Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 5

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 5

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 5

Tôi đã kể nhiều về một đêm cuối tuần Sài Gòn, trời lạnh gần Tết, tôi đi chơi với Thanh Nam. Hai giờ sáng Thanh Nam vẫn bắt tôi lái xe đi trong thành phố và nói về nguyên nhân tại sao anh không muốn về nhà:
– Về bin-đinh tao sợ lắm. Nhất là về vào giờ đêm khuya như thế này. Tao có cảm giác như đi vào nhà tù.
Thuở ấy Thanh Nam đang ở bin-đinh Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, nổi tiếng vì có nhiều văn nghệ sĩ ký giả cư ngụ, đa số đều độc thân.
Mười mấy năm sau, khi nhờ ơn Bác và Đảng, có dịp được sống trong mấy nhà tù Sài Gòn, tôi nhớ lại lời Thanh Nam nói năm xưa “…ban đêm đi vào bin-đinh giống như đi vào nhà tù…”
Những đêm nằm rù không gãi háng trong Lầu Bát Giác Chí Hòa, nhớ lại cảnh tượng những hành lang bin-đinh Cửu Long, tôi thấy Thanh Nam nói đúng. Hành lang bin-đinh Cửu Long giống hành lang nhà tù quá đỗi. Cũng lối đi ở giữa, hai bên là những cánh cửa phòng sơn mầu xám lúc nào cũng đóng im ỉm, người đi qua hành lang không nghe qua một tiếng cười nói hay một tiếng động nào trong các căn phòng nhỏ sau những cánh cửa sơn mầu xám ấy. Nhưng tội nghiệp thì thôi, những năm 1961, 1962, những năm trước 1975, anh em chúng tôi nào có biết nhà tù, nhà tội là gì, chúng tôi chỉ nhìn thấy cảnh nhà tù, những phòng tù, những sà-lim, trên màn ảnh xi-nê, những cảnh nhà tù toàn là nhà tù nước Pháp, nước Mỹ. Những năm 1977-1978, những năm 1985-1986, khi bị cai tù cộng sản dẫn qua những hàng lang nhà tù ở trong khu Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia của ta, khi đi ngang những cánh cửa phòng giam sơn mầu xám, đóng kín, không một tiếng động vọng ra, tôi nhớ những hàng cánh cửa phòng cũng sơn mầu xám của bin-đinh Cửu Long tôi từng nhiều lần đi ngang năm xưa.
Trong hai mươi năm chia xẻ khổ cực với người dân Sài Gòn đầy cờ đỏ, tôi sống ba năm trong Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu – Đề Lao Gia Định cũ – bên cạnh Tòa Tỉnh Trưởng Gia Định của ta, dính tường sau với Trường Hồ Ngọc Cẩn, nhìn sang Lăng Ông; tôi sống ba tháng trong một nhà tù trong khu Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia của ta, bốn năm trong Lầu Bát Giác Chí Hòa, một năm trên Trại Lao Động Cải Tạo, gọi tắt là Trại Lao Cải Z-30 A trong thung lũng dưới chân núi Chứa Chan, Xuân Lộc, Đồng Nai.
Hôm nay, mười ba năm sau ngày tôi đi ra khỏi Trại tù Khổ sai Z-30 A, sống ở nước Mỹ, tôi hồi tưởng những nhà tù xưa ở quê hương tôi đã sống với lòng thương mến. Tôi thương, tôi cám ơn những nhà tù của tôi. Cộng sản giam tôi nhiều năm trong những nhà tù ấy, nhưng những nhà tù ấy vẫn là những nhà tù của tôi. Như có linh hồn, những nhà tù của tôi đã thương tôi, đã bảo vệ tôi cho tôi sống để tôi trở về cuộc đời.
