Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 1

Việt Nam, Quê Mẹ Oan Khiên (Hồi Ký Pierre Darcourt – Bản Dịch Dương Hiếu Nghĩa) Chương 1

VIỆT NAM, QUÊ MẸ OAN KHIÊN
* Hồi ký của Pierre Darcourt (Tựa đề nguyên tác: “Viet Nam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils?” – Edition Albatros, 1975)
* Bản dịch Việt ngữ: Dương Hiếu Nghĩa
* Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản (2007), tái bản lần thứ nhất (2016) tại Virginia, Hoa Kỳ

CHƯƠNG 1
MỘT NĂM SỬU THUẬN LỢI

Một không khí yên lặng hết sức lạ lùng và kinh ngạc đang đè nặng trên cánh đồng rừng này của miền Nam Việt Nam.

Vào lúc 8 giờ sáng ngày thứ Bảy 27 tháng Giêng năm 1973, cuộc chiến dài nhất thế kỷ (từ hai mươi tám năm nay) trên nguyên tắc coi như được chấm dứt.

Tôi đã chứng kiến cuộc chiến này từ một buổi chiều tháng Chạp năm 1946 trên những con đường âm u của Hà Nội, những con đường đầy âm thanh vang dội của những tiếng nổ, của những  loạt súng đại liên và tiếng reo hò của những Tự Vệ Quân (dân quân của Võ Nguyên Giáp) đang tấn công vào các khu vực của  người Pháp. Dường như tôi đã được nghe thấy cuộc chiến này chấm dứt ở một nơi cách Sài Gòn khoảng 2 giờ lái xe, lúc tôi đang ẩn náu trong một lô cốt ở Đèo Chuối, trên đường đi Đà Lạt và đã cùng chia lon bia với một hạ sĩ quan miền Nam Việt Nam còn rất trẻ, có thể chưa chào đời khi cuộc chiến bùng nổ.

Cái tiền đồn nơi tôi có mặt bị bắn phá suốt đêm bằng hỏa tiễn và súng cối. Khẩu đại liên nặng trên lô cốt nhả đạn trong nhiều giờ. Mùi thuốc súng nồng nặc đưa vào tận cổ họng khiến phải bật ho sặc sụa. Tiếng nổ khiến tôi ù tai. Đạn pháo binh yểm trợ rơi quanh đồn với những tiếng nổ ngắn và kinh hồn rung rinh mặt đất. Đến sáng tất cả tiếng súng im bặt. Ngoài trời ánh nắng ửng hồng dâng lên chậm chạp trong làn sương mù. Sương ướt còn đọng trên các tàng cây to và bãi cỏ. Người chết cuối cùng của trận đánh cuối cùng này gục dưới một hố đạn pháo, đó là thân xác tiều tụy không còn nguyên vẹn của một đặc công Việt Cộng. Những người Thượng đen đúa gần như trần truồng trong mảnh vải thô sơ,  mang gùi trên lưng đang đi xuống chợ. Cuộc chiến ở Đông Dương thực sự chấm dứt chưa? Dù muốn dù không, trên hai trận tuyến đối đầu, cuộc chiến dai dẳng đã chấm dứt mà không giải quyết điều gì ngoài việc lưu lại cho các chiến binh đang nằm giữ chiến tuyến của mình hương vị chua chát của một trận đánh vô ích.

Đây là cuộc chiến duy nhất trong lịch sử không có chiến thắng quyết định nào, dù rằng cả hai bên chiến tuyến đều không ngớt lớn tiếng rêu rao là mình đã thắng trận.

Số lượng bom đạn dùng trong cuộc tranh chấp này đã vượt hẳn số lượng bom đạn của tất cả các cuộc chiến trước đây gộp lại. Cuộc chiến này cũng được hai bên áp dụng mọi hình thức kỹ thuật tác chiến từ tân tiến nhất đến sơ khai nhất. Cuộc chiến này còn là chiến trường điện tử đầu tiên. Các hỏa tiễn viễn khiển đầu tiên đã được sử dụng trong những điều kiện tác chiến thực sự. Cho tới bây giờ, chưa từng có sự tập trung quá nhiều chìến cụ có khả năng hủy diệt như thế trong một thế đất nhỏ hẹp như thế, và ở đó, đôi khi những vũ khí thô sơ nhất lại làm cho những trang thiết bị tinh vi hơn phải thất bại.

