Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 26

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 26

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 26
NGÀY MAI CHUA CHÁT CỦA CUỘC “GIẢI PHÓNG”

Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 9, anh Phạm, một người bạn của tôi, cuối cùng được một chỗ trên chuyến bay về Pháp. Vừa đến Ba Lê, anh điện thoại cho tôi ngay tại phi trường Roissy: “Tôi phải đi gặp anh liền, để cho anh viết, để cho anh nói với tờ báo của anh những gì đã xảy ra ở Sài Gòn. Trầm trọng lắm!“,

Anh bạn tôi có vẻ quá căng thẳng, bị kích thích quá độ như một người vừa bị một cú sốc nặng, muốn phản đối và kêu cứu vậy. Đó không phải là thói quen của anh.

Anh Phạm là một người Việt Nam, người miền Tây, đặc biệt cứng cỏi và rất bình tĩnh. Anh là một sĩ quan Thiết Giáp, tỵ nạn chính trị ở Pháp từ năm 1955, sau đó anh tiếp tục học, giật được bằng kỹ sư điện toán và cử nhân hóa học một cách vẻ vang. Anh có một chỗ đứng vững chắc trong một công ty viễn thông lớn từ hai mươi năm nay. Nhập tịch Pháp năm 1958, anh chưa về Việt Nam lần nào từ hai mươi năm nay. Hôm 2 tháng 4 vừa rồi anh về Sài Gòn để thăm gia đình anh và bị kẹt lại trong 4 tháng.

Tôi gấp rút đi gặp anh.

Bạn tôi quá gầy, mệt mỏi với cặp mắt bồn chồn. Anh nắm thật chặt tay tôi và nói một hơi:

Pierre ơi, ở Sài Gòn chỉ còn sự đói rách khốn khổ, nỗi thất vọng, sự chống đối và cái chết mà thôi. Con người đáng ghét nhất đáng khinh nhất ở miền Nam ngày nay không phải ông Thiệu, cũng không phải tướng Trần Văn Trà, mà là tướng Dương Văn Minh. Chẳng những ông ta đã bán đứng miền Nam mà ông ta đã cúi đầu qụy lụy trước đám Bắc Kỳ.

Hãy bình tĩnh, anh Phạm. Anh hãy cố gắng sắp xếp những ý của anh cho có thứ tự một chút đi…

Anh nhìn tôi như người mộng du, đang tập trung vào một thế giới nào đó chỉ riêng anh biết thôi, rồi nói:

— Anh không thể nào hiểu được cái gì đã xảy ra bên đó đâu. Anh không thể nào tưởng tượng nổi là tất cả đều thay đổi hết. Và cả một sự thù hận…

Anh ngưng lại, đưa tay dụi mắt như người vừa ngủ dậy, một người vừa qua một giấc mơ hãi hùng, rút từ trong túi ra cuốn sổ tay màu đen, lật qua lật lại vài tờ rồi nói:

Tôi giữ được cuốn sổ tay này qua cuộc khám xét. Tôi ghi lại rất đầy đủ, tất cả những gì tôi đã thấy, đã nghe và đã hiểu được. Suốt hai mươi năm qua, tôi gác bỏ chính trị ra ngoài tai. Tháng 3 năm nay, khi nằm thoải mái trên ghế phô-tơi để xem truyền hình ở Ba Lê, cũng như tất cả người Pháp khác, tôi nghĩ người Việt Nam chạy trốn chiến tranh hoặc họ đã bị sự tuyên truyền chống cộng đầu độc. Anh biết không, thật sự tôi đã lầm! Bây giờ tôi mới hiểu tại sao người Việt Nam đã chạy trốn đầy đường. Không phải họ chỉ chạy trốn đạn pháo và các đơn vị cộng sản Bắc Việt. Thật sự họ chạy trốn bộ máy ở phía sau bộ đội cộng sản đó, anh Pierre! Các loa phóng thanh, các sự tố giác và lên án, mọi chuyển đổi bắt buộc của đời sống, các trại tập trung cải tạo, các tòa án nhân dân và những “cán bộ” cuồng tín ảo tưởng, mặt lạnh như tiền, ngoan cố và khắt khe hơn cả các thầy tu của Tòa Án Dị Giáo. Những cán bộ này khi đã nắm được anh rồi, họ không bao giờ buông tha cho đến khi nào anh thú nhận có tội, dù là tội tưởng tượng… có nghĩa là cho tới khi anh tự thấy mình có tội, khi anh chối bỏ tất cả, tín ngưỡng của anh, bạn bè của anh, gia đình của anh, cho tới khi anh hòa nhập vào giáo hội của họ, vào lý thuyết của họ, vào lối sống của họ… tức là đi ngược hết với đời sống.

Phạm ngừng vài giây rồi tiếp tục:

Tôi đã thấy cách vận hành của bộ máy đó, nó núp kỹ phía sau các binh sĩ mới đến. Nó rất khủng khiếp. Tôi sẽ cố gắng giải thích, cố gắng kể cho anh nghe những gì tôi thấy. Tất cả binh sĩ vào chiếm Sài Gòn đều cầm lá cờ Mặt Trận Giải Phóng mà họ gọi là “cờ của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam”. Dân chúng miền Nam đều nghĩ: “Giữa người miền Nam với nhau, cuối cùng rồi cũng đạt tới thỏa thuận để có một giải pháp”. Nhưng làm gì có người miền Nam? Chỉ toàn Bắc Kỳ. Những tên “nhà quê” (*) thích mua những chiếc đồng hồ có chỉ ngày tháng mà từ thuở cha sanh mẹ đẻ mới thấy lần đầu tiên và gọi là “đồng hồ cửa sổ”, hay chụp ảnh với các anh phó nhòm chụp dạo trên đường phố. Dân Sài Gòn bắt đầu gọi họ là “những con ếch” vì họ mặc quân phục xanh lá cây và thường có dáng đi hai hàng. Chẳng có gì quá tệ đâu. Chỉ châm biếm chơi một chút thôi.

[*] Nguyên tác: “des Tonkinois,  des pèquenots”.