Không phải hôm nay, một sáng đầu mùa xuân năm 2003, trong khung cảnh yên lành nhưng trái tim nặng những u sầu, ngồi viết ở xứ người, hoài niệm dĩ vãng, nhớ lại quê hương, tôi mới có những cảm nghĩ này: tôi bị giam trong những nhà tù của tôi, tôi yêu thương những nhà tù ấy của tôi, tôi thù hận bọn cộng sản ác ôn đã nhốt tù tôi nhưng tôi không thù hận những nhà tù đã giam giữ tôi, đặc biệt tôi thương mến Nhà Tù Chí Hòa, nhà tù lớn nhất Đông Dương. Tôi từng viết:
– Tôi đặt chân vào Thánh Địa lúc một giờ trưa. Đứng trong sân nhìn lên tôi chỉ thấy những tầng lầu và những hàng chấn song sắt. Cảm xúc rạt rào dâng lên trong tim tôi, tôi nghĩ: Đây là Chí Hòa, mình đang ở trong Chí Hòa, ngày nào mình ra khỏi đây mình sẽ kiêu hãnh vì mình từng sống trong Chí Hòa!
Bọn Công An Thành Hồ cho xe bông đến nhà tôi rước tôi đi lần đầu năm 1977. Lần đó tôi chỉ tù 24 tháng nhưng thời gian tù kéo dài qua ba năm 1977, 1978, 1979. Cuối năm 1979, tôi từ nhà tù Việt Cộng trở về mái nhà xưa. Bốn năm sau, tháng 5 năm 1984, Công An Thành Hồ lại cho xe bông đến nhà rước tôi đi lần thứ hai. Tôi trở lại Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu – anh em tù chúng tôi gọi việc trở lại nhà tù như thế này là “tái đáo Thiên Thai”. Trong lần tù thứ hai này, tôi phải ra tòa và tôi “được sống” 4 năm từ 1985 đến 1988 trong 2 khu ED, khu FG Nhà Tù Chí Hòa cùng khu và cùng thời gian với các tù nhân Như Phong Lê Văn Tiến, Nguyễn Đan Quế, Thái Lăng Nghiêm, Nguyễn Tiến Hỉ v.v… nhưng các vị tù nhân này nằm ở Phòng 2 khu ED.
Tôi sống 4 năm trong Phòng 10, Lầu Ba, khu ED cùng với Trí Siêu Lê Mạnh Thát.
Trí Siêu ăn chay nhưng hai chúng tôi ăn chung một mâm với nhau. Gọi là “mâm” thật ra chỉ là miếng nylon trải trên sàn xi-măng. Chúng tôi thường ở trần, quần sà-lỏn, đứng bên song sắt nói chuyện. Ngoài song sắt là hành lang rộng khoảng hai thước, ngoài hành lang ấy còn hàng song sắt thứ hai nữa mới ra đến trời.
Mùa mưa đến, sau trận mưa lớn đầu mùa, đồng bào tôi gọi là “cây mưa”, sân nhà tù Chí Hòa ngập nước. Đêm xuống tôi nằm nghe và thấy chuyện kỳ diệu là tiếng ếch nhái kêu rền rĩ vang động suốt đêm trong sân nhà tù Chí Hòa. Tôi ngạc nhiên tự hỏi trong mấy tháng mùa nắng bọn ếch nhái trốn nấp ở đâu? Bằng cách nào chúng có thể sống qua cả ba, bốn tháng trời nắng nóng, mặt đất khô cứng, để rồi trời vừa đổ cơn mưa lớn, đất sũng nước, chúng kéo nhau lên mặt đất cất tiếng ca tụng cuộc sống rộn rã như thế?
