Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 8

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 8

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 8
ĐỪNG BAO GIỜ TIN CẬY HOA KỲ NHƯ ĐỒNG MINH

Thứ Năm, 10 tháng Tư

Quanh vòng đai thủ đô, nhiều xe ủi đất và máy xúc đang liên tục đào từ tấn này đến tấn khác đất và đá sỏi, để hàng ngàn nhân công quần cụt, sơ mi ngắn tay màu đen, dùng xe đẩy nhỏ, đưa đến dùng vá xúc đổ vào các thùng sắt kết nối từng 4 thùng cột với nhau bằng dây sắt, được đặt trên các lề đường dùng làm tường chống chiến xa.

Tất cả xe đò từ các tỉnh đến Sài Gòn đều được quân cảnh lục soát, kiểm tra kỹ. Mọi ngã tư đường quan trọng đều có các cuộn kẽm gai bao quanh. Các đầu cầu đều có binh sĩ canh gác với các loại vũ khí nặng đặt trong các lô cốt xi-măng hay trong hầm trú ẩn có bao cát ở trên.

Những chuẩn bị chiến tranh không hề làm bận tâm người dân thủ đô. Ở khu vực ngân hàng, sau mấy ngày xô đẩy chen lấn ồn ào, sự yên tĩnh đã trở lại. Đồng Mỹ kim tuần trước vụt lên 1600 đồng thì nay đã giảm xuống mức 1000 đồng. Chợ Lớn, trung tâm thương mại và tài chánh Việt Nam tiếp tục sinh hoạt bình thường. Không khí buôn bán không có gì thay đổi. Các hàng chữ màu đen hay màu vàng trên bảng hiệu treo trước các cửa hàng luôn thu hút cái nhìn. Buôn bán vẫn là ưu tiên. Trước hết là các cửa hàng bách hóa bày la liệt đủ mọi thứ: nón phớt Ý, dầu thơm Pháp, máy ảnh Nhật… treo dài dài trên tường giữa ly tách và nồi niêu… Hàng tá đèn lồng bày thành bốn năm hàng dài trên các kệ, đèn chùm đủ kiểu treo lòng thòng từ trần nhà. Đèn điện sáng choang, vì người Tầu không ưa bóng tối. Kế đến là các hàng tạp hóa với nhiều loại rượu: rượu khai vị Pháp, rượu vang Úc Châu, sâm banh thượng hảo hạng thường chỉ có nhãn hiệu là thật. Các loại bánh bít-quy của Anh… nhưng phần chắc là làm ở Hong Kong. Các tiệm buôn thường chia ra 2 hay 3 ngăn, mỗi ngăn mỗi chủ khác nhau. Người ta thuê, rồi cho thuê lại: khúc trước bán cà phê, khúc sau có thể là tiệm hớt tóc. Các tiệm bán trà có hàng trăm bình trà bằng đất nung, nhưng phía sau lại có các hũ rượu nếp. Trong các tiệm ăn, mấy anh bồi bàn mặc áo thung lá lăng xăng quanh các thương gia béo phì và vui vẻ, lâu lâu lại vén áo thung ba lá lên rất tự nhiên để cho mát cái bụng phệ. Đứng trước các bếp lò, năm sáu anh đầu bếp, lưng trần đang lo nấu cơm hay làm món ra-gu đậu. Hiệu ăn nào cũng treo đầy lạp xưởng, những miếng thịt xá-xiếu dài, những con vịt khô dẹp và những chùm ớt đỏ chói…

Quanh các tiệm tạp hóa, chạp phô hay các kho hàng lúc nào cũng đủ mặt các tay tiểu thủ công: thợ vá giày, thợ sửa khóa, thợ ráp khuôn hình… Các cô bán bông bày hàng trước các tiệm trồng răng, các tiệm kính trưng bày các loại gọng, loại kính đủ màu đủ kiểu…

Ngoài kia là con kênh đầy thuyền bè, sà lan, ghe chài lớn và tiếng vịt quang quác trở về từ miền tây dựng lên những vựa gạo Tàu sừng sững. Bóng dáng những chủ vựa cao vòi vọi phủ trùm các túp lều lụp xụp của công nhân và phu khuân vác. Không khí đầy những hạt bụi lấm tấm màu đen do việc dùng trấu làm nhiên liệu đốt lò xay lúa tỏa ra cả một đám mưa bụi tro. Quanh các nhà máy xay, những bao gạo được chất lên như thành quách vươn ra các bến cảng… để chờ đổi thành lớp lớp bạc triệu.

