Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 3 (Tiếp theo)

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 3 (Tiếp theo)

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 3
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

(Tiếp theo)

Tướng Weyand, tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ được Tổng Thống Ford gởi khẩn cấp đến Sài Gòn để đánh giá tình hình quân sự tại đây. Phát ngôn viên Nhà Trắng, M. Ron Nessen, xác nhận “cựu chỉ huy trưởng quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam” có nhiệm vụ trao cho chính phủ Sài Gòn một công điện qua đó Tổng Thống Ford bảo đảm với Tổng Thống Thiệu là ông quyết định nỗ lực tối đa để được Quốc Hội “chấp thuận những ngân khoản cần thiết”.

Nhưng Quốc Hội Hoa Kỳ đui và điếc trước thống khổ của một dân tộc bạn bị tai họa giáng xuống và đang kêu cứu. Họ quyết định “nghỉ hè” cho đến ngày 7 tháng 4.

Không thể tả hết cảnh hỗn loạn trên các con lộ ở miền Nam Việt Nam.

Đà Nẵng, thành phố mà người Mỹ trù tính trong vòng 8 ngày sẽ di tản hết dân chúng bằng một cầu không vận khổng lồ trong lịch sử chiến tranh, đã nhận số phận bị bỏ rơi vào ngày 29-3-1975. Sáu trái hỏa tiễn rơi vào phi trường… và cuộc di tản đương nhiên bị đình hoãn. Đà Nẵng là một thành phố với một hải cảng đầy ắp tàu thuyền, một bán đảo được phòng thủ chặt chẽ, với một phi trường chiến lược, với một hệ thống kho tàng đầy ắp lương thực, đạn dược và chiến cụ có thể kháng cự trong nhiều tháng. Thành phố đã bị mất không một tiếng súng, và sự ra đi của những chiếc phi cơ và trực thăng cuối cùng đã tạo nên cảnh tượng hết sức kinh hoàng. Đám đông tỵ nạn ùa lại tranh nhau cố leo lên những chiếc phi cơ đã đầy ắp người. Một chiếc trực thăng cất cánh lắc lư làm rơi rụng mấy chùm người đang cố bám vào hai gọng sắt dưới lườn, giống như những con sâu nhỏ đeo vào một con bọ hung lớn. Họ rơi lả tả từ trên không, rớt xuống đất bẹp nát từng đống nhỏ không còn hình dạng con người, máu me be bét.

Phụ nữ trẻ con gào khóc, van xin và cố gắng trèo lên một chiếc khác cũng đã đầy cứng người rồi. Có những báng súng đập vào bàn tay và cánh tay của họ. Một số cố bám vào lườn môt chiếc Boeing đang gầm rú để bốc lên khỏi đường bay. Khi đến Sài Gòn người ta còn tìm thấy một tử thi bị xé nát của một người nào đó bị cuốn chặt vào hệ thống bánh xe hạ cánh của chiếc Boeing 707 nói trên.

Ba ngày sau khi Đà Nẵng thất thủ, lại đến lượt Nha Trang! Ở đây 300.000 dân tị nạn còn sống sót từ vùng Cao Nguyên và từ các tỉnh miền Trung chạy về đã bị gọng kềm của chiếc bẫy sập cộng sản đóng kín họ lại. Cam Ranh, một vịnh đẹp nhất vùng Á Châu cũng đang di tản. Pháo binh Bắc Việt cứ tiếp tục nã đạn vào các đoàn người di cư đang chạy trốn cộng sản hướng về miền biển.

oOo

Hoa Kỳ vẫn ở tình trạng mập mờ bối rối. Quốc Hội còn nghỉ hè… Ít lâu sau, Tổng Thống Ford cũng bắt chước, thong dong chơi “gôn” tại Palm Springs, California.

Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller thì ước tính là “thật sự quá muộn” để làm một việc gì đó cho Việt Nam, kể cả giúp đỡ những người dân đang chạy loạn. Ông còn nói thêm một câu khích động hết sức vô liêm sỉ: “Tôi nghĩ rằng có một số lớn những người này sẽ chết… Thật đáng buồn, thật quá bi thảm. Nhưng chúng tôi cần phải tiếp tục sống, và tiếp tục đi tới chớ.