Trong lần tù thứ nhất tôi bị bắt một mình, lần tù thứ hai tôi có đông anh em. Công An Thành Hồ gọi chúng tôi là bọn “Biệt Kích Cầm Bút”. Với Việt Cộng, chúng tôi có tội viết những bài về đời sống khổ cực của nhân dân trong gông cùm cộng sản và gửi những bài ấy ra nước ngoài. Chúng tôi gồm 8 người, trong đó 6 người bị bắt về Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu cùng trong một đêm là Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Trần Ngọc Tự, Khuất Duy Trác, Lý Thụy Ý và tôi. Hai anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Nguyễn Khánh Giư bị bắt sau chúng tôi chừng một tháng.
Hai giờ sáng ngày 2 tháng 5 năm 1984, công an kéo đến nhà tôi, lục soát đến 5 giờ sáng rồi đưa tôi ra khỏi căn nhà. Tôi trở vào Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu lúc 6 giờ sáng. Bọn cai tù mới ngủ dậy áo thun ba lỗ, quần sà lỏn, đang rửa mặt ở vòi nước góc sân. Tôi nhìn quanh ngao ngán, ngậm ngùi nhớ lại buổi sáng bốn năm trước xách túi hành lý rách đi ra khỏi nhà tù trên những lối đi này. Hôm nay tôi trở vào đây, nhà tù cũ nát hơn, nhiều chỗ trên lối đi xi-măng rạn nứt, trũng xuống, những ống dẫn nước han rỉ, những chân tường lên rêu xanh.
Lần tù trước tôi nằm 12 tháng trong sà-lim số 6 khu C-1. Lần này tôi vào sà-lim số 10 cũng khu C-1. Vừa vào sà-lim, cởi quần áo, ở trần, chỉ mặc cái sà-lỏn, đứng nhìn qua cửa gió ra ngoài xem tình hình, tôi được biết người ở sà-lim số 9 cạnh tôi là sĩ quan Không Quân Trần Ngọc Tự, bạn của Dương Hùng Cường. Tôi quen với Tự qua Cường. Tự bị bắt trong đêm, vào đây trước tôi. Chúng tôi nói chuyện với nhau qua cửa gió. Tự cho biết Khuất Duy Trác vào sà-lim số 1 ở đầu khu. Tự và tôi đứng nói chuyện qua cửa gió, cùng một dẫy nên không thấy mặt nhau. Đúng lúc đó, chúng tôi thấy Dương Hùng Cường bị đưa vào.
Cường bị đưa vào sà-lim số 15 hay số 16 bên trong. Như vậy là bốn chúng tôi – Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Dương Hùng Cường và tôi – cùng bị bắt trong một đêm, cùng bị nhốt ở sà-lim khu C-1 nhà tù này. Tôi chắc anh Doãn Quốc Sĩ cũng đã bị bắt.
Sáng hôm sau, Cường, Tự và tôi, trao đổi được với nhau vài câu. Vì cách nhau khá xa, chúng tôi phải nói qua phòng tập thể ở trước mặt, nhờ anh em bên ấy chuyển lời cho Cường và ngược lại. Tự và tôi báo cho Cường biết Khuất Duy Trác đã bị bắt:
– Ca sĩ ở biệt giam số 1.
Và tôi nói:
– Chúng nó tó hết bọn liên lạc với Dượng Ba rồi.
Cường nói:
– Cố gắng bảo vệ Dì Út.
Dượng Ba là tên chúng tôi gọi Trần Tam Tiệp. Dì Út là tên chúng tôi gọi cô Nguyễn Thị Nhạn, nhân viên Sở Bưu Điện Trung Ương Sài Gòn. Cô Nhạn là người quen của Trần Tam Tiệp và Tiệp giới thiệu với chúng tôi. Là nhân viên phòng phát đồ ở Bưu Điện, Nhạn giúp chúng tôi lãnh nhanh chóng những gói đồ Tiệp từ Pháp gửi về, trong có sách báo hải ngoại, và giúp gửi những tập tài liệu, bản thảo của chúng tôi sang cho Tiệp mà không bị kiểm duyệt. Vì việc này, Dì Út của chúng tôi bị Việt Cộng tó cùng với chúng tôi, ra tòa chúng phạng Dì Út 5 năm tù.