Một bên thì có những quả bom tinh khôn (laser-guided smart bombs) tự động điều chỉnh, những hỏa tiễn với đầu đạn biết tìm kiếm mục tiêu và những  phi cơ vận tải khổng lồ… Bên kia thì có từ những “bẫy cọp” bằng tre vót nhọn, những đám người khuân vác đẩy xe thồ, những  thùng quân dụng thả trôi theo dòng nước từ thượng nguồn sẽ được vớt lên từ các lưới thép căng ở hạ lưu cách cả 50 cây số… đến những đoàn xe vận tải nặng Molotova, những  xe tăng lội nước, những  trạm “tên lửa” giấu kín rải rác trong rừng bụi. Các cuộc tàn sát được chọn lựa trước, lạnh lùng lên chương trình trong máy điện toán… và những vụ giết người bằng mã tấu kèm theo hành động cắt xẻo tay chân, nói chung, hết sức ghê rợn…

Cuộc chiến cũng có mọi hình thức kỹ thuật về mặt hạn chế  tầm sát  hại của vũ khí, và những hạn chế này có thể còn gây ra nhiều mất mát về chiến cụ và nhân mạng hơn nữa không chừng. Cuộc chiến phát triển vừa như một cuộc nội chiến vừa là một cuộc đối đầu quốc tế, ở đó các siêu cường có chỗ thí nghiệm các loại vũ khí và chiến cụ tối tân nhất cũng như những chiến thuật tân tiến nhất của mình.

Tuyên truyền và thông tin giữ một vai trò quyết định. Qua truyền hình, chiến sự được truyền đi khắp thế giới, đưa các hình ảnh đẫm máu, bi thảm đến tận những nơi yên tĩnh nhất và được bảo vệ chặt chẽ nhất, đã làm rung động cả nước Mỹ, chia rẽ dư luận Mỹ, gây sự chống đối trong giới báo chí, thúc đẩy nhiều cuộc biểu tình man rợ, và tạo ra một ý niệm xấu cho tất cả các nước văn minh. Hoa Kỳ đã nhảy vào cuộc chiến mà không có một lời tuyên chiến trước và đã tung ra một lực lượng quân sự quan trọng. Đột nhiên, trong lúc các phi hành gia của họ tản bộ trên cung trăng, họ bỗng khám phá ra là từ lâu họ bị rơi vào một cái bẫy mã tấu và đang bị sa lầy, nên họ quyết định bằng mọi giá phải cố gắng thoát khỏi vũng sình mà không bị mất uy tín.

Vào năm 1969, trong đợt rút quân đầu tiên, một anh lính trẻ thuộc lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã mỉa mai cao giọng đề nghị một cách vô liêm sỉ: “Tại sao chúng ta không tuyên bố một cách giản dị là chúng ta đã thắng trận rồi và nước Việt Nam đã hoàn toàn bình định xong, nên chúng ta đi về nhà!

Việc xảy ra sau đó cho thấy người lính này đã nói một câu gần như tiên tri, bởi vì phần chánh yếu đã được làm y như thế. Cuộc chiến Đông Dương là cuộc chiến đầu tiên mà các trực thăng có vai trò quyết định trong tác chiến. Có lúc đã có tới 5000 trực thăng bay trên bầu trời Việt Nam, đưa lực lượng Bộ Binh Hoa Kỳ lên hàng thứ ba của Không Lực thế giới, sau Không Lực Hoa Kỳ và Không Lực Liên Xô.

oOo

Trong thời gian tám năm rưỡi tham chiến của Hoa Kỳ, cộng sản Việt Nam đã tung ra hai cuộc tấn công lớn mà họ tin tưởng là những trận chiến có tính cách quyết định. Đó là cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân (1968) và cuộc xâm lăng chớp nhoáng cuối mùa xuân 1972. Lực lượng Hoa Kỳ và quốc gia đã khởi xướng hai cuộc phản công: vượt qua biên giới Campuchia và xâm nhập lãnh thổ Lào.

Người chiến thắng trận Điện Biên Phủ, tướng Võ Nguyên Giáp chỉ gặt được sự thất bại hoàn toàn trong cả 3 lãnh vực mà ông ta muốn thực hiện: sự nổi dậy của dân chúng các đô thị miền Nam, chiến tranh du kích, và chiến tranh quy ước. Nhưng vừa giấu kín số tử thương, vừa rút nhanh đám tàn quân về để kín đáo bổ sung cho các đơn vị trong các khu rừng rậm trên đất Lào và trên dãy Trường Sơn, ông ta đã khôn khéo làm cho địch quân tưởng rằng quân cộng sản thắng trận.

Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam chỉ thu lượm phân nửa chiến thắng: vì bị giới hạn cả không gian và thời gian nên các cuộc hành quân không được phép thọc sâu hay mở rộng đúng mức để khai thác tối đa các thành quả chiến thắng. Về phía Hoa Kỳ, suốt chiều dài cuộc chiến, binh sĩ chưa bao giờ được thông báo đúng mức trước những sự kiện nhỏ nhất và những tin tức hết sức sai lạc về lý do chính đáng khiến họ tham chiến.

Trái lại, về phía cộng sản, chưa bao giờ cán binh của họ được ngừng thúc đẩy lao vào cuộc chiến và nhận thông báo sai lạc về mọi diễn tiến đang xảy ra. Khi rút quân, người Mỹ vẫn đinh ninh họ đã làm tròn lời cam kết “trong danh dự. Họ đã phải chi ra hơn hai trăm tỷ mỹ kim cho cuộc chiến và mất đi 58.000 người tử vong (trong đó khoảng 10.000 chết vì đủ loại tai nạn, từ lưu thông đến bất cẩn trong việc sử dụng súng đạn).

Cộng sản Bắc Việt đã tàn phá hết đất nước của họ, đâu đâu cũng thấy nhà tan cửa nát, và họ đã mất trên 1 triệu người chết, mà không đạt được mục tiêu đề ra. Những cán binh do họ gài tại miền Nam chỉ sống lẩn lút trong rừng thiêng nước độc hay bưng biền sình lầy, sống xa quần chúng.

Quân dân miền Nam chiến đấu để bảo tồn sự toàn vẹn lãnh thổ của họ. Họ nhìn thấy đất nước của họ bị phân chia, và chính quyền của họ được thành lập qua các cuộc bầu cử có sự kiểm soát từ bên ngoài. Họ giữ vững những thành phố hùng mạnh và thịnh vượng, kiểm soát 85% dân số, nhưng họ cũng có một tổng kết nặng nề: 600.000 quân và dân bị giết, 1 triệu người tỵ nạn. Và thật sự không thấy giải quyết được gì hết.

oOo

Người nào từng “dính líu” vào cuộc chiến này ngay từ đầu cho đến khi tàn cuộc đều sẽ giữ mãi ấn tượng sâu sắc về những hình ảnh đau thương khủng khiếp không bao giờ quên nổi: Hình ảnh lúc khai quật những  mồ chôn tập thể ở Huế, sau cuộc tàn sát ghê rợn Tết Mậu Thân (1968); những phố sá vắng ngắt và đột ngột tan hoang; những tù binh cộng sản nhớn nhác và mặt mũi đầu óc còn như nổ tung bởi những cuộc đánh bom; những phi công Mỹ bị đưa đi diễu hành quanh Hà Nội ngơ ngác tay đưa lên trời dưới ánh đèn chớp của các phóng viên báo chí giữa âm vang tiếng gào thét và những nắm tay của đám đông giận dữ; những xác Việt Cộng bị liên thanh điện bắn hạ hàng loạt như những con mồi của thợ săn, nhưng con mồi là con người; những cơn địa chấn hủy diệt của các pháo đài bay B.52, những cái nhìn khiếp hãi, kinh ngạc, không chịu đựng nổi của những trẻ mồ côi…

Những thị trấn xa xôi hẻo lánh Pleime, Dakto, Khe Sanh, An Lộc… khuất lấp sau các vùng cây rậm rạp đèo heo hút gió nhất, giữa những rừng tre hay cao su bạt ngàn, nằm chơi vơi trên các ngọn đồi đất đỏ hoang vu… đột nhiên trở thành nổi tiếng vào một đêm nào đó, và rồi lại hầu như chìm vào quên lãng trong thời điểm mà tất cả có vẻ đang đến hồi kết thúc. Rất nhiều kỷ niệm và lý lẽ hiện ra trong trí tôi. Tôi đã thực sự trải qua nhiều biến cố, nhiều trận đánh hay các vòng vây hãm, từng theo sau nhiều võng cáng trên mảnh đất ngập tràn tang chế và đầy rẫy thây ma này. Có lẽ tôi phải viết khoảng 20 quyển sách để giải thích những gì tôi đã chứng kiến và cố tìm hiểu. Tôi có thể nói về người Nhật — mà tôi đã chiến đấu chống lại họ. Về các trận chiến ở Hà Nội, Lạng Sơn, Huế. Về những phụ nữ Pháp bị hãm hiếp, bị nhục hình hay bị chế dầu thiêu sống trên vỉa hè cư xá Jauréguiberry… Để làm gì?