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam hiện đang ở Hoa Thịnh Đốn đã lên án người Mỹ “không đưa nổi một ngón tay lên” để binh vực cho đất nước mình. Ông nói: “Tôi nghĩ rằng khắp nơi trên thế giới, mọi người đều có chung một kết luận rất bất lợi cho chúng ta. Có nghĩa là thà làm một đồng minh của cộng sản còn hơn là bất hạnh được làm đồng minh của Hoa Kỳ.

Tại Paris, đại diện của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (GRP) lên tiếng mạnh mẽ tố cáo cái mà họ gọi là chính quyền Ford và tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu “ép buộc dân chúng miền Nam phải di tản. Ông ta quả quyết là hàng trăm ngàn người đã nghe lời tuyên truyền xảo trá và bị hăm dọa dưới họng súng, bị buộc lìa bỏ nhà cửa và nơi chôn nhau cắt rún để phải chết đói, chết bệnh trên đường di tản. Nhiều ngàn người vì không chịu chạy trốn đã bị hành quyết!

Đó là một đại diện không sợ gieo trồng điều nghịch lý và không bận tâm về sự phản bác bởi chính các sự kiện thực tế đã xảy ra. Chính phủ cách mạng lâm thời mà ông ta đang nhơn danh để tuyên bố, từng phủ nhận từ nhiều năm tư cách đại diện cho nước Việt Nam của Tổng Thống Thiệu, bỗng đùng một cái, ông ta công nhận thực quyền phi thường của vị Tổng Thống này là làm cho người dân tin theo… một quyền lực tâm lý có khả năng di chuyển cả một khối người, bắt họ rời bỏ nhà cửa ruộng vườn để đi về những thành phố cuối cùng dưới sự lãnh đạo “độc tài” của mình. Ở thời điểm nào và bằng cách nào mà binh sĩ của Tổng Thống Thiệu đang tan rã không qua một cuộc chạm súng và đang cùng chạy trong đám dân chúng, lại có thể dùng họng súng để buộc hàng triệu người phải di tản, chạy về các sân bay hay các bến cảng đang lần hồi bị đóng cửa trước mặt họ? Hàng chục ngàn người vì quá sợ binh sĩ cộng sản Bắc Việt mà phải bỏ chạy, đã chết vì đói khát, vì mệt lả, hoặc bị  tàn sát một cách có phương pháp, có tổ chức mà thân nhân của họ từng là nạn nhân ở Quảng Trị và Huế năm 1968. Nhiều ngàn và nhiều ngàn người đã bị hành quyết, bằng đạn pháo đủ cỡ đủ loại của cộng sản trong mấy tuần lễ sau cùng này, khi Bắc Việt muốn ngăn cản họ chạy đi.

oOo

Tại Sài Gòn, cuối cùng thì chế độ của ông Thiệu dường như được tính từng ngày. Người ta không thể tha thứ cho ông vì sau khi Ban Mê Thuột bị thất thủ, ông đã ra lệnh rút tất cả quân đội từ miền Trung và từ Cao Nguyên: vội vàng và cẩu thả, hành động rút quân này đã dẫn tới một sự tháo chạy mà ngay Bắc Việt cũng không bao giờ tiên đoán được.

Bị đối lập tấn công từ nhiều tháng qua, bây giờ ông lại bị Thượng Viện bỏ rơi, một Thượng Viện từng dành cho ông sự tín nhiệm hết sức rộng rãi. Sau 8 tiếng đồng hồ thảo luận, 41 trên 42 nghị sĩ hiện diện đã đứng lên chống “sự bất lực của chế độ” và đòi hỏi thành lập khẩn cấp một chính phủ đoàn kết quốc gia gồm những nhân vật “có khả năng, liêm khiết và đại diện cho dân”.