Năm 1980, khi tôi đi tù lần thứ nhất trở về, Dương Hùng Cường đã đi cải tạo sĩ quan về trước tôi vài tháng. Gặp nhau, Cường bảo tôi:
– Có Trần Tam Tiệp, trước vẫn làm thơ trào phúng ký tên Đạo Cù, đăng trên Con Ong, hiện ở Paris, hoạt động Văn Bút, gửi thuốc Tây về cứu trợ anh em. Tôi đã báo cho Tiệp biết ông về và cho Tiệp địa chỉ ông. Lần quà sau thể nào ông cũng có.
Hai mươi mùa lá rụng đã qua cuộc đời tôi kể từ hôm mới ở tù cộng sản trở về nhà được vài ngày tôi nghe Dương Hùng Cường nói câu ấy. Cường đã chết trong sà-lim Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu năm 1986. Hôm nay khi viết những dòng này tôi vẫn vẳng nghe tiếng Cường nói ngày ấy, tôi nhớ từng tiếng nói của Cường. Và lần quà sau do Trần Tam Tiệp gửi về cứu trợ anh em văn nghệ sĩ có thùng quà mang tên tôi. Tôi có tên trong danh sách văn nghệ sĩ Sài Gòn kẹt giỏ được Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại cứu trợ và được biết Trần Tam Tiệp từ đấy. Tôi là người gọi Tiệp là Dượng Ba, cô Nhạn là Dì Út. Hai cái tên thật thân thương với chúng tôi.
Công An Thành Hồ biết sự quan trọng của Trần Tam Tiệp đối với chúng tôi. Nhờ Tiệp, chúng tôi nhận được tác phẩm Bi Ký của Phan Nhật Nam, mấy số báo Nhất Việt của Du Tử Lê, tác phẩm Tắm Mát Ngọn Sông Đào của nhà xuất bản Lá Bối, một số tài liệu về Mặt Trận Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh, một số sách báo Việt xuất bản ở Pháp… Nhờ Tiệp, tình trạng bị tù đày của chúng tôi được các Hội P.E.N. trên thế giới biết, lên tiếng can thiệp, giúp đỡ cả về tinh thần và vật chất. Và nhờ Tiệp, anh em chúng tôi có những paquet thuốc Tây cứu đói vàng ngọc. Số văn nghệ sĩ Sài Gòn được cứu trợ đều đặn khoảng ba tháng một kỳ trong những năm 1982-1983 chắc phải lên đến 20 người. Vợ chồng tôi mang ơn và quí mến Dượng Ba Trần Tam Tiệp của chúng tôi cho đến bây giờ.
Tết năm 1986, tôi ở Phòng 10 Khu ED Nhà Tù Chí Hòa. Cách chia khu trong Nhà Tù Chí Hòa phân thành 4 khu AH, BC, ED, FG được cai tù Việt Cộng dùng theo. Đêm Giao Thừa chúng tôi tổ chức đêm vui có bàn thờ Tổ Quốc, có ca nhạc và diễn kịch. Giao Thừa đêm ấy bọn tù chúng tôi nghe tiếng pháo nổ ran ngoài thành phố. Những năm ấy dân Sài Gòn Tết đến đốt pháo như điên, mùi thuốc pháo vượt mấy lần tường cao bay vào tận phòng tù.
Tôi được anh em trong phòng giao cho việc diễn một vở kịch đêm Giao Thừa. Tất nhiên là kịch cương, tức kịch không có vở, không đối thoại, đạo diễn chỉ kể cho các diễn viên nghe cốt truyện và dặn các diễn viên nói như thế này, thế này. Dù là kịch cương thì diễn viên cũng phải được tập diễn ít nhất một lần. Chúng tôi ở kín trong một phòng tù nên ban kịch cương không thể tập diễn, nếu tập thì anh em trong phòng biết hết tình tiết vở kịch rồi còn diễn diếc gì nữa. Thành ra “ban kịch” chúng tôi diễn kịch cương mà không tập trước.
