Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 24

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 24

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 24

Trong một bức thư viết từ ngày 12 đến 15 tháng 8 năm 1978 dài 11 trang gửi cho các con, cha tôi đã dành nhiều trang để nói những suy nghĩ về lẽ sống của ông khi lâm vào cảnh già yếu, có đoạn viết:

Khi cha nghĩ cuộc sống chỉ đáng sống nếu biết hướng vào một mục đích đúng và làm được những việc có ích thì tất nhiên đó là chân lý. Nhưng chân lý ấy cũng như mọi chân lý phải uyển chuyển và linh hoạt. Nghĩa là có những lúc và trong những phạm vi nào đấy chỉ sống không thôi cũng đã là một chuyện tốt, một chuyện hay rồi…

Bạn vừa đọc một đoạn trích trong bài “Di Bút Người Cha” của Từ Sơn, con trai của Hoài Thanh, tác giả Thi Nhân Việt Nam. Bài được in trong tuyển tập Nhà Văn Qua Hồi Ức Người Thân do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin Bắc Cộng ấn hành ở Hà Nội năm 2001. Trong tuyển tập này có những bài viết về Phan Khôi, Vũ Bằng, Thế Lữ, và đáng kể nhất là bài viết về Khái Hưng, nhà văn bị Việt Minh bắt và thủ tiêu năm 1946.

Cùng với Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh là một đàn em của Tố Hữu, Trùm Văn Nghệ Đỏ Đít Mác-xít-Lê-nin-nít – Sì-ta-lin-nít – Hồ chí Mít. Đúng ra Hoài Thanh là tay sai của Tố Hữu. Hoài Thanh cùng mấy anh tay sai văn nghệ đồng bọn đã cong đít nịnh bợ Tố Hữu và gân cổ chửi rủa thậm tệ những văn nghệ sĩ Nhân Văn Giai Phẩm.

Vị nghệ thuật một nửa đời
Nửa đời sau lại vị người cấp trên…

Đó là 2 câu thơ Chân Dung Hoài Thanh, kẻ nâng bi Tố Hữu trơ trẽn, thô bỉ nổi tiếng Bắc Cộng. Hoài Thanh từng bị ruồi bâu tố cái tội không cho Tố Hữu vào quyển Thi Nhân Việt Nam. Anh chạy tội bằng cách tự kể anh là người rất yêu thơ Tố Hữu, những năm 1940 anh trang trọng chép tay những bài thơ Tố Hữu thành một tập, coi như của quí, cất đi để đọc. Sau đó, dân Hà Nội loan truyền một chuyện kể:

Một em học sinh tìm đến nhà Hoài Thanh, đưa ra quyển tập nói:
– Bác bỏ quên quyển tập này trên xe điện. Cháu bắt được xin đem đến trả bác.
Hoài Thanh xem, thấy đó là tập thơ Tố Hữu chép tay, nói:
– Cám ơn cháu, nhưng tập này không phải của bác.
Em học sinh nhất định nói tập thơ đó là của Hoài Thanh, đòi Hoài Thanh phải nhận. Hoài Thanh ngạc nhiên:
– Lạ thật? Tại sao cháu cứ nói là của bác?
Em học sinh nói:
– Tại vì bác kể bác chép tay thơ Tố Hữu vào một quyển để dành đọc, mà cả nước ta chỉ có một người chép tay thơ Tố Hữu thôi, người đó là bác. Vậy quyển thơ Tố Hữu chép tay này chẳng phải của bác thì là của ai nữa?

Trong thư gửi cho các con, Hoài Thanh viết:

Khi cha nghĩ cuộc sống chỉ đáng sống nếu biết hướng vào một mục đích đúng và làm được những việc có ích thì tất nhiên đó là chân lý… Ní nuận rỗng tuyếch, triết lý ba xu! Sống có mục đích, sống làm được những việc có ích… đâu phải là chân lý. Chân lý cũng không uyển chuyển, chân lý không linh hoạt. Chân lý mà thay đổi thì không còn là chân lý nữa. Rõ ràng có mặc cảm phạm tội, Hoài Thanh thấy xấu hổ vì những việc anh làm trong thời Nhân Văn – Giai Phẩm nên chạy tội bằng câu: “có những lúc chỉ sống thôi cũng đã là một chuyện tốt, một chuyện hay rồi“.