Kế tiếp là các sĩ quan vào ở khách sạn. Họ chưa từng thấy thang máy bao giờ. Một ngày, ở khách sạn Palace, tôi chứng kiến một cảnh đặc biệt lạ lùng. Một bà cụ già dùng thang máy đi lên lầu ba. Một cô gái trẻ cũng dùng thang máy đó để đi trở xuống, khi cửa mở cô gái bước ra và đi về phía trước. Một sĩ quan người Bắc đang đứng ở tầng trệt, bước lui lại mấy bước và kinh ngạc la lên: “Cái máy gì đây? Một bà cụ vừa bước lên đây, bà ta rất già, nhưng lúc bước xuống bà ta trẻ lại gần 50 năm!”. Có phải tôi kể chuyện lịch sử Marseille xa xưa không, anh? Tuy nhiên, đây là chuyện thực, một chuyện sống! Anh có muốn nghe thêm nhiều chi tiết nữa không? Họ cũng chưa bao giờ thấy những phòng tắm nữa. Họ lấy nước trong bàn cầu để rửa mặt. Một buổi chiều các thương gia và mấy ông Bang Tàu vừa “hiến” cho quân đội giải phóng một bệnh viện tư lớn nhất ở Chợ Lớn và mở tiệc khoản đãi các sĩ quan cao cấp của họ. Tối đến, người Tàu cho gọi mấy nhiếp ảnh viên tới để chụp ảnh. Họ chụp ảnh bằng đèn. Khi ánh chớp của máy ảnh lóe lên, các sĩ quan đều đứng bật dậy đồng loạt rút súng lục ra. Họ tưởng đó là một cuộc mưu sát.

Những giai thoại này cả Sài Gòn ai cũng biết. Người dân thành phố cười riễu! Họ không thể hiểu những người mà họ đang coi rẻ này chỉ biết có làng mạc nghèo khổ, các trại huấn luyện, núi rừng và chiến tranh. Một thế giới không hề có chiếc tủ lạnh, hoặc một máy ghi âm, cũng không có khách sạn, không có đèn chớp để thu hình ban đêm. Khi người ta cười, người ta tưởng đã che giấu được cái sợ của mình. Nhưng dân Sài Gòn đã nhanh chóng hiểu rằng “họ cười là sai”. Đã có những rắc rối xảy ra. Bộ đội đã bắt gặp kẻ trộm đang chuyển xăng trong nón sắt của họ, và kẻ trộm bị buộc phải uống hết những gì chứa trong chiếc nón. Họ đã bắt được những anh móc túi, và dùng súng lục bắn vào hai bàn tay của những người này trước khi thả cho họ đi. Họ cũng cho thấy là họ xử với binh sĩ của họ y như vậy. Một tài xế xe Molotova cán chết một em bé gái ở Gia Định. Bà mẹ la lên, đám đông tựu lại đòi phải giải quyết. Anh trưởng xa đề nghị bồi thường ba bao gạo. Người mẹ từ chối và nói lớn: “Anh ta giết chết con tôi, tôi muốn anh ta đền mạng”. Nghe vậy, người trưởng xa lập tức chộp cây súng của một bộ đội, nổ ngay một phát đạn vào đầu tài xế. Và sau này, đã có những cuộc xử tử tại chỗ các phạm nhân bị trói tay, cột vào hai miếng gỗ, ngay trên đường phố, gọi là để làm gương. Kể từ đó dân Sài Gòn mới thấy sợ và bắt đầu nói “Họ còn ác hơn bọn Nhật nhiều!”.

Phạm ngưng lại đốt thuốc kéo một hơi dài rồi tiếp:

— Kỷ luật sắt và sự tàn ác của bộ đội đã gây xúc động cho người dân miền Nam. Nhưng họ còn chưa biết về đám cán bộ của đảng. Đám này không mặc quân phục xanh như bộ đội. Họ thường mặc quần dài màu xám hay nâu sậm với sơ mi trắng không bao giờ ủi và bỏ ngoài quần. Đó mới thật sự là các chủ nhân ông. Họ không ồn ào nhưng có mặt khắp nơi. Họ quan sát, đặt câu hỏi, ghi chép, tìm hiểu và quyết định. Họ là những người hướng dẫn các lớp học tập cải tạo. Lúc đầu, người dân Sài Gòn thấy mình tiến bộ nhưng còn hoài nghi, đã theo các buổi học tập cải tạo này với cảm nghĩ mình đang ở một lớp mẫu giáo dành cho những em bé chậm hiểu. Họ hát theo những gì người ta bắt phải hát, họ cũng vỗ tay, cũng lập lại những gì họ được bảo phải lập lại. Khi bước ra khỏi lớp họ cười khẩy. Và rồi một lần nữa, họ lại hết cười nổi, hết còn cười khẩy được. Bởi cán bộ bắt họ phải viết đi viết lại mười lần, hai chục lần những lời tự thú. Không một người nào trong dân chúng thấy mình phạm tội. Tất cả đều sai hết. Các tiệm buôn đã bán thuốc ngừa cho Mỹ để họ ngủ với các cô gái: có tội. Người thợ ở cơ xưởng đã đóng góp vào nỗ lực chiến tranh: có tội. Cũng tương tự là thương gia Tàu đã mua lại chiến cụ phế thải, cô gái ăn sương đã làm mất danh dự dân tộc khi bán mình cho ngoại nhân, anh sinh viên có cả một bộ sưu tập các đĩa nhạc Pop giật gân. Hết thẩy mọi người mọi giới đều đã, đang hay sẽ là kẻ phạm tội. Như vậy là phải biết tội của mình, phải biết sửa mình, phải biết bắt buộc cha mẹ,con cháu, bạn bè mình sửa chữa, cải tạo; phải biết “vạch trần” có nghĩa là phải tố giác người nào từ chối không chịu thay đổi. Và tiếp sau đó, bắt đầu những cuộc ruồng bắt, lục soát. Công an mật vụ đến nhà ban đêm, lục lọi khắp nơi, gõ vào tường, tháo bàn ghế, vật dụng trong nhà, khám xét quần áo, có khi mở tung những mảnh vá ra xem. Chỉ cần một quyển sách nhỏ chống cộng, một bức ảnh của Mỹ hay một tấm hình nào đó của ông Thiệu còn bỏ quên trong ngăn kéo, là người chủ nhà sẽ bị bắt mang đi. Buổi sáng thật sớm có khi bắt gặp những hàng người trói quặt tay ra sau lưng, bị binh sĩ mặt lạnh như đồng dẫn đi. Đôi lúc các bà vợ chạy theo sau vừa la vừa khóc. Bộ đội đuổi họ đi bằng báng súng… và mọi người quay mặt đi không ai dám nhìn vào cảnh này. Không chỉ bắt người mà họ còn tịch thu, trưng dụng nhà cửa nữa. Tất cả những ai có nhà rộng rãi, nghĩa là có hơn hai phòng cho cả gia đình, phải cho một số bộ đội vào cư trú, phải giặt giũ cho họ, nấu cơm cho họ. Sĩ quan thì ở biệt thự. Nhà giàu nào bị tịch thu trương mục trong ngân hàng phải giao nộp tất cả đồ mỹ nghệ, sổ sách và hàng sơn mài cho ủy viên tài chánh. Còn lại món nào thì đem bán lần bán hồi để mà sống. Khi không còn gì để bán được nữa thì chỉ còn tự tử. Sài Gòn là một thành phố tuyệt vọng mà các tủ ở đầu giường có đầy đủ hóa chất hay những viên thuốc giết người đủ màu, trắng, hồng, xanh. Người nào không có thuốc thì cạo diêm sinh từ các vỏ quẹt để uống. Mọi chuyện đều nhằm dồn con người vào ngõ cụt tuyệt vọng. Điều tra thẩm vấn, bắt bớ, nhất là tình cảnh khốn khổ và sự đói rách. Trên một triệu người không có việc làm và không có gì để ăn, đó là chỉ tính riêng cho Sài Gòn. Chính quyền cộng sản đã loan báo trên đài phát thanh là họ đã phát không sáu ngàn sáu trăm tấn gạo cho một triệu ba trăm ngàn dân nghèo ở đô thành trong hai tháng 5 và tháng 6. Như vậy tính bổ đồng chỉ có chưa tới 100 gram gạo cho một người mỗi ngày. Đường Catinat vắng ngắt, các tiệm đều đóng cửa. Bên vỉa hè đường Charner, người ta bày bán đủ thứ trên các tấm vải dù, nào là quạt máy, dao muỗng, thượng vàng hạ cám, bán với giá rẻ mạt. Người bán ăn mặc tươm tất nhưng gầy gò. Một nắm bạc chỉ mua được vài kí gạo, có nhiều người còn đem bán cả bàn thờ ông bà. Tôi đã chứng kiến nhiều chuyện rắc rối. Ở khu Chợ Cũ sau Kho Bạc, một người trạc năm chục tuổi đã giựt một túi xách của một bà qua đường. Bà ta la lên. Một đội tuần tiễu đến kịp và bắt kẻ cướp giựt, Anh ta đứng thẳng người và cao giọng nói lớn:

— Đúng vậy, tôi là một kẻ trộm. Các anh hãy làm giùm tôi một việc: hãy đi tìm giùm vợ và 5 đứa con tôi lại đây và hãy bắn hết chúng tôi giùm tại đây trước mặt mọi người, bởi vì chúng tôi không còn gì để ăn hết.

Cũng có các cô gái vẫn mặc quần áo kiểu Tây Phương. Lúc đầu, còn có châm chước. Bây giờ thì cấm hẳn. Bộ đội dùng kéo lớn cắt bớt mấy chiếc quần quá rộng. Tôi đã chứng kiến tận mắt một cô gái giận dữ vì người ta xé quần Gin của cô. Cô tức giận xé cả áo cánh và cởi luôn nịt vú của cô ra, cầm ném vào mặt anh bộ đội và đưa bộ ngực trần ra nói với họ: “Sẵn có các anh ở đây hãy cắt giùm luôn cặp vú của tôi đi”. Cô này không phải gái ăn sương. Đài phát thanh đã loan báo vài tuần lễ nữa, mọi người dân “nam cũng như nữ” đều mặc một loại quần áo như nhau bằng vải thô nhẹ nhuộm củ nâu, màu đỏ nâu.

Phạm thoáng nhăn mặt với vẻ hài hước ngưng một chút rồi nói với tôi:

— Pierre biết không, cộng sản cũng dùng nhiều trò tiểu xảo đơn sơ mà người ta mắc bẫy như thường. Tôi kể cho anh nghe một giai thoại không quan trọng lắm, nhưng biểu lộ rõ cái cách họ gạt gẫm những người chưa được cảnh giác. Một tháng sau khi Sài Gòn bị chiếm, một giờ trước khi thiết quân luật, tôi cùng một ông bạn giáo sư đi dạo cách rạp chiếu bóng Casino không bao xa. Thình lình chúng tôi nhận thấy hàng đèn trước quán rượu “Les Nuits d’Orient” đã được bật cháy sáng và từ trong tiệm có tiếng nhạc xập xình vọng ra ngoài. Bạn tôi vừa cười vừa nói: “Có thể họ đã mở cửa hộp đêm trở lại. Ta hãy vào đây uống một ly cho bớt căng thẳng”. Chúng tôi đẩy cửa bước vào. Nhiều cặp đang nhảy trên sàn và ban nhạc đang chơi một bản nhạc giật gân. Quầy rượu cũng được thắp sáng, và một số vũ nữ đang ngồi uống trên ghế cao trước quầy. Chúng tôi đi đến một cái bàn. Hai bộ đội đột nhiên xuất hiện từ sau một cây cột, chĩa súng và đẩy chúng tôi ra cửa, chẳng nói chẳng rằng. Ngày hôm sau chúng tôi được nghe một cô gái nhảy của tiệm Las Végas cũ giải thích câu chuyện: “Chúng tôi hơn chục người cả nam lẫn nữ được gọi tới một “sân khấu” là cái hộp đêm đó, được trả mỗi người 1000 đồng và đãi một bữa cơm. Bù lại chúng tôi phải nhảy với nhau suốt hai tiếng đồng hồ, “như hồi còn chế độ ngụy” vậy. Các chuyên viên quay phim chiếu bóng của những nước cộng sản ở Âu Châu đến thu hình chúng tôi, và sau đó thì bộ đội đã đưa chúng tôi về nhà bằng quân xa”.

Cuốn phim đó nghe nói sẽ chiếu ở ngoại quốc để cho thấy chế độ mới thật sự cởi mở.

Một tuần lễ sau, họ lại làm y hệt một lần nữa ở nhà hàng “Arc-en-Ciel” trong Chợ Lớn với những thực khách sang trọng, thức ăn đủ món thịnh soạn bày trên buffet, heo quay vàng cháy, heo ghim nướng, các thứ trái cây, rượu vang, rượu khai vị v.v… nhưng tất cả khách hàng đều là đóng trò hết, họ được đãi ăn vì nhu cầu dàn dựng để quay phim. Cảnh phim được quay để nhằm cho thấy Sài Gòn không thiếu món gì, bởi các nhà hàng sang trọng vẫn tiếp tục được tiếp tế đầy đủ và thường xuyên. (*)

[*] Tác giả chú thích: Một cuốn phim loại Phạm vừa kể cho tôi nghe đã được chiếu thật sự ở Tây Đức, cách đây 2 tháng.

— Thế cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam thì ra sao?