Cai tù cho chúng tôi ca hát, làm văn nghệ văn gừng trong đêm giao thừa nhưng vẫn canh chừng xem chúng tôi có làm trò gì phản động không. Biết vậy, tôi dựng kịch Mỵ Châu – Trọng Thủy. Trọng Thủy lấy được khẩu súng nhưng không biết xử dụng nên khi đem ra bắn lại bắn vào quân của Trọng Thủy. Kết cục Trọng Thủy bị bắt. An Dương Vương, do tôi đóng, phán:
– Các ngươi tưởng bở. Các ngươi cướp được võ khí của ta nhưng các ngươi ngu ngốc, các ngươi không biết dùng võ khí, võ khí chỉ làm hại các ngươi thôi.
Trọng Thủy bị án đi cải tạo nhưng được Mỵ Châu xin tha, vua bèn giao Trọng Thủy cho Mỵ Châu quản lý. Hết kịch. Hai tên cai tù đứng xem kịch từ bên ngoài song sắt nhe răng cười và vỗ tay.
Anh em chúng tôi bị P-25, tức Ban Phản Gián 25, theo rõi, bắt và thẩm vấn. Thủ trưởng bọn công an thẩm vấn chúng tôi là Sáu Khôi tỏ ra căm thù Dượng Ba Trần Tam Tiệp. Hắn không thẩm vấn chúng tôi, chỉ vào các phòng để ngồi nghe, chỉ dẫn bọn đàn em hắn. Tôi mấy lần nghe hắn hằn học nói: “Thằng Tiệp… Thằng Tiệp…”
Đầu năm 1986, Công An Thành Hồ chuẩn bị đưa chúng tôi ra tòa. Trước hết, chúng chia 8 anh em chúng tôi ra làm hai để không thể liên lạc được với nhau. Một sáng chúng tôi được tin 4 người là Doãn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn bị chuyển trại, tức đưa ra khỏi Chí Hòa. Khi ấy anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt đã từ trần, chỉ còn Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự và tôi ở lại Chí Hòa.
Ít ngày sau chúng tôi được tin hai anh Sĩ, Cường và hai cô Ý, Nhạn bị đưa trở lại Nhà Tù số 4 Phan Đăng Lưu. Rồi chúng tôi được tin – do anh em tù ở số 4 Phan Đăng Lưu sang Chí Hòa cho biết – Dương Hùng Cường đã chết trong sà-lim số 4 Phan Đăng Lưu.
Năm 1986, trước khi cộng sản Hà Nội họp Đại Hội Đảng, theo gót Nga Xô, công bố chính sách “đổi mới”, Công An Thành Hồ đã quyết định đưa chúng tôi ra tòa.
Cáo trạng được một nhân viên tòa án mang đến Chí Hòa đọc cho chúng tôi nghe. Chúng ghép chúng tôi vào tội gián điệp. Theo luật hình sự của chúng, khung án xử phạt tội gián điệp “án tù tối thiểu 12 năm, tối đa là tử hình”, người đứng đầu nhóm gián điệp – chúng gọi là tên đầu sỏ – “bị tử hình, những tên tay sai nguy hiểm cũng bị tử hình…”
Khi ghép anh em chúng tôi vào tội gián điệp, Công An Thành Hồ có ý định xử tử ít nhất một người trong chúng tôi, và người bị chúng định giết là anh Doãn Quốc Sĩ. Anh Sĩ là người đứng số 1 trong bản cáo trạng, tôi đứng số 2. Nếu anh Sĩ bị tử hình, tôi sẽ bị án chung thân, Dương Hùng Cường nếu còn sống sẽ lãnh án tù 20 năm, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt nếu còn sống, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn sẽ lãnh án từ 18 năm trở xuống. Chắc chắn là như thế. Chuyện tử hình và tù chung thân, tù 20, 18, 15, 12, 10, 8 năm… là chuyện chắc hơn cua gạch, chắc hơn gỗ lim. Công An Thành Hồ cay cú, thù hận chúng tôi, định giết chúng tôi.