Nói như vậy thì anh Con Trai Bà Cả Đọi nào chẳng dẻo mồm nói được. Hoài Thanh đã không chỉ sống yên phận, hiền lương như mọi người bình thường, anh chửi rủa, giày đạp người khác để sống. Anh con anh bào chữa cho anh trong bài Di Bút Người Cha:

“…Người ta có thể không đồng tình, thậm chí không bằng lòng và trách cứ ông điều này, điều nọ nhưng khó có ai có thể nói ông là loại người “sớm nắng, chiều mưa”, đổi mầu theo ánh sáng để mưu cầu danh lợi trong cuộc đời và trong thơ văn. Vì vậy, nếu có ai đó “nói oan, nói ác” (chữ dùng của Hoài Thanh) cho ông thì ông chỉ buồn chứ không giận…

Giận thế chó nào được. Người ta không nói oan, nói ác mà người ta nói đúng. Cong lưng, uốn lưỡi nịnh bợ bọn cầm quyền ác ôn, biết chửi người là bậy mà cứ há mồm ra chửi theo lệnh chủ, theo ý chủ, để đổi lấy miếng cơm, manh áo. Đó là việc làm thô bỉ, là thói sống đê tiện của một số người được gọi là “nhà văn tiền chiến” ở Hà Nội sau năm 1954, như Hoài Thanh, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên. Ít nhất bố con Hoài Thanh cũng còn thấy xấu hổ vì những việc bậy bạ anh bố đã làm nên họ thanh minh thanh nga, họ nói lời pác-sơ cờ.

Từ Sơn viết: “Với Hoài Thanh sống, nghĩ, nói và viết gần như là một. Ông viết là do niềm say mê chứ không bởi một sự ràng buộc hay một sức ép nào (1) Không viết vì bị ràng buộc hay vì một sức ép nào! Từ Sơn đánh số cước chú và viết ở cước chú như sau: “Trừ một lần là do sức ép của tổ chức. Trong Di Bút Hoài Thanh có cho biết sau khi ông viết bài phê phán bài thơ Nhất Định Thắng của một nhà thơ trong nhóm Nhân Văn hồi cuối 1956, đảng đoàn văn nghệ đã “buộc cha phải tự phê bình”. Cha không chịu. Lúc bấy giờ ông T.H. đi chữa bệnh vắng. Đảng đoàn báo cáo với TW: do đồng chí ta không chịu tự phê bình nên sự phẫn nộ của quần chúng không dẹp xuống được. Cha buộc lòng phải viết bài tự phê bình. Có thể xem đây là việc làm sai lầm nghiêm trọng nhất của cha từ khi cha đứng trong hàng ngũ cách mạng.

Từ Sơn viết về tập gọi là Di Bút của Hoài Thanh: “Lời để lại của một người trước khi vĩnh biệt cuộc đời bao giờ cũng thiêng liêng và chân thật…” Chưa chắc! Kẻ sống hèn, giả dối, đến lúc sắp chết cũng vẫn, lại càng nói những lời hèn, giả dối. Hoài Thanh và đồng bọn tay sai thấy bọn đảng viên cộng sản làm cho xã hội trụy lạc, nhân dân đói khổ nhưng không dám nói ra. Ngược lại, họ bợ đít bọn đảng viên cộng sản, họ tự nguyện hung hăng chửi rủa những người chống bọn đảng viên cộng sản. Chế Lan Viên cũng hèn như Hoài Thanh. Khi hai anh này chết rồi mới thấy thò ra những cái gọi là Di Bút của mấy anh, trong đó mấy anh vẫn không dám kết án bọn cộng sản, các anh chỉ than thở cho số phận tay sai của mấy anh. Hoài Thanh đổ cho Đảng đã ép mình phải viết láo. Hai cha con hèn ở chỗ thay vì gọi thẳng là Đảng, họ viết né là “do sức ép của tổ chức”.

Từ Sơn viết trong Di Bút Người Cha:

“…Hoài Thanh phê phán rất nhiều những “cái khổ không cần thiết” do cơ chế quan liêu, bao cấp tạo ra: không có hàng tiêu dùng, xếp hàng triền miên, hống hách cửa quyền v.v… Hoài Thanh khuyên các nhà lãnh đạo đất nước làm như Bác Hồ đã từng đi xếp hàng mua thịt ở chợ Đồng Xuân…

Bác Hồ xếp hàng nôm na là Bác đứng ôm đít mấy chị phún Bắc Kỳ yêu nước mắm, ở phản thịt chợ Đồng Xuân để mua thịt? Bác mua thịt bò, thịt nợn, thịt gà, thịt dzịt? Hay thịt con nít? Nếu muốn mua thịt con nít Bác phải đến Xưởng Đẻ, Bác đến chợ Đồng Xuân làm chi? Trò khỉ và bố khỉ. Ông Hồ Chí Manh thường làm những trò khỉ, như việc ông ra đồng sắn quần tát nước với chị em nông dân, ông đi chợ Đồng Xuân đứng xếp hàng mua thịt.