— Các tổng bộ trưởng của chính phủ đó đã ở Sài Gòn nhưng không có gì để điều hành. Họ được ở những dãy nhà thuộc Bộ Tổng Tham Mưu cũ của miền Nam, gần sân bay Tân Sơn Nhứt. Có lính gác xung quanh doanh trại, súng ống hẳn hòi. Công an chính trị Bắc Việt không rời họ nửa bước và họ không tiếp khách. Thành viên của “Ủy Ban Lãnh Đạo” thì ở thành phố, tại các khách sạn hạng nhì nhiều nơi không có nổi cái điện thoại. Đôi khi họ cũng có mặt trên khán đài. Lâu lâu theo định kỳ, đài phát thanh và báo chí có loan báo những bản tuyên bố, đăng bài nói về “nhân vật của miền Nam và của miền Bắc”, hay nói về đường lối chính trị “không liên kết” của miền Nam. Nhưng không dối gạt được ai. Các sĩ quan Bắc Việt đồn trú đều mang phù hiệu Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam trên nón cối. Tôi đã trò chuyện với một sĩ quan trong số này, một đại tá thuộc sư đoàn 320B. Ông ta nhún vai nói với tôi:“Chỉ là một phù hiệu thôi, cũng như những lá cờ vậy. Những dấu hiệu tượng trưng cần thiết để tiến hành “chiến dịch Hồ Chí Minh”. Phải tạo tin tưởng là bộ đội của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam đang giải phóng miền Nam. Sự thật chúng tôi đều là quân đội miền Bắc và do Hà Nội chỉ huy”.

Những gì mà đại tá đó nói với tôi đều được chứng minh bằng thực tế. Người Bắc chiếm hết các biệt thự và nhà đẹp, các khách sạn hảo hạng, các cơ quan công cộng. Chỉ họ mới được dùng các xe du lịch loại lớn của người Mỹ bỏ lại. Giới lãnh đạo cách mạng miền Nam được chia ra hai thành phần: thứ nhứt là người “tập kết”, người đã chọn đi ra miền Bắc hồi 1954, và thứ hai là những kháng chiến quân của Mặt Trận Giải Phóng. Cả hai thành phần đều chống người Bắc. Họ bị đối xử như những người anh em nghèo và thực sự không có trách nhiệm rõ ràng nào, mặc dù họ được gán cho những danh vị chánh thức. Tôi đã gặp gỡ nhiều người trong số “tập kết”. Họ nói: “Ở Bắc, chúng tôi không phải người ngoại quốc. Nhưng bây giờ thì chúng tôi đã về nhà rồi, chết sống gì chúng tôi cũng ở đây, chúng tôi không ra ngoài đó nữa đâu”. Tình cảm của dân miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Cách xử sự của người Bắc trong tư thế chiếm đóng đã giúp người dân miền Nam gắn bó với nhau hơn. Dân miền Nam hết cười nổi nữa rồi mà vẫn gọi người Bắc là bọn “xâm lăng”, “những kẻ xâm lược” hoặc lũ “cá rô cây”. Danh từ miệt thị này muốn nói nhiều điều lắm. Cá rô là loại cá mà dân nghèo thường ăn. Vì có một số người Bắc đã gọt những con cá rô bằng cây bỏ vào chén nước mắm làm như đang ăn cá và giấu cái cảnh thực là họ chỉ ăn cơm không. Danh từ “cá rô cây” đồng nghĩa đói rã họng mà kiêu căng.

Anh có nghe nói về kháng chiến hay chiến khu gì không?

— Dĩ nhiên rồi. Chỉ cần đi một chút thôi, nghe đài phát thanh, đọc báo hay các thông cáo dán ở tường thì thấy ngay bằng chứng. Tại Sài Gòn, thiết quân luật đã tái lập. Không phải chuyện đùa đâu. Về đêm, bộ đội hễ thấy cái gì nhúc nhích là bắn liền. Đài phát thanh kêu gọi dân chúng “tố cáo những kẻ phản động còn lẩn trốn”. Báo chí loan báo nhiều lần hàng tuần là “lực lượng an ninh đã bao vây và hạ sát những toán phản động còn ngoan cố giữ vũ khí đạn dược”. Lúc đầu thì bộ đội bị đâm bằng dao găm hay bị siết cổ. Đó là những hành động lẻ tẻ do phản ứng tức giận của vài sĩ quan lạc lõng. Bây giờ đã có nhiều hệ thống, bắt đầu có tổ chức và những vụ ám sát có lựa chọn, thường nhắm vào cán bộ và công an. Nhiều người làm căn cước giả. Có truyền đơn được rải trong trường học kêu gọi sinh viên ra chiến khu. Sinh viên đâu có dễ bảo. Có lần họ đã đánh một ủy viên đại học. Cuối tháng 6, đã có một sự nhen nhúm biểu tình. Một cán bộ bị đập chết bằng búa. Người cầm đầu bị bắt và bị xử bắn ngay. Cái chết này đã khiến sinh viên hoang mang. Tuần lễ đầu tháng 7, lại xảy ra một rắc rối trầm trọng hơn.. Sáu trăm sĩ quan miền Nam đi trình diện hồi tháng 5 bị đưa đến một trại tù ở vùng núi Bà Đen cách Sài Gòn khoảng hơn trăm cây số về hướng Bắc. Tình trạng sinh sống của họ rất vô nhân đạo. Hằng ngày họ chỉ được phát hai nắm cơm với muối và phải đốn cây to với những chiếc rìu thường, từ sáng cho đến chiều. Một buổi sáng cuối tháng 6, chừng 100 bộ đội canh giữ đã tập hợp họ lại và nói: “Các anh đông quá, nên vì lý do an ninh, chúng tôi sẽ cột các anh lại từng cặp hai người một”. Các sĩ quan này phản đối: “Chúng tôi không làm gì sai trái, chúng tôi làm việc như trâu rồi mà mấy anh còn muốn cột lại như súc vật sao? Chúng tôi khó thể làm việc khi bị cặp đôi như vậy, cũng không thể đi vệ sinh riêng rẽ được”. Bộ đội không cần biết và bắt đầu cột họ lại từng cặp. Thế là đám sĩ quan tù nhân lao tới. Họ ùa vào tấn công toán bộ đội giữ tù. Dĩ nhiên bộ đội nổ súng và hơn 100 sĩ quan tử thương, Nhưng những người khác đã tước được súng của bộ đội và tàn sát hết toàn bộ. Cộng sản đưa nhiều xe binh sĩ đến tăng cường và cuộc trấn áp rất tàn nhẫn. Chỉ một nhúm sĩ quan chạy trốn được vào rừng có mang theo vũ khí. Vài ngày sau, Bộ Nội Vụ loan báo trong một bản thông cáo báo chí là: “Có vài trăm phản động chết trong một tai nạn trên đường Tây Ninh”. Ngay sau khi biết tin này, hàng trăm vợ con sĩ quan đã tụ tập trước Bộ Nội Vụ gần Nhà Thờ Chánh Tòa. Họ yêu cầu giải thích, xô đẩy lính gác và chửi người phát ngôn viên chính phủ: “Chúng tôi không tin. Không thể nào hàng trăm người chết trong một tai nạn trên quốc lộ. Hãy trả xác chồng con chúng tôi và chúng tôi sẽ biết tại sao họ chết”. Các bà bị khích động gần như cuồng loạn. Nhưng một giờ sau, toàn khu vực được bộ đội đến bao vây, chĩa súng, lên cò liên thanh răng rắc và các bà bị giải tán bằng báng súng. Đó là những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, Pierre. Độc tài và chỉ có độc tài!

