi như các bà, không hề nói tiếng nào. Vợ ông mặt rạng rỡ, cặp mắt sáng ngời, tiếp tục luận điệu của bà:

Ông Thiệu bao giờ cũng chỉ biết nghĩ đến tương lai qua một cuộc chống trả cực đoan và một chiến thắng quân sự. Sự tan rã của quân đội ngay tại chiến trường đã dứt khoát lên án ông. Ông cứ khư khư tin rằng Mỹ không bao giờ bỏ rơi ông. Ông không để ý tớí những thay đổi đã xảy ra ở Mỹ. Từ hai năm nay, dân chúng Hoa Kỳ đã gạch bỏ hai chữ Việt Nam rồi. Quốc Hội đã từ chối bỏ phiếu cho mọi viện trợ quân sự và đã gạt hẳn ra ngoài việc cho phép tái can thiệp bằng võ lực. Ông Ford là Tổng Thống chỉ định chớ không do dân bầu nên không đủ phương tiện để giữ lời hứa của ông Nixon được. Còn Kissinger hả? Ông ta là con người rất thực tế nên đâu có dại để khư khư bênh vực khi đã nắm phần thua? “Quân đội nhân dân giải phóng” chỉ còn cách Sài Gòn không đầy một tiếng đồng hồ. Hoa Thịnh Đốn dư biết là thêm vài trăm triệu mỹ kim, vài trăm chiến xa hay đại bác nữa đâu có cứu được nước Việt Nam của ông Thiệu? Nhiều lắm là nó chỉ có thể kéo dài giây phút hấp hối của một kẻ sắp chết mà thôi…

Bà đưa chỉ ngón tay trỏ vào tôi, giọng như đổ lỗi:

– Các nhà báo Pháp của anh, ngoại trừ các phóng viên của tờ Le Monde, đều không biết làm công việc của họ. Phải đập ông Thiệu. Phải tố cáo các tội sát nhân của ông ta, tố cáo chế độ cảnh sát trị của ông ta. Các anh phải giúp chúng tôi mở cửa các nhà tù đang nhốt 200.000 tù nhân chính trị. Hơn thế nữa, các anh không đặt nặng tầm quan trọng và chỗ đứng cho “lực lượng thứ ba” chúng tôi. Lực lượng này có thực, các anh phải thấy rõ là nó có vai trò chính trị quan trọng ở đất nước chúng tôi trong một tương lai rất gần đây. Ngay những người cộng sản cũng nhìn nhận là họ phải nghĩ đến chúng tôi!

Thưa bà, các nhà báo Pháp chưa bao giờ tỏ ra quá mềm dịu đối với Tổng Thống Thiệu. Nhưng chúng tôi không có phận sự phải đề cao một phong trào chính trị và cho phong trào này một tầm vóc hay một sự kết hợp mà nó vốn không có. Về vấn đề tù chính trị, thật sự con số 200.000 là con số được Hà Nội và phe đối lập với ông Thiệu thổi phồng lên. Con số 200.000 này đã nhiều lần được báo chí Tây Phương nhắc đi nhại lại nhưng không bao giờ được Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế cũng như hầu hết các Hội Nhân Quyền Quốc Tế thuộc các tổ chừc tôn giáo hay không tôn giáo xác nhận, dù tất cả đều quan tâm đặc biệt đến vấn đề này trong 2 năm gần đây. Theo thống kê thì số tù nhân trong tất cả nhà tù miền Nam Việt Nam (kể cả người bị nhốt tạm ở các xã ấp đến tù nhân đang bị giam ở các nhà lao Côn Sơn không quá con số 36.000 người…

Bà Ngô Bá Thành nhảy dựng, giận dữ, tuôn ra một tràng: “Thật là đê tiện, hài hước! Sai! Hoàn toàn sai bét!“. Gương mặt bà thay đổi thình lình, nhăn nhó. Bà ho một tràng dài, ho và nấc từng cơn, rung động cả người. Bằng giọng đau khổ lẫn trách móc, chồng bà nói với tôi:

– Lẽ ra ông không nên nói những điều nghịch ý với vợ tôi. Vợ tôi đang rất hào hứng khi nói về vấn đề chính trị. Bà không thể chịu nổi những điều trái ý. Bà ấy giận ngay, nhanh lắm, khó chịu lắm và cơn suyễn lại kéo đến làm cho ngộp thở. Mỗi lần như vậy là tôi phải cho bà một liều thuốc kháng sinh hydrocortisone. Bà ấy vẫn biết là thuốc độc, nhưng đó là phương thuốc duy nhất…

Tôi ra về mà không hỏi được bà Ngô Bá Thành một câu hỏi có ích nào cả. Bà đã nằm co trong cái ghế bành lớn bằng mây rồi. Trông bà có vẻ rất yếu đuối để bảo đảm sự thay thế các tướng lãnh đang đối diện trận chiến khốc liệt với cộng sản Bắc Việt, những bộ đội từng sống cam khổ qua các trường huấn luyện rừng núi đang chuẩn bị tiến vào Sài Gòn. Tôi bỗng sực nhớ lại cách đây 2 năm, khi được gọi ra gặp vị Chánh án Tòa Án Gia Định, người phụ nữ yếu đuối và bệnh hoạn này đã rình trước cửa Tòa Án, dùng một viên đá lớn liệng vỡ kính xe của ông Chánh án. Sau đó, bà chạy lại lôi tuột ông này ra khỏi xe, kéo vào lề đường và dùng cán dù đánh ông một trận nhừ tử, còn đá ông mấy đá vào cạnh sườn làm ông đo ván luôn.

oOo

Khoảng 4 giờ chiều, một tin đồn nữa được tung ra khắp Sài Gòn. Tổng Thống Thiệu đang sửa soạn từ chức. Lại thêm một tin gây náo động hay chỉ là lời đồn nhảm thường ngày để tăng cơn sốt của thủ đô? Ít nhất cũng có nhiều chỉ dấu nghiêm trọng hơn. Sáng nay, vị nguyên thủ quốc gia không dự buổi lễ Thanh Minh truyền thống. Bí thư của ông đã dùng điện thoại báo cho tất cả nhân sĩ là các buổi hẹn trong vòng 48 tiếng đồng hồ sắp tới đều hủy bỏ. Rõ ràng sẽ có một điều gì đó quan trọng sấp xảy ra.

5 giờ chiều, Hội Đồng Chính Phủ họp bất thường tại Dinh Độc Lập. Nhiều người nói đây là một buổi họp mặt để từ giã nhau. 6 giờ chiều, đài phát thanh loan báo Tổng Thống Thiệu đã mời tất cả Tổng Bộ trưởng, tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, các nhân viên Tòa Thượng Thẩm, các vị dân cử thuộc lưỡng viện Quốc Hội, có mặt lúc 7 giờ tối để Tổng Thống đọc một bài diễn văn trực tiếp truyền thanh.

Từ ba tuần nay, chiến lược gia của các tiệm cà-phê ở đường Catinat đã tiên đoán sự từ chức của Tổng Thống Thiệu là chuyện đương nhiên rồi. Trong những ngày đầu tháng Tư, một nguồn tin đã loan đi và báo chí cũng nói lại rõ ràng là một “hội đồng tướng lãnh” của Miền Nam đã trao cho Tổng Thống Thiệu một tối hậu thư, khuyên ông nên từ chức nội 3 ngày… nhưng rồi có gì xảy ra đâu?

Cùng với nhịp độ tấn công gia tăng của cộng sản, phía đối lập càng cứng rắn thêm. Cảnh sát đã phá vỡ hai mưu toan ám sát và Dinh Độc Lập đã bị dội bom. Nhưng tới giờ này, Tổng Thống Thiệu không tỏ dấu hiệu nhượng bộ. Càng ngày càng có nhiều nhân sĩ chính trị, tôn giáo công khai yêu cầu ông hãy ra đi, để có thể đàm phán với “phía bên kia”. Phần đông đối thủ của ông đều như tin chắc ông Thiệu muốn ngồi ở cái ghế Tổng Thống cho đến cùng. Ngày hôm kia, ông còn dọa giết ông Ngô Khắc Tỉnh, người anh em bà con bạn dì với ông, đương kim Tổng Trưởng Giáo Dục, khi ông này muốn nói về sự nghiêm trọng của tình hình hiện tại, làm ông giận dữ hét lên: “Anh chỉ là một thằng chủ bại bẩn thỉu. Nếu anh còn tiếp tục nói nữa, thì tôi sẽ cho anh ăn đủ 12 viên đạn của tiểu đội hành quyết ngay bây giờ.