Đến lúc sắp chết, Hoài Thanh vẫn nâng bi ông Hồ. Không có hàng tiêu dùng, xếp hàng triền miên, hống hách cửa quyền là đặc sản của chế độ XHCN. Hoài Thanh viết những cái đó là: “…do cơ chế quan liêu, bao cấp tạo ra…” Cứ làm như là có thứ cộng sản quan liêu, bao cấp và thứ cộng sản không quan liêu, không bao cấp. Hoài Thanh có công kích ông Hồ cũng chỉ sơ sơ, chỉ khều nhẹ và chỉ dám ghi trên giấy cất kín một chỗ – như Từ Sơn kể:

Trong 5 điều Bác Hồ dậy “Không có một điều nào nói về tình thương mẹ, thương cha”. Theo Hoài Thanh “tình thương ấy mà không có hoặc lệch lạc thì đâu có thể nói được là đã nên người”. Hoài Thanh viết: “Trong nhân dân ta, người nhìn đúng nhất, nghĩ đúng nhất, sống đúng nhất, chắc chắn là Bác Hồ muôn kính ngàn yêu. Nhưng đúng không nhất thiết là lúc nào cũng đúng”. (Tôi nhấn mạnh, T.S.) Cũng trên sự nhìn nhận lúc ấy trong Di Bút Hoài Thanh đã ghi lại cách nhìn nhận sai của đồng chí Lê Duẩn đối với Nguyễn Du và Truyện Kiều. Đối với điệu Vọng cổ ở Nam bộ, ghi lại thái độ ngập ngừng của đồng chí Trường Chinh trên vấn đề Nguyễn Du và Truyện Kiều v.v…

Không có tình thương mẹ, thương cha, con người sẽ trở thành đảng viên cộng sản. Bác Hồ có mẹ, có cha đâu mà Bác dậy đảng viên phải thương mẹ, kính cha? Với Hoài Thanh và đồng bọn thì Bác Hồ của họ thấy đúng, nghĩ đúng, làm đúng, không những chỉ đúng suông mà còn là đúng nhất. Bác Hồ của họ không bao giờ sai, Bác Hồ của họ chỉ có những lúc thấy, nghĩ, làm không đúng. Họ không dám nói nửa lời đến chuyện mỗi lần Bác Hồ muôn kính ngàn yêu của họ thấy, nghĩ, làm không đúng là dân Việt chết oan vài triệu mạng. Họ không biết, hoặc họ biết mà có tảng lờ như không biết. Dân chủ khác cộng sản ở nhiều điểm, một trong những cái khác đó là trong chế độ dân chủ tư bổn lề, những anh được dân cử ra, bầu lên cầm quyền không làm bậy được. Nói cho đúng mấy anh cũng có thể làm sai, làm bậy nhưng mấy anh không thể làm sai lớn, làm bậy vĩ đại, làm hại lâu, phá hoại nhiều. Mấy anh tư bổn lề chưa làm bậy đã bị nhân dân, bị đảng đối lập lôi cổ xuống, đá văng, cho về nhà giặt quần cho vợ không chút xót thương, trong khi bọn gọi là lãnh đạo cộng sản tha hồ làm bậy, làm bậy suốt đời, nhân dân chết oan ráng chịu.

Nghe nói khi ông Hồ mới vào ở trong cái gọi là Bắc Bộ Phủ ở Hà Nội, buổi tối ông vạch quần đứng đái ở hàng rào trong vườn, nghe anh lính gác cổng hát mấy câu vọng cổ, ông nói: “Đó là điệu ca vong quốc. Hát nó làm gì…!” Từ đó điệu Vọng Cổ bị Bắc Cộng dẹp đi, không cho công diễn. Nhưng Vọng Cổ quá mạnh, Vọng Cổ săng phú cả Bác Hồ lẫn đồng chí Lê Duẩn, săng phú luôn Đảng Cộng Sản Việt Nam. Vì nhân dân Nam Bộ yêu mến Vọng Cổ, Vọng Cổ cứ sống, bất chấp cộng sản không thích. Di Bút của Hoài Thanh cho thấy sau ông Hồ, anh Tổng Bí Lê Duẩn cũng không ưa vọng cổ, anh còn hung hăng bài xích cả Truyện Kiều.