Tất cả đã thuộc về dĩ vãng xa xôi quá rồi. Gần đây hơn đang có nhiều người chết và rất nhiều thảm kịch…

Tôi nghĩ đến 3 người bạn của tôi, ba chuyên viên quay phim. Larry Burrows, một người Anh trầm tĩnh đến lạnh lùng, thẳng tánh và gan lì, thích chạy như bay đến trước các trái bom rồi nằm ngửa ra để được nhìn thấy nó rơi xuống và chụp ảnh khi bom nổ. Huet, một người Pháp không bao giờ biết mệt mỏi, bình tĩnh và bướng bỉnh, từng đoạt giải thưởng Capa. Shimamoto, một người Nhật, mềm dẻo nhưng gân guốc, đa nghi và tự hào như một võ sĩ đạo.

Chiếc trực thăng chở họ bùng cháy giữa vùng núi trên đất Lào chỉ cách cánh quân mà tôi đang đi theo vài trăm thước. Không ai đi tìm họ và cánh rừng bát ngát thích ăn thịt người đã chôn vùi những thân xác tù đày dưới cành lá sum suê trong chiếc quan tài bằng sắt bẹp dúm!

Tôi nghĩ tới cuộc bắn giết ở Mỹ Lai với những  bức ảnh ghê rợn: 40 phụ nữ và trẻ em bị hành quyết, thân xác đầy vết đạn nằm chết ngổn ngang. Hoa Kỳ đã cho thụ lý hồ sơ và truy tố ra tòa án binh trung úy Calley, một sĩ quan xấu xí trán dồ và ngoan cố. Toàn thế giới Tây Phương đã rùng mình phẫn nộ. Nhưng có ai đứng lên chống lại vụ tàn sát tập thể cả một làng người Thượng ở Dakson? Tôi đã đi xuyên qua ngôi làng bị hủy diệt bởi một tiểu đoàn Việt Cộng do dân chúng trong làng này không chịu theo cộng sản. Chân tôi bước trên những đống tro tàn còn hơi nóng, ngập đến tận mắt cá, tro của các căn nhà tranh đã bị đốt bằng súng phun lửa. 250 xác người Thượng trong đó có 103 trẻ em gục chết khắp nơi trên mặt đất đang âm ỉ cháy. Một cảnh tượng ghê rợn, tàn ác, không thể chịu nổi với các tử thi sình lên rồi bị nướng phồng dưới ánh mặt trời, tương tự những con heo quay có đầu người.

Ai trong chúng ta, ký giả và nhiếp ảnh viên, có mặt quanh vĩ tuyến 17 vào mùa xuân 1972 có thể loại nổi khỏi trí nhớ những hình ảnh của cơn ác mộng trên con lộ Quảng Trị? (*) Pháo binh Bắc Việt đã tập trung hỏa lực vào dòng thác người tỵ nạn đang chạy loạn về Huế: những trái đạn rất đúng phương pháp đã cày lên đám đông dân chúng kinh hoàng, đánh nát và lật qua lật lại các sọ người và thi thể đàn bà trẻ con, như các cục đất vậy. Đã có đến 20.000 người chết trên một khoảng đường tráng nhựa chỉ dài 40 cây số: Mặt đường không còn màu đen của nhựa nữa mà phủ một lớp màu nâu đỏ sạm của máu khô…

(*) Đó là đoạn Quốc Lộ 1 được mang tên Đại Lộ Kinh Hoàng.

Từ  Đèo Chuối, tôi đi lần xuống một làng lớn ở Gia Kiệm. Ở đây dân tỵ nạn người Bắc đang lang thang ngoài phố. Trong một quán cà phê nhỏ, ngồi bên tô phở nóng, những người thợ rừng đang vừa ăn vừa nghe xướng ngôn viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ ca tụng sự “ngừng bắn” bằng niềm vui lây của một bình luận gia trận đấu bóng chày: “Tại Tân Sơn Nhứt, các phi công trực thăng và phi cơ săn giặc Phantoms trong bộ đồ bay kỵ lửa, tung mũ lên trời, vui vẻ vỗ lưng nhau, chuyền tay nhau chai cognac và cứ thế uống cạn hết chai vừa cười vừa hét vang: “Hết rồi, anh em ơi! Chúng ta sẽ được về nhà rồi.