oOo

Dominique, chủ nhà hàng Valinco, nhắc tôi một tuy-dô “hết ý”. Theo ông, Ngoại trưởng Sauvagnargues của chúng tôi đã điện thoại cho ông Mérillon, đại sứ Pháp ở Sài Gòn, để bảo ông này: “Anh hãy đi gặp ông Thiệu và bảo rằng ông ta phải đi đi…” (*)

Để vào cổng dinh Tổng Thống, các xe chánh thức phải mất 30 phút theo các hướng dẫn cẩn thận. Một buổi hoàng hôn ấm áp với bãi cỏ và các vòi nước phun được đèn rọi chiếu sáng và các tài xế toàn đội kết trắng tinh khiến liên tưởng đến một dạ hội. Nhưng những chiếc áo dài lụa xinh xắn của Sài Gòn hoa lệ thường làm đẹp cho các buổi tiếp tân lại không thấy góp mặt mà chỉ thấy Quân Cảnh khắp nơi trong khu vực.

7 giờ 30 phút. Nửa giờ trước giờ giới nghiêm (đột ngột tăng 1 giờ), đường phố gần như vắng vẻ. Sau những tấm rèm che các tiệm buôn, các gia đình tụ họp quanh máy truyền thanh. Cảnh sát cũng lẩn quẩn trước cửa tiệm để cùng nghe diễn văn của Tổng Thống Thiệu.

7 giờ 43 phút. Trong căn phòng lớn ở tầng dưới của Dinh Độc Lập, đứng trước bức họa tượng trưng 18 vua Hùng, theo truyền thuyết là những vị vua dựng nước Việt Nam, Tổng Thống Thiệu bắt đầu nói. Với giọng rắn rỏi, bình tĩnh nhưng không giấu được vẻ bực tức, ông đi vào một trong những trình bày dài vốn là sở trường của ông. Ông nhắc lại từng giai đoạn lớn của cuộc chiến Việt Nam và những giai đoạn thương thuyết dẫn đến sự ký kết Hiệp Định Ba Lê. Ông nhấn mạnh các lần từ chối liên tục mà ông đã đối đầu chống lại Kissinger trong cuộc hòa đàm:

– Từ chối chấp nhận một chính phủ ba thành phần mà ở các tỉnh và xã ấp cũng phải có một nền hành chánh với ba thành phần.

– Từ chối chấp nhận Đông Dương chỉ có 3 nước Việt Nam, Campuchia và Lào, và nhấn mạnh đòi hỏi phải trở lại Hiệp Định Genève 1954 với 2 nước Việt Nam, Bắc Việt và Nam Việt.

Ở điểm thứ ba, Tổng Thống Thiệu xác nhận rõ:

– Tôi nhìn nhận là tôi đã thất bại, vì không đạt được thỏa thuận sự rút quân của người Mỹ phải đổi lấy sự rút quân của tất cả các đơn vị cộng sản Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ miền Nam mà họ đã lấn chiếm. Tôi đã tranh đấu suốt 4 tháng để điều khoản này phải được đưa vào bản văn của Hiệp Định, một điều khoản cực kỳ quan trọng. Cuối cùng tôi phải chịu thua dưới áp lực của người Mỹ. Họ nói: Nếu ông không chịu ký thì Quốc Hội sẽ chấm dứt tức khắc mọi viện trợ kinh tế và quân sự. Để thuyết phục tôi chấp nhận bản dự thảo Hiệp Định của họ, tôi đã nhận được sự cam kết chánh thức của Tổng Thống Nixon, cam kết trong danh dự của một đại cường quốc, một lãnh tụ của thế giới tự do, bao gồm 2 sự bảo đảm:

* Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng võ lực và ngay tức khắc nếu cộng sản Bắc Việt tiếp tục cuộc chiến.

* Hoa Kỳ chỉ nhìn nhận một chính phủ của nước Việt Nam: đó là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mà Hoa Kỳ sẽ viện trợ ồ ạt và đúng lúc, viện trợ cần thiết về kinh tế và quân sự .