Những hình ảnh phong phú này đặc biệt trái ngược với các mẩu tin từ chiến trường.

Chơn Thành, thị trấn nằm giữa một ngã tư giao lộ quan trọng cách Sài Gòn chỉ 80 cây số về hướng Đông Bắc, vừa phải di tản. Thị trấn bé nhỏ này với vài xã nghèo nàn bao quanh một ngôi nhà thờ vách ván, là nơi xảy ra nhiều trận giao tranh đẫm máu. Các khu rừng tre lân cận từng bị bom từ pháo đài bay B.52 cày nát và đốt cháy. Việt Cộng đã đào đường hầm hẹp ngoằn ngoèo dài hàng cây số trong vùng rừng bụi quanh thị trấn. Nhưng Biệt Động Quân đã đánh bật họ đi hết và chiếm lại khu săn bắn xa xưa này…

Từ Chợ Lớn về, tôi gặp anh bạn Lupi, một người đảo Corse ốm yếu và hay bồn chồn, tóc đã bạc phơ nhưng cặp mắt còn đen nhánh tinh anh. Sau 30 năm sống liên tục ở Đông Dương, anh gần như sạt nghiệp. Đồn điền của anh gần đèo Blao trên đường đi Đà Lạt đã bị cháy tiêu. Ngày hôm kia anh có mặt ở Xuân Lộc.

Với giọng nói không thay đổi của người dân đảo Corse, anh cho tôi biết:

Anh biết không, trong rừng thuộc tiểu khu này, bộ đội chánh quy cộng sản đông như kiến. Thành phố Xuân Lộc đã biến thành căn cứ cuối cùng khủng khiếp chỉ gồm toàn pháo đài và ổ mối. Sư đoàn chính phủ với nhiệm vụ phòng thủ thành phố phải sống dưới hầm và trong các lô cốt bằng bê tông, ở các giao thông hào hay núp kín sau các ụ đất. Mỗi nhà kho, mỗi mảnh sân đều biến thành một hầm trú ẩn chống chiến xa, hay chỗ đặt một ổ đại liên… Mỗi đêm Xuân Lộc đều ăn hỏa tiễn của cộng sản Bắc Việt.

Thế dân chúng làm gì?

– Con số thường dân tăng lên gấp đôi. Hàng chục ngàn dân tỵ nạn từ khắp nơi kéo đến, ở cùng khắp thành phố, tại các sân trường, trong các hầm hố, che lều hay mắc võng vào thân cây để nằm. Và không một ai muốn rút lui hết. Sớm muộn gì cộng sản Bắc Việt cũng sẽ tấn công đến nơi rồi. Các sĩ quan của miền Nam Việt Nam mà tôi gặp đều khẳng định là họ không lùi nữa.

oOo

Trước tòa đại sứ Hoa Kỳ, mấy trăm người Việt đang xếp hàng trên lề đường chờ xin phép nhập cảnh để đi Mỹ.

Đại sứ Graham Martin không tiếp báo chí và không rời khỏi sứ quán vừa là một dinh thự vừa là một pháo đài sơn màu trắng ngà, bao quanh bằng một bức tường bê-tông có gắn máy chụp ảnh tự động. Hai binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến với lễ phục lớn (nón kết trắng, găng tay trắng, quần chạy nếp đỏ) đứng gác luôn trong tư thế Nghiêm trước hai cánh cửa bọc sắt có ổ khóa chỉ được mở bằng máy vi tính từ xa qua mật mã. Nóc bằng của sứ quán đã được cải biến thành bãi đáp cho trực thăng.