— Còn những gì đã xảy ra ở các tỉnh?

— Tại các thành phố miền Tây, vì không có báo chí để thấy được những gì đã xảy ra nhưng trong những ngày đầu cưỡng chiếm, rất đẫm máu. Công tác tái lập “đạo đức” vừa tàn bạo vừa vụng về. Các cô gái và các bà còn trẻ bị buộc tội vì ăn mặc “lố lăng”. Các buổi họp có nhảy đầm bị binh sĩ “công phẫn” giải tán, nhạc cụ bị tịch thâu vì đàn ghi-ta điện và cả bình điện là của đế quốc. “Tòa án nhân dân” cho hành quyết ngay. Cảnh sát  và cán bộ của tỉnh bị gán tội “tham nhũng”. Quân đội miền Nam không có hành động chống đối sau khi Sài Gòn bị chiếm. Nhưng nhiều đơn vị được phân tán và có những vụ đánh úp sau đó vài tuần. Mấy trung đoàn thuộc Sư Đoàn 21 bộ binh (một trong 3 sư đoàn đồn trú ở Tây Nam Sài Gòn) đã rút vào vùng ly khai của Hòa Hảo. Như anh đã biết, Hòa Hảo là một giáo phái địa phương chống cộng dữ dằn nhất và vẫn được coi là luôn bất phục tùng chính quyền trung ương. Họ có lực lượng bán quân sự. Giáo phái này có mặt khắp 11 tỉnh và có hàng chục ngàn dân quân. Vùng kháng chiến mạnh nhất của họ nằm gần biên giới Campuchia, khu tam giác Long Xuyên – Châu Đốc – Tân Châu, một vùng giàu có với nhiều sông ngòi và ruộng lúa, chằng chịt đầy kinh rạch, dễ dàng chăng bẫy, dính liền với vùng núi Thất Sơn. Tôi đã dùng giấy tờ của anh tôi để đi miền Tây thăm gia đình. Các trục lộ giao thông chính và các trung tâm thành phố đều do quân đội chánh quy Bắc Việt trấn giữ. Nhưng có vẻ họ không được nghỉ ngơi theo kiểu dưỡng quân: thường xuyên có các đội tuần tiễu bằng chiến xa và binh sĩ luôn đặt tay vào cò súng, pháo binh thì ở tư thế sẵn sàng tác xạ. Các trục giao thông phụ và các thủy lộ thì không kiểm soát được. Rất nhiều sông rạch với nhánh tua tủa và nhiều bờ đê. Vai trò bây giờ đảo ngược, đến lượt cộng sản bị phá rối, cộng sản phải canh giữ cầu và duy trì trật tự. Hiện tại, họ không làm xuể. Cũng có nhiều nhóm dân quân tự xưng là người của Mặt Trận và không chịu nghe lệnh người khác. Nhiều cuộc biểu tình và chống biểu tình. Tình trạng vô chính phủ y hệt thời kỳ khởi nghĩa hồi 1945 vậy. Lực lượng phản loạn miền Nam táo bạo lắm, họ nã súng cối, đặt mìn phá các cầu, kho xăng và kho đạn. Tại Cần Thơ, trung tâm chính buôn bán lúa gạo của miền Tây và là giang cảng chính của vùng Đồng Bằng Cửu Long, lệnh thiết quân luật áp dụng rất nghiêm túc từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng. Có nhiều đường dây trốn ra ngoại quốc. Nhưng phần nhiều là người Trung Hoa. Vì trước hết, các tàu đánh cá và tàu hàng hải lấy tiền quá mắc: mười triệu đồng mỗi người cho một chuyến vượt biên. Sau nữa, khi tới Mã Lai, Singapore hay Thái Lan thì lập tức họ được cộng đồng người Hoa ở đó giấu kín và giúp làm giấy tờ hợp pháp cho họ. Người Việt Nam thì không có một tổ chức nào tiếp đón họ nên thường bị đuổi về.

— Cộng sản không chặn được chuyện đó sao?

— Đâu có dễ. Họ không có nhiều tàu chiến. Hải Quân miền Nam đã đưa tất cả tàu chiến loại đi biển về đảo Guam. Bờ biển miền Nam đã được phát triển tối đa và dân chài thuộc lòng từng chi tiết nhỏ của sông ngòi từ những ngõ ngách cho đến các vịnh. Tất cả những gì cộng sản có thể làm được chỉ là tăng cường kiểm soát đường sông, buộc hành khách nào đi đến các thành phố ở ven biển đều phải đi bằng các đoàn tàu có hộ tống. Ngoài ra nghe nói có một số chiến khu không phải ở miền Tây. Thí dụ ở vùng Đông Bắc Sài Gòn, giữa Xuân Lộc và Phan Thiết, dọc Rừng Lá, có một số binh sĩ Dù thường chận xe đò dẫn hành khách vào rừng để tuyên truyền chống cộng. Quân xa cộng sản cũng thường cán phải mìn. Đại tá Chánh nào đó, cựu tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt của Nha Trang và Biên Hòa đang chỉ huy vùng kháng chiến này. Ông tập trung được một lực lượng rất có kỷ luật khoảng vài ngàn gồm Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến và những người chạy thoát từ Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Họ chỉ chiến đấu về đêm. Trên Cao Nguyên có lực lượng FULRO (Mặt Trận Thống Nhứt Của Các Sắc Tộc Bị Áp Bức), một lực lượng từng chống chính quyền của Tổng Thống Thiệu cũng bị cộng sản làm cho thất vọng. Họ vào chiến khu với khoảng 4 tiểu đoàn chuyên tác chiến vùng rừng rậm. Đặc công của họ đã tấn công Pleiku 2 lần. Trong vùng Hố Nai, những trận đụng độ tiếp tục xảy ra giữa người Công giáo và lính chánh quy Bắc Việt. Đã có gần 300 bộ đội bị giết từ sau ngày chiếm Sài Gòn. Đường đi Đà Lạt và đi Vũng Tàu bị cắt đứt nhiều lần. Hướng Bắc Sài Gòn còn có nhiều binh sĩ thuộc giáo phái Cao Đài đã vào vùng núi Bà Đen.