Chính phủ mới thành lập này phải cộng tác chặt chẽ với Quốc Hội và các đoàn thể quần chúng, nhanh chóng làm việc trong mục đích tái lập lại sự “ổn định quân sự, xã hội và chính trị”.

Tướng Nguyễn Cao Kỳ hiếu động, cựu Phó Tổng Thống và cựu tư lệnh Không Quân miền Nam Việt Nam, về hưu từ năm năm, đã đứng ra thành lập “Ủy Ban Hành Động để Cứu Quốc”, hô hào sự ra đi của Tổng Thống Thiệu. Cảnh sát phá vỡ hai âm mưu đảo chánh và đã bắt giữ nhiều sĩ quan.

Nhiều điện tín sau cùng cho biết đã có sự hốt hoảng tại thủ đô miền Nam Việt Nam. Tất cả những chuyến bay thường lệ rời Sài Gòn đều hết chỗ. Các ngân hàng bị khách hàng bao vây để rút tiền. Chỉ trong vòng một ngày, giá chợ đen đồng Mỹ kim tăng vọt từ 700 lên đến 1600 đồng.

Vào giờ phút miền Nam Việt Nam đang lung lay và bị đe dọa sụp đổ dưới sự tấn công dồn dập của các sư đoàn cộng sản Bắc Việt mà sức tiến của họ hình như không còn gì kềm hãm, một trong nhiều câu hỏi đang làm bận tâm nhưng chưa thấy được nêu lên: Trong trường hợp quân Bắc Việt thắng, thì những kiều dân Pháp và quyền lợi của nước Pháp ở đây sẽ còn hay không?

12.000 kiều dân Pháp có một nhiệm vụ quan trọng trong đời sống của miền Nam Việt Nam. Quyền lợi Pháp, được ước tính đến 1 tỷ 730 ngàn quan, phân ra như sau:

— cơ sở kỹ nghệ (đầu tư và trữ kim): 650 triệu quan.
— các vườn cao su và xí nghiệp: 650 triệu quan.
— trà và cà phê: 10 ngàn mẫu.
— doanh nghiệp: (đầu tư và trữ kim) 100 triệu quan.
— xí nghiệp vận tải và nhà xe, vận tải đường sông và đường biển: 150 triệu quan.
— ngân hàng, công ty địa ốc và bất động sản: 180 triệu quan.

Các sự đầu tư này không chỉ là đầu tư ngoại quốc duy nhất có phần bền vững mà còn chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của miền Nam Việt Nam. Con số mậu dịch lên gần 800 triệu quan Pháp và phần đóng góp vào ngân sách miền Nam Việt Nam được khoảng 23%.

Những đầu tư kỹ nghệ này — ít được dân chúng bên Pháp biết đến — hình thành phần lớn kỹ nghệ công nghiệp của miền Nam Việt Nam gồm các xí nghiệp tân tiến nhất như: hãng Citroen đã lắp ráp những xe thông dụng, đặc biệt là xe La Dalat; xưởng sản xuất xi-măng Hà Tiên; hãng Isostat (kỹ nghệ điện tử), các hãng Elf-Erap và CFP dự phần vào công tác tìm dầu khí ngoài khơi Việt Nam. Hơn thế nữa, các công ty hàng không (Air France đang cộng tác với Air Việt Nam và UTA.), công ty hàng hải (Messageries và Chargeurs Réunis) đang hoạt động gần như độc quyền trong công tác chuyển vận quốc tế từ Việt Nam đến Nam Âu Châu và ngược lại.

Những lợi thế mà pháp chế ở đây dành cho đầu tư của người Pháp, sự khéo tay của nhân công sở tại, vị trí địa dư thuận lợi cho khả năng xuất cảng, mối giao hảo tốt với nước Pháp và các nước bạn quanh đó (các nước nói tiếng Pháp) đã cống hiến nhiều viễn ảnh và điều kiện làm việc rất đáng được khuyến khích.