Luôn luôn mặc quần áo màu hạt dẻ, cả giầy cũng vậy, Graham Martin, 62 tuổi, người cao lớn, rắn rỏi, trán có nhiều nếp nhăn sâu, mặt cũng có nếp nhăn và quầng thâm, giờ đây có dáng đi nặng nề mệt mỏi của một võ sĩ quyền Anh già đã đấu quá nhiều nhưng lại từ khước không chịu cho đôi tay ngơi nghỉ! Phải nói rằng nhà ngoại giao Hoa Kỳ này có một lối xử sự bất bình thường. Trái hẳn các đồng nghiệp luôn giữ vẻ “lạnh nhạt”, dù tình hình nghiêm trọng cỡ nào vẫn biểu hiện thái độ dửng dưng khác thường, ông Martin là một người trọng danh dự, tin tưởng giá trị của lời hứa đã đưa ra, và là một người biết đau khổ, biết xúc động. Ông đã mất một người con trai trong chiến cuộc Việt Nam và không chấp nhận đứa con đã hy sinh một cách vô ích. Ông đã giận dữ với các nhà báo và các nghị sĩ theo chủ nghĩa “hòa bình”, những người quên hay chối bỏ sự hy sinh của 58,000 binh sĩ Hoa Kỳ ở Việt Nam. Thay thế đại sứ Ellsworth Bunker sau khi Hiệp Định Paris vừa được ký kết, người được coi như là “cha đỡ đầu của Tổng Thống Thiệu”, ông Graham Martin, một nhân vật thẳng tính, không mưu mẹo quanh co, ngay từ lúc đầu đã cố gắng giúp đỡ và che chở cho vị Tổng Thống miền Nam Việt Nam. Ông tranh đấu với Quốc Hội suốt năm vừa qua đòi hỏi Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế như đã hứa cho Miền Nam Việt Nam, nhưng ông thất bại.

Từ sau khi Cao Nguyên bị thất thủ, ông công khai biện hộ và vận động riêng để sự cứu trợ cấp thời phải được gởi sang Việt Nam; và bằng mọi phương tiện có sẵn, ông cố nâng đỡ tinh thần người dân miền Nam. Ông còn đi xa hơn bằng hành động phối hợp cuộc hành quân “bốc trẻ mồ côi”, một việc va chạm tinh thần dân tộc và lòng kiêu hãnh của người Việt Nam. Trong một bức thư riêng gởi Thủ Tướng chính phủ Việt Nam, ông đã giải thích rằng phản ứng xúc động do hoàn cảnh vô cùng khốn đốn của các trẻ mồ côi có thể sẽ làm nghiêng cán cân dư luận của dân chúng Hoa Kỳ có lợi cho miền Nam Việt Nam. Nhưng nội dung lá thư riêng của ông lại được tung ra cho báo chí gây nên một làn sóng phản đối dữ dội.

Tuy vậy, ông Martin không ngã lòng. Và như khiếp sợ những cuộc trốn chạy, ông cẩn thận hơn đối với giới báo chí và các nghị sĩ tò mò. Ông buộc các cộng sự viên đề cao cảnh giác và nêu gương phẩm cách của mình, khuyên họ không nên buông thả theo “tính chủ bại” bằng nỗ lực thuyết phục là “cuối cùng Hoa Kỳ cũng thức tỉnh”.

Giữa lúc sự tan rã gần như khắp nơi, khi mà hàng trăm ngàn dân tỵ nạn dồn nghẽn hết đường sá và thành phố này nối tiếp thành phố khác thất thủ, ông vẫn bày tỏ một sự lạc quan không lay chuyển, mỗi ngày cẩn thận tính sổ các xã ấp mà Sài Gòn còn kiểm soát được và gởi về Hoa Thịnh Đốn nhiều điện văn “tối khẩn” đòi hỏi những chương trình phát triển kinh tế dài hạn cho phần đất còn lại của miền Nam Việt Nam.

Khi Hoa Thịnh Đốn đòi ông Martin phải lo di tản 5000 người Mỹ hiện còn ở miền Nam Việt Nam, ông đã trả lời bằng một công hàm gay gắt, khuyên Bộ Ngoại Giao hãy khóa “vòi nước hoảng loạn” lại. Martin không giấu giếm với những người bên cạnh rằng ông coi việc “di tản” này như một “tháo chạy nhục nhã”, một “hành động hèn nhát”, một hành động “phản bội có cân nhắc” đối với một đồng minh đang gặp nguy cơ đứng trước cái chết…

oOo

Vào lúc trở xuống đường Catinat, tôi không thể không nghĩ tới sự thay đổi lạ lùng về đường lối chính trị Hoa Kỳ và sự rời rã của khối dân cử của họ.