— Có một Bộ Tham Mưu bí mật nào phối hợp nổi một hành động chung giữa các lực lượng đó không?

— Tôi không có chi tiết nào khác ngoài những gì mà tôi đã nói với anh. Truyền đơn mà các lực lượng này rải có mang chữ ký của tướng Lạc, cựu giám đốc Nha Chiến Tranh Chính Trị, tướng Trưởng, cựu tư lệnh Vùng I, và tướng Bùi Thế Lân, cựu tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến.

—  Nghe nói cả 3 tướng này đang ở Hoa Kỳ.

— Cũng có thể lắm. Họ rất được ngưỡng mộ và các quân nhân miền Nam không biết họ đã được người Mỹ bốc đi. Có thể những sĩ quan chỉ huy các lực lượng kháng chiến dùng tên tuổi và uy tín của mấy tướng lãnh này để dễ kêu gọi và mộ binh. Dù muốn dù không, dân chúng ủng hộ những người kháng chiến mới này, tiếp tế cho họ và không tố giác.

Phạm lau mồ hôi trán, nói tiếp:

– Tôi cũng cần nói với anh về người bạn của anh, Đức Cha Thuận đó. Ngày 14 tháng 8 vừa qua, Tổng Giám Mục Bình và Phó Tổng Giám Mục của ông là Giám Mục Thuận được gọi tới Dinh Độc Lập, trụ sở của Uỷ Ban Quân Quản. Khi đến nơi, hai người bị cách ly. Đức Cha Bình phải ngồi nghe một diễn văn dài của chính quyền nói nhiệm vụ của ông là giữ gìn an ninh, trật tự trong cộng đồng giáo dân, theo dõi sát cộng đồng để thi hành nghiêm chỉnh luật lệ cách mạng. Cuối buổi, Đức Cha Bình yêu cầu họ giao hoàn Phó Tổng Giám Mục và được trả lời là: “Giám Mục Thuận đã được xe công an đưa về địa phận của ông ở Nha Trang. Sự có mặt của ông ở đây làm rối loạn trật tự công cộng”. Bây giờ Đức Cha Thuận bị quản thúc tại một ngôi làng nhỏ cách thị xã Nha Trang vài chục cây số về phía Nam. Ông sống trong một căn nhà lá, mỗi ngày được lãnh 100$ (tương đương 50 xu đủ mua vài món rau cải) với 200 gram gạo (khẩu phần hằng ngày của một trẻ em 6 tuổi), và không được tiếp bất cứ ai. Nhưng không chỉ các linh mục Công giáo là đáng phải lo lắng. Thượng Tọa Thích Trí Quang của chùa Ấn Quang, người đã tham gia việc hạ bệ chế độ của Tổng Thống Diệm năm 1963 với chiến dịch tự thiêu của các sư sãi và chống đối Tổng Thống Thiệu tới cùng, đã bị bắt ngày 12 tháng 8, bị giam vào phòng tối ở khám Chí Hòa. Từ lâu rồi Thượng Tọa Thích Trí Quang vẫn bị coi là người của cộng sản. Nhưng, từ ngày Sài Gòn bị chiếm và cho tới khi bị bắt, ông không ngớt kêu gọi các tu sĩ “thay vì tự thiêu thì hãy chết trong chiến đấu”. Ngày 6 tháng 8, ông có một buổi họp ở sân chùa Ấn Quang, cực lực tố cáo “tình trạng gia tăng theo cấp số nhân các vụ hành quyết bằng vũ khí thô sơ theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản Bắc Việt”. Vài ngày sau đó, công an mật đã đến bắt ông.

Phạm ngồi xích lại sát bên, ôm cứng vai tôi và với giọng như vừa thịnh nộ vừa tuyệt vọng, anh nói:

— Thật là một thảm kịch. Mọi người ai cũng tưởng sau khi Sài Gòn bị chiếm là có “hòa bình”, “hòa giải”, và dân chúng miền Nam không còn lo sợ gì nữa. Thật là điên rồ! Nỗi lo sợ hôm nay còn tệ hơn nỗi lo sợ bị oanh tạc và pháo kích. Bởi vì vô phương cứu chữa. Đây là một chứng bệnh nan y. Những người không chịu buông súng có thể chịu đựng hai năm, ba năm, nhưng cuối cùng cũng sẽ bị tiêu diệt, nếu không có ai giúp họ. Nếu Hoa Kỳ muốn…

— Không bao giờ, Phạm ơi! Hoa Kỳ không muốn nữa. Họ sẽ không làm gì cả.

— Như vậy sẽ có một cuộc nổi dậy. Một cuộc nổi dậy đầy tuyệt vọng của dân chúng miền Nam. Anh đã biết cộng sản thả hết tù từ các khám ra. Nhưng các khám đường sẽ không trống đâu. Không bao lâu nữa sẽ đầy ắp tù nhân trở lại. Chưa kể những trại cải tạo đã có trong rừng núi… đang làm chết dần chết mòn không biết bao nhiêu người mà không có một nhân chứng…

oOo

Tôi từ giã bạn với lòng se thắt lại. Tôi biết rõ hệ thống tù đày mà anh vừa nói. Tôi đã từng là tù nhân của người miền Bắc. Không có lý do nhân đạo nào được tách xa khỏi các mục tiêu mà người cộng sản đã nhắm. Phương pháp của họ đặt trên nền tảng bí mật và tàn khốc là bất di bất dịch. Miền Nam Việt Nam đang bị biến đổi tận gốc rễ. Nếu cho là còn quá sớm để có thể đoán kết quả sau cùng thì cũng có thể dựa vào các biện pháp mà họ đang thực hiện để nhận ra đường hướng của sự biến đổi đó.

Kể từ khi Sài Gòn bị chiếm và chế độ cũ sụp đổ ngày 30 tháng 4, miền Nam Việt Nam đã đặt dưới quyền cai trị của các Ủy Ban Quân Quản thành phố hay địa phương không hề liên hệ gì với nhau trên thực tế. Vấn đề được đặt ra là “một chính phủ dân sự” trong tương lai được thành lập ở Sài Gòn nếu không có thực quyền thì sẽ chỉ là một phái bộ đại diện của Hà Nội trong những lãnh thổ bị chiếm đóng mà thôi.