Tuy nhiên, việc gì đã xảy ra?

Khi cộng sản chiếm căn cứ quân sự Tống Lê Chân vào tháng 5-1973, người Mỹ không có một phản ứng nào. Dựa vào thái độ tiêu cực này của người Mỹ, cộng sản Bắc Việt từ đó không ngừng tiếp tục các cuộc tấn công của họ. Sau khi lấn chiếm xong các căn cứ xa xôi hẻo lánh, họ tiến chiếm các quận lỵ, rồi tỉnh lỵ. Nhưng rồi với thảm kịch Watergate và những ảnh hưởng chính trị tiếp theo cuộc khủng khoảng về năng lượng trên thế giới, Hoa Kỳ tằn tiện từ từ cắt bớt viện trợ ngày này qua ngày khác. Trong lúc Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh lợi dụng các biến cố này và gởi cho đồng minh Bắc Việt của họ một số lượng vũ khí chiến cụ to lớn, càng ngày càng tăng lên rất quan trọng, giúp cho các đơn vị chánh quy Bắc Việt xâm nhập không ngừng vào miền Nam với nhiều chiến xa và chiến cụ, quân dụng tối tân.

Vì thế trong thời gian không đầy 2 năm, cán cân quân sự hoàn toàn bị đảo ngược với phần thất lợi về phía chúng ta. Chỗ nào chúng ta có một sư đoàn thì cộng sản Bắc Việt có hai. Chỗ nào chúng ta có 10 chiến xa thì họ có hai chục. Quân đội chúng ta mất đi 60% khả năng tác chiến và khả năng di động. Chúng ta không có được sự yểm trợ ồ ạt của không lực nữa và hỏa lực của chúng ta ở trận địa kém hơn hỏa lực của cộng sản quá nhiều.

Hoa Kỳ vốn cam kết phải thay thế với tiêu chuẩn một đổi một các quân dụng và chiến cụ hư hỏng, nhưng kể như không có thay thế chi hết. (Tổng Thống Thiệu cố nói lớn như nhấn mạnh) Trong chiến tranh, không thể có phép lạ. Phải có bom, có đại bác, phải có đạn dược và phương tiện tiếp vận.

Chính tình trạng thua sút này dẫn tôi đến thế phải có quyết định chính trị và chiến thuật lui quân, không thể làm khác hơn được như đã chứng minh.

Vừa trình bày một số lỗi lầm và trường hợp “yếu hèn” của một số cấp chỉ huy liên quan đến thảm trạng quân sự sáu tuần lễ vừa qua, vừa nhìn nhận ông rất tiếc là các biến cố ở Cao Nguyên diễn tiến quá nhanh, ông Thiệu chỉ rõ chính Hoa Kỳ phải chịu hết trách nhiệm:

– Tôi đã nói với người Mỹ là: Các ông muốn tôi làm những gì mà quân đội của các ông với 300 tỷ Mỹ kim, không làm được trong sáu năm.

Tôi đã nói với họ là: Các ông muốn rút ra khỏi cuộc chiến Việt Nam trong danh dự và bây giờ các ông đòi hỏi chúng tôi phải làm những chuyện vô lý và không thể làm được. Điều hành cuộc chiến với viện trợ quân sự bị cắt xén có khác nào mấy ông trao cho tôi 3 Mỹ kim mỗi ngày mà bảo chúng tôi phải sống như một du khách hạng sang.

Tiếp tục tường trình về cuộc gặp gỡ vào cuối tháng 2 với các thành viên Quốc Hội Mỹ lúc họ sang Việt Nam nghiên cứu tình hình, Tổng Thống Thiệu tuyên bố:

– Tôi đã nói với họ rằng câu hỏi duy nhất được đặt ra là Hoa Kỳ có quyết định giữ cam kết của mình hay không, và lời nói của Tổng Thống Mỹ có còn chút giá trị nào hay không? Tôi nói với họ rằng so với 300 tỷ Mỹ kim mà người Mỹ đã xài ở đây thì 300 triệu Mỹ kim mà họ đang tranh luận chỉ là số tiền đủ chi tiêu trong 3 ngày tác chiến mà thôi. Vậy mà họ vẫn trả giá với tôi trong lúc đòi hỏi tôi phải chận đứng làn sóng tấn công xâm lược của cộng sản, một điều mà ngay chính họ, với sức mạnh vô địch của đại cường quốc Hoa Kỳ đã không có khả năng chận đứng được trong sáu năm dài chiến đấu…

Thái độ vô nhân đạo của Hoa Kỳ là thái độ của một cường quốc lớn đang trốn tránh trách nhiệm của mình.