Nhưng chúng không giết được. Phiên xử chúng tôi năm 1986 phải hoãn. Một năm rưỡi sau, đầu năm 1988, chúng mới đưa chúng tôi ra tòa xử qua loa cho xong. Lần này chúng không kết chúng tôi vào tội gián điệp mà đổi là tội “tuyên truyền phản cách mạng”. So với tội gián điệp, án tù của tội tuyên truyền phản cách mạng nhẹ hều. Tội gián điệp tù từ 12 năm đến tử hình, tội tuyên truyền phản cách mạng tù từ 2 năm đến tối đa 12 năm.,
Chuyện kỳ diệu là hôm nay, liêu lạc ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, 13 năm sau buổi sáng đầu xuân tôi đi ra khỏi những bức tường bao quanh khu nhà tù Z-30A Xuân Lộc, Đồng Nai, khi hồi tưởng những ngày tù đày, những đêm dài nằm như xác chết trong sà-lim, nghe tiếng thời gian chậm chạp bước đi, những nhớ thương, những tuyệt vọng, những hy vọng, những mong ước, những khẩn cầu, tôi thấy trái tim tôi ấm lại. Tôi không chút ân hận hay buồn phiền vì đã phải qua hai mươi mùa lá rụng trong thành phố Sài Gòn thương yêu của tôi, trong đó hết tám năm tôi sống quanh quẩn trong những nhà tù cộng sản…
Tôi thấy những ngày tù đày đó của tôi có ý nghĩa, chúng cho tôi thấy giá trị con người của tôi. Nhờ tù đày, nhờ tai họa, tôi được biết tôi không hay, không bảnh hơn ai, nhưng tôi không đến nỗi hèn hạ quá. Với tư cách người tù nạn nhân của Việt Cộng, tôi không được khen nhưng tôi không bị ai chê, ai khinh, ai chửi, vợ con tôi không xấu hổ vì tôi. Được thế là tôi mừng.
Tôi ra khỏi Thánh Thất Chí Hòa một ngày đầu xuân, đến Trại Lao Cải Z-30A một ngày đầu xuân, rồi ra khỏi Trại Lao Cải Z-30A cũng một ngày đầu xuân.
Lúc ấy 9 giờ sáng, anh em tù đi làm hết, trại vắng tanh, Trí Siêu Lê Mạnh Thát đưa tôi ra đến cổng trại. Hôm nay, một ngày đầu xuân, liêu lạc xứ người, cách quê hương hai biển lớn, nhìn về đông, trông về tây, chỉ thấy biển xanh, mây trắng, tôi gửi tình Yêu Thương của tôi về Sài Gòn, tôi gửi tình Cảm Mến của tôi về những người bạn đã chia cay, xẻ đắng với tôi trong những ngày đêm tù tội, những người bạn tù đã thương xót tôi, bảo vệ tôi, an ủi tôi, nâng đỡ tôi trong những giây phút tôi tuyệt vọng.
Tôi biết ơn các bạn tù Lâm Tới, Lê Văn Bẩy, Lê Vĩnh Thành, Lê Văn Cường, Lê Mạnh Thát…
Tôi nhớ những phòng tù số 6, số 7 Nhà Tù Phan Đăng Lưu, Phòng Tù Tập Thể Số 10, Lầu Ba, khu ED Nhà Tù Chí Hòa.
Tôi nhớ những người bạn đã cùng tôi vào nhà tù xộng sản nhưng không cùng tôi đi ra: anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và bạn tôi Dương Hùng Cường…

(Hết Chương 5)

Share this post