Các cơ quan hành chánh và quân sự luôn bị ám ảnh bởi các vấn đề chính trị và bài toán an ninh, sẽ có nhiệm vụ chủ yếu là chuyển đổi tâm trạng và tinh thần người dân miền Nam cách nào để có thể chấp nhận một cuộc thống nhất nhanh chóng hai miền Nam Bắc. Nỗ lực trước tiên là phải đặt một nền tảng chính trị và một cơ cấu hành chánh mới bảo đảm một môi trường đủ vững để giữ cho dân chúng khỏi lệch lạc về tư tưởng cùng hành động. Đồng thời nỗ lực tổ chức và điều hành các trại tập trung cải tạo trong đó hầu hết các cựu giới chức quân cán chánh miền Nam phải chịu qua một thời gian, theo báo chí chính phủ loan báo, tùy theo sự tiến bộ của các tù nhân.

Vấn đề kinh tế chỉ là thứ yếu, không phải mối bận tâm của chính quyền mới. Không cần gấp rút làm cho bộ máy kinh tế chạy lại. Sự trì hoãn này ở miền Nam song song với sự hạ thấp mức sống của người dân sẽ giúp thống nhất dễ dàng hơn với miền Bắc vốn nghèo đói sẵn từ lâu. Ngoài ra do số thất nghiệp tăng nhanh, một phần dân miền Nam bị đói nên việc phát gạo cho các gia đình không có lợi tức và cho thợ thuyền các xí nghiệp sẽ tập cho dân chúng miền Nam thói quen dựa vào chính quyền.

Một hành động quan trọng khác được tiến hành để buộc người lánh nạn, người không có việc làm và người “vô dụng” rời thành phố trở về nguyên quán, hoặc đi định cư tại các vùng ít dân cư mà chính quyền đã quyết định nâng lên hàng có giá trị. Thủ tướng Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Huỳnh Tấn Phát vừa tuyên bố là 3 triệu rưởi người phải rời thành phố (trong số đó chỉ riêng Sài Gòn đã có 1 triệu rưởi). Nhưng, dù có nhiều cố gắng trong tuyên truyền và kích thích về vật chất, dân chúng có vẻ chỉ trở lại ruộng rẫy hết sức chậm chạp.

Kinh tế miền Nam đang đổ dốc vì nạn lạm phát phi mã do không có thu nhập công cộng, do nền hành chánh cũ đã biến mất, do sự ngưng trệ gần như hoàn toàn mọi hoạt động kinh tế. Từ 1 tháng 5 đến 1 tháng 8, giá cả vụt tăng 70%. Qua tuyên bố của các đại biểu đến từ Hà Nội, có thể suy ra miền Bắc hướng về kỹ nghệ và miền Nam hướng về nông nghiệp. Do đó mới có yêu cầu chuyển số lớn dân thành thị về thôn quê và chuyển cơ sở kỹ nghệ từ Nam ra Bắc.

Chương trình của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam đã ghi rõ là tài sản tư nhân sẽ được giữ lại và đời sống cũng như tài sản của người ngoại quốc sẽ được bảo vệ. Tuy nhiên, nhiều tin tức có thẩm quyền từ Hà Nội, đặc biệt là bài báo đăng ngày 28 tháng 5 trên tờ Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng sản, đã cho thấy nhiều hạn chế trầm trọng trong bản tuyên bố của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam chẳng hạn: Chỉ tài sản của tư nhân thuộc các xí nghiệp nào không cộng tác với đế quốc hay với chính quyền phản động cũ mới được bảo đảm, được giữ lại.

Phó Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công Tự Do vừa tuyên bố 70 phần trăm xí nghiệp miền Nam Việt Nam kể từ nay sẽ được đặt dưới sự quản lý hành chánh.

Nhiều quyết định khiến cho nền kinh tế tự do bị sụp đổ và đẩy các xí nghiệp đến phá sản hoặc bị chính quyền “quản lý”:

— Đóng cửa các ngân hàng ngay từ ngày 30 tháng 4 và phong tỏa các trương mục gởi tiền tiết kiệm nhưng lại bắt buộc phải trả tiền ứng trước của ngân hàng. Một hệ thống ngân hàng mới được thiết lập thật chậm và chỉ những xí nghiệp có “phép điều hành” mới được sử dụng.

— Buộc các xí nghiệp phải gánh nhiều chi phí quan trọng: tái tuyển các nhân viên đã bị sa thải từ trước, trả lương cho nhân viên không làm việc (vì xí nghiệp bị đóng cửa theo lệnh chính quyền), trả tiền bồi thường nghỉ việc thật nặng, từ ngày 30-4-75, cả cho nhân viên không bị sa thải hay không xin nghỉ việc.

— Đưa biện pháp “cấm bán” bất chấp nhu cầu của xí nghiệp hay các nhu cầu của thị trường.

— “Quản lý” các xí nghiệp mà chủ nhân đã rời Việt Nam hay các xí nghiệp mà chính quyền nghi ngờ về chủ quyền thật sự của chủ nhân.

— Không có khả năng để nhập cảng hay xuất cảng.

— Thông tin và liên lạc với thế giới co cụm lại chỉ còn điện báo. Đường thư tín chỉ thiết lập lại từ ngày 1 tháng 9, nhưng giới hạn không quá 500 gram.

Chính quyền mới kiểm soát thật chặt chẽ và độc đoán tất cả các ngành kinh tế.

Trong hai tháng, kể từ ngày “giải phóng”, Ủy Ban Quân Quản nắm quyền kiểm soát mọi xí nghiệp nhưng hoạt động chủ yếu chỉ là lập các bản kiểm kê tài sản, động sản, bất động sản và các kho tàng hiện hữu.

Từ 1 tháng 7, những vị “thanh tra Nhà Nước” được đặt vào các xí nghiệp. Họ là đại biểu của chính quyền với hai vai trò cùng một lúc: vừa giám sát, kiểm tra tài chánh, vừa là cán bộ chính phủ có đầy đủ thẩm quyền điều tra rộng rãi. Mọi dịch vụ của xí nghiệp đều phải được “khán” và “chấp thuận” của những vị này.

Tuy thế chủ nhân vẫn chịu trách nhiệm về xí nghiệp, dù đã hết quyền hành.

Nhiều công ty quốc doanh hay tổ chức “bán chánh thức” thành hình để lãnh việc phân phối hay bán ra mọi sản phẩm, và xí nghiệp không được quyền từ khước dịch vụ của những tổ chức đó.

Giá cả do chính quyền đơn phương ấn định, nhưng các nơi mua trả tiền rất chậm. Một số cơ quan quân sự hoặc hành chánh còn bán lại ngoài thị trường tất cả hay một phần hàng hóa đã mua được của các xí nghiệp.

Kế hoạch sản xuất và mọi hướng dẫn đều do các Bộ ở Hà Nội thiết lập. Không một cơ quan hành chánh kinh tế nào thật sự có mặt ở Sài Gòn.