Từ Sơn viết về bà mẹ anh, tức bà vợ Hoài Thanh, trong Di Bút Người Cha:

“…Mẹ tôi vốn là một người viết văn, làm báo rất xông xáo. Bà tham gia Đảng Cộng Sản từ năm 1930. Ra tù bị mất liên lạc. Bà tiếp tục viết văn, làm báo rồi gặp và yêu cha tôi.

Ta lại gặp ở đây bằng chứng Mật Thám Pháp ngày xưa, rộng hơn là chính phủ bảo hộ Pháp, có chính sách đối xử nhẹ tay với những người Việt làm chính trị: đảng viên cộng sản, bị bắt, ở tù ra vẫn phây phây viết văn, làm báo. Bọn Bắc Cộng còn lâu mới để cho người tù chính trị được sống và viết như thế.

Nhưng mà… biết rồi… khổ lắm… nói mãi! Chuyện em nhỏ lên ba, cụ già chín bó đều đã biết, không những chỉ biết suông mà còn biết rành, biết kỹ, như chuyện Cộng sản đối xử tàn ác với những người tù chính trị, khỏi cần nói nhiều, khỏi cần viết đi, viết lại.

Trong Di Bút, tác giả Thi Nhân Việt Nam viết về mối tình của mình:

“…Nguyên vẫn nhớ như in cái hình ảnh nhẹ nhàng, thanh thoát với chiếc áo dài mầu xanh nhạt hôm Tết 1934 lần đầu tiên Nga đến gặp Nguyên ở nhà chị Tài Hội An, nhớ như in cái nhìn ngượng ngùng của Nga hôm Nga đưa cho Nguyên gói thuốc lào nhỏ trong lá chuối (…)

…Nguyên tin rằng những phần đẹp nhất trong hồn ta, những việc làm đẹp nhất của chúng ta sẽ cùng với núi sông, đất trời này còn mãi!

Nguyên là tên thật của Hoài Thanh, Nga là tên bà vợ Hoài Thanh, chị Tài Hội An là vợ Lưu Trọng Lư. Tác giả Thi Nhân Việt Nam viết đoạn trên nhiều năm sau khi nhân vật Nga qua đời.

Là người suốt đời ca tụng TÌNH YÊU – Tình Yêu viết hoa, viết hoa luôn cả dấu huyền, dấu mũ – tôi ca tụng Tình Yêu của tôi, ca tụng Tình Yêu của người khác. Tôi sung sướng, phấn khởi, kiêu hãnh khi thấy Tình Yêu chiến thắng, tôi sầu buồn khi thấy Tình Yêu thảm bại. Vì vậy tôi xúc động, tôi cảm khái vì mối tình của Nguyên và Nga, nhất là về chuyện Nga đưa tặng Nguyên gói thuốc lào nhỏ bọc trong lá chuối.

Mèn ơi…! Câu chuyện mới thắm đượm ái tình dân tộc nàm thao chớ. Đấy là chuyện tình dân tộc chăm phần chăm, em ơi, một chăm phần chăm. Không một người thiếu nữ Tầu, Tây Tạng, Mông Cổ, Ấn Độ, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, Đan Mạch, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Ap-gha-nít-tan, A-dzéc-bai-dzan, Ta-li-ban nào tặng người nàng yêu gói thuốc lào bọc trong lá chuối. Trên trái đất này, từ thuở khai thiên đến ngày tận thế, chỉ có người thiếu nữ Việt Nam – Bắc Kỳ – tặng người nàng yêu gói thuốc lào bọc trong lá chuối mà thôi!

Phải là người đã sống ở quê hương Việt Nam yêu dấu ít nhất sáu mươi năm cuộc đời, hoặc ít nhất phải là người nghiện thuốc lào, thuốc lá nặng sống trong ngục tù cộng sản ít nhất mười, mười lăm năm, mới biết tại sao thuốc lào lại gói trong lá chuối. Mới có sáu mươi, đang ở tuổi dậy thì như em, ra đời và sống ở Sài Gòn đến năm mười lăm tuổi, Mỹ cuốn cờ, em cuốn quần lên trực thăng vù ra Thái Bình Dương bao la lặng sóng rồi sang Mỹ sống, nơi chỉ có sữa với bơ, với thịt, làm sao em biết tại sao thuốc lào lại gói trong lá chuối.