Tại Sài Gòn, khi đồng hồ vừa gõ 8 tiếng, tất cả hoạt động đều ngừng lại, lưu thông dừng hẳn, mọi người đứng yên trong khi các binh sĩ giữ thế nghiêm. Miền Nam Việt Nam dành một phút mặc niệm những người đã bỏ mình trong chiến cuộc. Sau phút mặc niệm, các chuông nhà thờ đổ liên hồi khắp thủ đô miền Nam Việt Nam. Cùng lúc là tiếng vọng từ xa xăm của sự biểu lộ ồn ào này, các thành phố lớn tại Hoa Kỳ cũng sống trong những phát súng mừng ròn rã, và theo bản tin của thông tấn xã Tass thì Hà Nội mừng rỡ treo cờ trong bầu không khí hoan lạc. Tổng Thống Nixon trong một thông điệp gởi quốc dân đã mở đầu bằng những chữ nói lên dư luận chung của tất cả mọi người có thiện chí: “Một kỷ nguyên hòa bình mới đang bắt đầu cho nhân loại.

Một người trong đám thợ rừng bước đến chiếc máy truyền thanh đặt trên kệ, vừa đưa tay tắt chiếc máy vừa lầm bầm khó chịu: “Ông Nixon cứ đến đây rồi hãy nói! Con đường từ Sài Gòn lên đây đã bị cắt đứt gần ba chục cây số, và có trên mười xe vận tải đã bị giật mìn.

Tôi phải chờ 48 tiếng đồng hồ mới về đến được thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam. Quốc lộ được mở lại sau nhiều trận đánh ác liệt, dọc theo đường còn rải rác tử thi và xác xe cháy mà xe ủi đang dồn thành đống.

Tại Sài Gòn, hàng trăm phụ nữ trầm lặng, nghiêm trang tay bưng lễ vật như một đám rước đi vào chùa Vĩnh Nghiêm đầy hoa và cờ xí giữa trung tâm thành phố. Trong nhà thờ Chánh Tòa tường gạch đỏ thẳm, hàng ngàn tín đồ Công giáo chen chúc quỳ dự thánh lễ lớn. Các Phật tử và tín đồ Công giáo theo lời kêu gọi của các nhà sư và các Cha sở của mình, tổ chức một ngày cầu nguyện cho hòa bình, mà theo bản văn của lời kêu gọi là một “nền hòa bình không phải của Nga Xô, cũng không phải của Trung Cộng hay của Hoa Kỳ, mà là một nền hòa bình của Việt Nam, một nền hòa bình cho những  người tự do, công bằng và trong tình anh em, hòa giải giữa dân tộc với nhau, vừa tìm lại được trên đất nước của mình.

Trước thềm năm mới âm lịch, một năm Sửu hanh thông, đó là lời chúc tốt đẹp nhất…

oOo

Nhưng than ôi, những lời chúc tụng luôn luôn không bao giờ được thỏa mãn. Các trận đánh vẫn xảy ra gần như khắp nơi. Tại Tây Ninh, thánh địa của đạo Cao Đài, sau 30 giờ tấn kích, một trung đoàn Bắc Việt đã rút lui để lại 300 xác chết ở vùng ngoại ô thị xã. Tại Sa Huỳnh, một hải cảng đánh cá nhỏ dưới chân dãy Trường Sơn, có sự đối đầu của hai sư đoàn miền Nam với một trận đánh ác liệt. Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, ven Đồng Tháp Mười và rừng U Minh. Trên Cao Nguyên Trung Phần, xung quanh đồn Ben Het do Biệt Động Quân trấn đóng.

Ba trăm ba mươi bốn trận tấn công của cộng sản vào lãnh thổ miền Nam Việt Nam  được ghi nhận chỉ nội 2 ngày sau khi Hiệp Định Ngừng Bắn Paris ngày 27-1-1973 chính thức công bố…

Nền hòa bình Việt Nam vẫn còn là một ảo vọng!

(Hết Chương 1)

Share this post