Hầu hết dịch vụ xuất nhập cảng ngừng hẳn. Giao dịch quốc tế chỉ giới hạn trong vài chuyến hàng lặt vặt do các “quốc gia anh em” gởi tặng với tư cách nhân đạo (lương thực và xăng dầu Liên Xô, đường của Cuba v.v…)

Những hiệp ước hữu nghị và hợp tác kinh tế được ký với Liên Xô, Algérie, Libye và Irak đã được chính quyền loan báo, nhưng không bao giờ tiết lộ nội dung. Úc Châu cùng một số quốc gia Bắc Âu có hứa sẽ viện trợ kinh tế.

Nhiều kho dự trữ hàng hóa sẵn sàng để xuất khẩu, nhưng do chính quyền không có khả năng nên số hàng hóa đó vẫn nằm tại chỗ. Tương lai các xí nghiệp Pháp bị liên lụy trầm trọng. Không một thể thức chính trị tổng quát nào được ấn định. Những sự trưng dụng và tạm giữ đương nhiên đã làm hại các xí nghiệp, không phân biệt Việt Nam và Pháp, theo từng lãnh vực hoạt động như những ngân hàng và đồn điền lớn. Một số dịch vụ được dành riêng cho chính quyền (thuê bao phương tiện hàng hải và cước phí cho tàu bè). Buôn bán qua dịch vụ nhập cảng cũng thuộc độc quyền Nhà Nước.

Không còn nghi ngờ việc Hà Nội có vẻ chống đối sự duy trì hoạt động kinh tế của người Pháp. Vị thế của Hà Nội xem ra rất đơn giản: Năm 1954, mọi quyền lợi của người Pháp ở miền Bắc đều mất sạch sau sự kiện Điện Biên Phủ. Năm 1975, quyền lợi của người Pháp chắc cũng mất hết ở miền Nam sau ngày Sài Gòn bị chiếm. Chưa có lời tuyên bố chánh thức nào loan báo theo chiều hướng đó nhưng các cán bộ cách mạng đã nhiều lần khoe với cử tọa Việt Nam về sự tình này.

Hầu hết các xí nghiệp Pháp đang lâm tình trạng sắp phá sản, trừ vài trường hợp ngoại lệ đặc biệt có được hoàn cảnh may mắn (còn tồn trữ được nguyên liệu lúc mất Miền Nam hay sử dụng nguyên liệu địa phương):

— tiền mặt trong kho đã cạn, chi thường quá cao mà không có thu, không nhận được tiền ứng trước của ngân hàng mà còn phải hoàn trả các khoản cho vay của ngân hàng từ trước ngày mất Miền Nam.

— Nguyên liệu tồn trữ cạn dần hoàn toàn không có khả năng thay thế trong tất cả mọi trường hợp.

— Chính quyền, trước tiên là quân sự bây giờ có khi là dân sự, trong mọi trường hợp đều không chút quan tâm đến tương lai các xí nghiệp.

— Nghiệp vụ bán sản phẩm bắt đầu do các tổ chức bán chính thức lo liệu hết.

— Các chủ nhân xí nghiệp đều hết quyền quyết định.

Nhờ sự khéo léo của các giám đốc và nhờ sự giúp đỡ qua lại giữa họ với nhau nên phần lớn xí nghiệp chưa đóng cửa, nhưng một số công ty đã quyết định cho hồi hương nhân viên người Pháp. Văn phòng và Ban Điều Hành của Phòng Thương Mãi Pháp chỉ còn 12 trên 32 người hiện diện trước khi Sài Gòn bị chiếm đóng.

Các xí nghiệp chi dùng tất cả những gì hiện có, hầu hết đều lâm cảnh suy sụp vì cố giữ cho xí nghiệp không bị phá sản nên tình trạng tài chánh càng ngày càng bi đát. Bây giờ đã có một số xí nghiệp thấy cần phải đi đến quyết định đóng cửa. Nhưng chính quyền quân sự chẳng những không cho phép mà còn buộc phải tiếp tục trả lương cho nhân viên của họ. Chuyện cho nghỉ việc từng phần cũng bị cấm. Các giám đốc công ty, xí nghiệp người Pháp đang trở thành những “con tin” của thợ thuyền.

Trên bình diện nhân viên, người Pháp ở mọi đẳng cấp đều rất nản. Đã hơn 4 tháng, họ không được ra khỏi Sài Gòn, không nhận được thư từ báo chí. Tình trạng sinh sống của họ rất khó khăn. Thuốc men khan hiếm và các bệnh viện cũng không có thuốc. Không có quyết định nào cho ngày tựu trường. Liên lạc với chính quyền đôi lúc không được nhã nhặn lắm và rất khó khăn với các Ủy Ban cách mạng. Quá nhiều nhà cửa bị tịch thu. Không có sự bảo đảm nào để tìm lại được căn nhà cùng đồ đạc của mình lúc mình vắng mặt và cũng không được phép gởi hay mang theo vật dụng cá nhân, nếu có may mắn được rời Sài Gòn. Xin được một chiếu khán xuất cảnh không có nghĩa là sẽ có một chỗ trên phi cơ. Và có được một chỗ trên phi cơ không có nghĩa là vào được phi trường. Đã có nhiều chuyến bay bị hủy vào giờ chót. Hầu hết người Pháp đều mong được ra đi.

Do đó, giữ được quyền lợi kinh tế của người Pháp ở Việt Nam quả là một điều bấp bênh, vì tùy thuộc hoàn toàn vào những yếu tố chính trị.

Những hoạt động quan trọng không còn nữa, ngân hàng bị chiếm hữu và tịch thu, các hãng bảo kê đang nằm chờ “tự giải tán”, chuyện ký gởi tàu thuyền và môi giới hàng hải đã ngưng; nghiệp vụ nhập cảng cũng bị cấm, hàng xuất khẩu của các đồn điền lớn bị tạm giữ.

Nói một cách tổng quát, tất cả xí nghiệp (nhỏ hay trung bình) kể như bị xử tử trong một thời gian quá ngắn.

Những đại diện cho quyền lợi kinh tế Pháp ở Việt Nam mất hết hy vọng đã rời khỏi Việt Nam hay đang cố gắng rời khỏi nơi đây. Các biện pháp mới liên quan đến sự ra đi của những người có trách nhiệm trong xí nghiệp biến họ thành những con tin trong tay chính quyền và những ủy ban cách mạng địa phương. Xí nghiệp bị cấm không được đóng cửa mà lương nhân viên vẫn phải tiếp tục trả!

Một sự tranh chấp rất nặng nề đang được chuẩn bị…

(Hết Chương 26)

Share this post