Có thể em không biết, em không nhớ thuốc lào, lá chuối là cái gì. Ở thời đại em, những năm 1980, em từ hải ngoại gửi về cho người yêu của em kẹt giỏ, ngồi rù ở Sài Gòn đầy cờ đỏ, nón cối, giép râu, cây thuốc lá Lucky Strike Ba Hàng Chữ, cái bật lửa Ronson có bao bằng bạc trạm một mặt là con phượng hoàng, mặt kia là con rồng bay em mua ở Băng Cốc, Thái Lan trong chuyến em đi du lịch ở đó với chồng em. Đúng thôi! Thì ở thời đại hai người yêu nhau tên nàng là Nga, tên chàng là Nguyên, năm 1934 ở Hà Nội, Bắc Kỳ Việt Nam, nàng tặng chàng gói thuốc lào bọc trong lá chuối cũng đúng thôi. Nàng tặng người nàng yêu gói thuốc lào bọc lá chuối còn tình tứ hơn, giá trị hơn, lãng mạn hơn em tặng người em yêu tút thuốc Lucky Strike và cái Ronson bạc. Em ơi… Vì tình yêu của đôi ta, xin lỗi, vì Tình Yêu của em và chồng em, anh tin cuộc tình Lá Chuối Thuốc Lào của tác giả Thi Nhân Việt Nam sẽ “cùng với núi sông, đất trời này còn mãi!

Cũng trong Nhà Văn Qua Hồi Ức Người Thân, Hoài Chân, em của Hoài Thanh, người đứng chung tên tác giả Thi Nhân Việt Nam, viết về quyển Thi Nhân Việt Nam sau năm 1954 ở Hà Nội:

Cũng như nàng Kiều của Nguyễn Du, cuộc đời của thơ mới cũng ba chìm bẩy nổi. Sau Cách Mạng Tháng Tám, trong suốt bốn mươi năm, thơ mới ở không yên ổn, ngồi không vững vàng. Chỉ từ sau Đại Hội Đảng lần thứ sáu, thơ mới mới được trả lại giá trị đích thực của nó.

Thân tàn gạn đục, khơi trong
Là nhờ quân tử khác lòng người ta…

Cùng với thơ mới, quyển Thi Nhân Việt Nam phải dấu mặt bao nhiêu năm lại được đàng hoàng ra mắt bạn đọc trong cả nước, được in lại nhiều lần và tính đến nay (năm 1999) được in lại lần thứ mười sáu.

Cho hay thời gian và công chúng bao giờ cũng là những thách thức đối với mọi tác phẩm văn học nghệ thuật. Sự đón mừng Thi Nhân Việt Nam ra mắt trở lại của đông đảo bạn đọc yêu thơ hôm nay là rất có ý nghĩa: không những nó khẳng định giá trị bền vững của thơ mới mà đồng thời cũng khẳng định sự nghiệp văn học trước Cách Mạng Tháng tám của nhà văn Hoài Thanh…

Sau 1954, Thi Nhân Việt Nam được tái bản nhiều lần ở Sài Gòn, nhưng bị Bắc Cộng cấm ở Hà Nội. Mãi đến 1986, sau khi Tổng Bí Goóc-ba-chóp thay đổi chính sách ở Liên Xô, Bắc Cộng bắt buộc phải làm theo, Tổng Bí Nguyễn Văn Linh tuyên bố “đổi mới” và “cởi trói cho văn nghệ, thơ tình nam nữ mới được xuất hiện trên đất Bắc Cộng, Thi Nhân Việt Nam mới được in lại ở Hà Nội. Hoài Chân cám ơn Nguyễn Văn Linh bằng câu Kiều lẩy:

Thân tàn gạn đục, khơi trong
Là nhờ quân tử khác lòng người ta…

Lời Thúy Kiều nói với Kim Trọng trong đoạn tái hồi đoàn tụ sau mười lăm năm ly cách. Nếu Hoài Chân ví Thi Nhân Việt Nam với Thúy Kiều thì anh coi Nguyễn Văn Linh là Kim Trọng, nếu Nguyễn Văn Linh là Kim Trọng thì Tố Hữu, kẻ đã đầy đọa Thúy Kiều Thi Nhân Việt Nam, là Mã Giám Sinh.

Thời gian và công chúng không phải là những “thách thức” đối với các tác phẩm văn học. Thời gian và công chúng đánh giá, định giá các tác phẩm văn học. Không phải vì Hoài Thanh là đảng viên cộng sản và làm nhiều việc không hay khi còn sống mà tôi không công nhận giá trị tác phẩm Thi Nhân Việt Nam. Tất cả sự nghiệp văn học của Hoài Thanh chỉ là quyển Thi Nhân Việt Nam, viết trước năm 1945.

Như tất cả những người được kể là nhà văn, nhà thơ tiền chiến đi theo cộng sản, sau 1954, đúng hơn là sau 1945, Hoài Thanh không viết được gì ra hồn cả

(Hết Chương 24)

Share this post