Ảnh hưởng văn hóa Pháp còn rất đáng kể. Tất cả thành phần lãnh đạo miền Nam Việt Nam và hầu hết cán bộ cao cấp đều nói tiếng Pháp. Những cơ sở văn hóa Pháp rất nhiều. Một viện văn hóa Pháp ở Sài Gòn, ba trung tâm văn hóa ở Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang; sáu trường trung học (Yersin, Dalat, Blaise-Pascal, Đà Nẵng, trường Trung học Pháp ở Nha Trang, trung học Marie Curie); trung tâm giáo dục Saint Exupery, trung tâm học vụ Colette ở Sài Gòn. Nước Pháp cũng giúp đỡ cho nhiều trường sở Việt Nam dưới danh nghĩa hợp tác văn hóa và kỹ thuật (trung tâm hướng dẫn học vụ, Đại học Văn chương và Sư phạm Sài Gòn và Huế, Đại học Y Dược của Sài Gòn, Trung tâm kỹ thuật quốc gia Phú Thọ).

Số học sinh, sinh viên ghi tên vào các trường nói trên lên đến 14.000 và nhân viên giảng dạy người Pháp là 272 người. Ngoài ra, còn có những trường khác, trường tư và trường đạo dạy toàn bằng tiếng Pháp: trường trung học Taberd (Sài Gòn), trung học Fraternité (Chợ Lớn), Les Oiseaux (Đà Lạt và Sài Gòn ), l’Alliance Francaise (Sài Gòn). Các giáo sĩ và các dì phước có mặt khắp các bệnh viện, các trại cùi, các trung tâm xã hội và đã tận tụy hy sinh phục vụ không có sự tính toán nào. Bệnh viện Grall, một trong những bệnh viện tối tân nhất vùng Đông Nam Á, trong đó tất cả nhân viên có trách nhiệm (bác sĩ, giải phẫu, quang tuyến, dược sĩ và quản lý) đều là người Pháp, là một bệnh viện danh tiếng không thể chối cãi.

Tất cả cơ sở đó, tất cả những nam nữ nhân viên đã dính líu thật sâu đậm vào đất nước này, tất cả những đóng góp về văn hóa và nhân đạo của nước Pháp… sẽ còn lại gì, trong trường hợp có một chiến thắng của cộng sản ở đây?

Lúc đó còn quá sớm để ức đoán về tương lai, nhưng dù sao cũng có thể thiết lập một sự so sánh với những gì đã xảy ra trong quá khứ ở miền Bắc Việt Nam. Vào năm 1954, quyền lợi của Pháp ở nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam lên đến 100 tỷ đồng quan cũ. Sau đó giao dịch kinh tế với chế độ Hà Nội coi như không có gì cả. Các cơ sở Pháp đều biến mất. Không có cơ sở giáo dục nào ở cấp đại học hay cơ sở y tế nào còn hoạt động. Con số kiều bào Pháp từ gần 6.000 vào năm 1954, bây giờ chỉ còn 21 người gồm cả 16 nhân viên Tòa Đại Sứ. Năm người còn lại là nhà báo của AFP, của tờ Humanité và tờ Unita (hai tờ báo của cộng sản Pháp và Ý). Tiếng Pháp là ngôn ngữ mà những người dưới 50 tuổi không người nào biết. Đối với những người khác thì tiếng Pháp là một sinh ngữ ngoại quốc đứng vào hàng thứ tư sau tiếng Nga, tiếng Tàu và tiếng Anh.

Từ sự hiện diện khi xưa, giờ này trên bình diện kinh tế, chỉ còn một hồ sơ tố tụng về nợ nần không bao giờ giải quyết được và một khế ước bồi thường cho những mỏ than cũ ở miền Bắc của người Pháp mà Bắc Việt đã cho đình chỉ thi hành năm 1963. Lãnh đạo của Hà Nội chỉ cần vài năm là quá đủ để họ bôi xóa hết dấu vết ảnh hưởng của người Pháp ở miền Bắc Việt Nam.

Như vậy có thể nào người ta đặt hết tin tưởng vào một hy vọng là họ sẽ tỏ ra bớt mau chóng hơn nếu họ chiếm được miền Nam?

(Hết Chương 3)

Share this post