Giọng giận dỗi và khích động, ông Thiệu gào to:

– Không bao giờ tôi tưởng tượng nổi có thể chứng kiến trong một thời gian nào đó tấn bi kịch của những sự trả giá bẩn thỉu đang diễn ra bên trong tòa nhà Lập Pháp của Quốc Hội Hoa Kỳ. Không bao giờ tôi tưởng tượng nổi một người như Kissinger lại có thể đưa dân tộc Việt Nam vào một định mệnh hết sức thảm khốc như ngày hôm nay.

Đúng 8 giờ 36 phút, sau 53 phút đọc diễn văn, Ông Thiệu loan báo là ông từ chức. Ông nói thêm:

Tôi nghĩ rằng sự hy sinh của tôi sẽ giúp thay đổi tiến trình viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa, và giúp thay đổi được diễn biến trên chiến trường. Nếu nó có thể mang lại hòa bình cho toàn dân, đem lại cho quân đội và đất nước sự giúp đỡ cần thiết cho sự sống còn của họ thì đó chỉ là một sự hy sinh tối thiểu mà thôi. Đối với những người luôn luôn chỉ trích tôi, cho tôi là một chướng ngại cho nền hòa bình, tôi xin họ vì tình yêu Tổ Quốc hãy giúp đỡ người kế vị tôi, là Tổng Thống Trần Văn Hương, để ông mang lại hòa bình cho đất nước, một việc mà tôi đã không làm được. Tôi hy vọng hành động của ông, căn cứ trên sự thi hành Hiệp Định Ba Lê và căn cứ trên quyền tự quyết của dân tộc, sẽ đi đến một giải pháp chính trị trong hòa bình và ngăn giữ nổi Sài Gòn khỏi rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Kể từ giờ phút này, tôi xin tự đặt mình hoàn toàn dưới sự sử dụng của vị Tân Tổng Thống, của dân tộc và của quân đội. Tôi tiếp tục làm việc bên cạnh đồng bào và các chiến sĩ để bảo vệ đất nước chúng ta.

Bây giờ là 9 giờ đêm. Đèn ở Dinh Độc Lập lần lượt tắt. Các bãi cỏ và các vòi nước chìm trong bóng tối. Ông Thiệu không còn là Tổng Thống nữa. Trong thời gian 8 năm, đối với Hoa Kỳ cũng như với người thân của ông, Nguyễn Văn Thiệu là người mạnh mẽ, một đồng minh trung thành và chắc chắn, là thành lũy cuối cùng chống chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, và đối với Tổng Thống Nixon, ông Thiệu là một trong những chính trị gia khôn khéo nhất của thời đại. Đối với kẻ thù cộng sản và những người chống đối thì ông là một kẻ độc tài, tàn nhẫn và kẻ phục vụ đế quốc Mỹ vì hám tiền. Tối nay, ông chỉ còn là một người cô đơn, chua chát và thất vọng, đã bất thần đứng ra đo lường sự khoa trương hão huyền về danh dự con người, về những lời cam kết và về sức mạnh của chính trị. Nếu ông cứ giữ – như nhiều người lo ngại – thái độ hiếu chiến muốn tử thủ, có thể sẽ đưa Sài Gòn vào một trận chiến đẫm máu và hủy diệt.

(*) Tác giả chú thích:Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ Nouvel Observateur, Ngoại trưởng Pháp Sauvagnargues xác nhận tin tức lạ lùng này: Theo đúng chỉ thị của tôi, đại sứ Pháp đã có đến gặp ông Thiệu và nói với ông này rằng: Ông phải ra đi thôi. Một cách thi hành Hiệp Định Paris hết sức quái lạ.

(Hết Chương 16)

Share this post