Đã một thời Hoa Kỳ có một vị Tổng Thống mang tên là Richard Nixon. Nhiều trung tâm có uy tín đã ghi nhận rằng nhiều đồng hương không ưa ông và tố cáo cách điều hành chính phủ của ông. Họ nhìn nhận một số việc ông “biết làm” trong vấn đề đối ngoại, nhưng họ nghiêng theo cách nghĩ rằng ở lãnh vực này, Henry Kissinger – họ gọi là “chất xám của Nixon” – mới chính là người thợ khéo đã gây dựng các thành công cho ông Chủ Nhà Trắng.

Một màn tranh đấu đầy khả nghi, ghi dấu bằng những cú đấm hạ tiện, cuối cùng đã buộc ông Nixon phải từ chức. Tám tháng trôi qua từ đó. Và hình như nền công lý nội tại muốn trả thù cho danh dự của một người bị chà đạp bởi một dân tộc bạc bẽo, Hoa Kỳ đã chấn động bởi cuộc khủng hoảng kinh tế không miễn trừ một quốc gia Tây phương nào, để bắt đầu biết rõ hương vị chua chát của sự tỉnh mộng ở ngoài biên giới của họ!

Bây giờ chúng ta tham dự chuyện gì? Sự hoảng loạn của một Bộ Trưởng Ngoại Giao mà từ Quốc Hội đến báo chí đều không ngần ngại bắt ông ta phải từ chức.

Con người siêu nhân hoạt bát đeo cặp kính lớn, từng là vị tiến sĩ phép mầu ngày nào, nay gần như một ảo thuật gia mệt mỏi khiến khán giả chán ngấy, vì không diễn được trò nào ra hồn. Trên sân khấu buồn tẻ của Gerald Ford đầy thiện ý, nhưng không còn ai muốn nghe những lời cảnh cáo, do thiếu quyền lực và không có uy tín, ông tỏ ra hoàn toàn không có khả năng áp đặt quan điểm của mình cho các đồng viện trong Lập Pháp.

Mặt khác, sẽ phải nghĩ gì về Quốc Hội Hoa Kỳ với những phần tử “tự do” cất cao giọng từ sau các cuộc bầu cử hồi tháng 11 (hậu quả khác của vụ tai tiếng Watergate), khi Quốc Hội đó tự cho phép mình đi nghỉ hè mà không cần nói một lời nào về sự viện trợ bổ túc mà Hành Pháp đã xin cho hai quốc gia đồng minh đang trong cơn hấp hối là miền Nam Việt Nam và Campuchia? Điện Capitol nôn nóng tìm lại chuyện gây gổ xấu xa giữa cơ quan tình báo CIA và cơ quan điều tra liên bang FBI về những tài liệu cũ rích từ 15 năm trước hơn là bận tâm đến những thống khổ của các nước Đông Dương đang kêu cứu trong vô vọng!

Vả lại, tại sao họ phải lo lắng? Miền Nam Việt Nam có mất đi cũng chẳng hề đe dọa nền an ninh của Hoa Kỳ. Sài Gòn và Hoa Thịnh Đốn cách nhau 17,000 cây số!

Chỉ người miền Nam Việt Nam và chỉ có họ thôi, mới có thể khôi phục được tình hình, vì không còn vấn đề tái can thiệp của lực lượng quân sự Hoa Kỳ nữa. Nhưng điều quan trọng và cần thiết là phải cung cấp nhiên liệu và đạn dược cho quân đội miền Nam trước khi quá trễ thì Quốc Hội Hoa Kỳ đã bác bỏ, không chịu chấp nhận.

Như vậy, nếu chiến trận tiến tới và bắt đầu có giao tranh trước khi hàng tiếp liệu được bảo đảm đến nơi, thì quân đội Sài Gòn sẽ thất trận, không phải vì họ đã thua mà vì Hoa Kỳ phản bội họ. Và bài học duy nhất được rút ra từ chiến tranh Việt Nam sẽ là: Đừng bao giờ tin tưởng vào Hoa Kỳ như một đồng minh của mình!”

(Hết Chương 8)

Share this post