Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 6

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 6

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 6

Người viết truyện Tô Hoài nổi lên trên văn đàn Việt Nam khoảng 1940 với những tập truyện “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Quê Người, O Chuột v.v… Tác phẩm được nhiều người trẻ đọc nhất là “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký. Tôi đọc “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký” năm tôi 10 tuổi, những năm 1941-1942 của thế kỷ 20. Như nhiều chú nhi đồng cùng tuổi, ngày xưa ấy tôi rất thích “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký” của Tô Hoài. Những ngày như lá, tháng như mây theo nhau qua. Sáu mươi năm sau những buổi chiều xanh mùa thu, những buổi chiều xám mùa đông nằm trên căn gác nhà tôi ở tỉnh lỵ Hà Đông say mê đọc tiểu thuyết, liêu lạc xứ người ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tập hồi ký “Cát Bụi Chân Ai” của Tô Hoài lạc đến tay tôi, và sáng hôm nay – một sáng cuối năm, mùa đông trời Mỹ quốc lạnh dưới Không độ nhưng nắng Mỹ Quốc long lanh vàng óng, tôi ngồi viết về những gì Tô Hoài viết trong “Cát Bụi Chân Ai“.

Số văn thi sĩ nổi danh trước 1945 nay chỉ còn lơ thơ vài người: Tô Hoài, Hoàng Cầm, Huy Cận, Tế Hanh – Tế Hanh bại liệt từ mấy năm nay. Bốn người vừa kể đều sống ở miền Bắc XHCN. Tô Hoài là đảng viên cộng sản, là tay sai của Tố Hữu, suốt một đời trung thành với Tố Hữu. Cũng như tất cả văn sĩ, thi sĩ thành danh trước 1945 theo Đảng Cộng sản, Tô Hoài không viết được tác phẩm nào đáng kể từ sau năm 1945, vì sau khi trở thành đảng viên, Tô Hoài tuy có viết vài truyện nhưng những truyện này đều không có giá trị gì.

Cát Bụi Chân Ai” được Tô Hoài viết năm 1990, bìa trước ghi “Nhà xuất bản Thanh Niên”, bìa sau ghi giá bán US$12.00. Như vậy, quyển này được in lại ở Mỹ nhưng không thấy đề tên nhà xuất bản nào.

Trước hết, tôi điểm qua những đoạn Tô Hoài viết về văn nghệ sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Phạm Duy, Doãn Quốc Sĩ, Phan Nhật Nam v.v

Đây là đoạn Tô Hoài viết về Vũ Hoàng Chương:

Tôi mới viết truyện ngắn Ông giăng không biết nói đăng tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy. Gã yêu em. Em sắp về nhà chồng rồi mà cứ như không. Đêm hội chèo, tay đôi còn đưa nhau ra ngoài đồng, bên cái giếng thơi đầu xóm. Gã gặng hỏi. Nhưng em lắc đầu bảo không, rồi khóc. Mọi khi thì chẳng dám nói. Nhưng hôm ấy thong thả phiên chợ tơ, lại có chèo hát sân đình, gã hơi ngà ngà một chút. Gã sửng cồ lên:
– Ông biết thừa ra rồi. Ông hỏi thử chơi đấy thôi. Ông biết mười hai tháng sau cưới mày. Đồ khốn nạn!
Người con gái vùng chạy. Gã say rượu khát cháy cổ, cúi đầu hớp nước, ngã lộn xuống, chết đuối trong giếng. Thế rồi, ngày 12 tháng sau, ả nọ về nhà chồng. Từ đấy, mỗi lần về xóm nhà mình không bao giờ em dám đi tắt cánh đồng qua lối men bờ giếng. Nào ai biết đâu cái chết éo le thương tâm của người con trai. Nông nỗi đêm ấy chỉ có mỗi một ông giăng chứng kiến. Nhưng ông giăng lại không biết nói.
Trong nhà hát ở Vĩnh Hồ, Vũ Hoàng Chương chắp tay bái tôi:
– Lạy huynh, huynh nhất thiên hạ, huynh đã rõ tâm tình đệ. Ông hỏi thử chơi đấy thôi. Ông biết mười hai tháng sáu thì cưới mày… Ha ha… lạy huynh…
Tôi bảo:
– Mắt ông viền vải tây rồi. Câu của tôi là “mười hai tháng sau”, không phải “mười hai tháng sáu”.
Vũ Hoàng Chương cãi:
– Không, “mười hai tháng sáu” mới đúng cái đau của đệ, huynh đã cho đệ nén hương “mười hai tháng sáu”, không, mười hai tháng sáu… Huynh cứ cho đệ đọc là mười hai tháng sáu…
Làm thế nào cãi, mà cãi làm gì. Chầu hát suông, người ả đào và chú kép xách đàn sang nhà khác đã lâu. Chúng tôi uống bia đen, nghe không biết bao nhiêu lần bài thơ “Riêng tặng Kiều Thu” ấy.
Trăng của nhà ai, trăng một phương!
Nơi đây rượu đắng, mưa đêm trường
Ờ… đêm tháng sáu mười hai nhỉ?
Tố của Hoàng ơi, hỡi nhớ thương!
“…Tháng sáu mười hai từ đấy nhé
Chung đôi từ đấy nhé, lià đôi
Em xa lạ quá, đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi!
Men khói hôm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu ghi mười hai
Tình ta, ta tiếc: cuồng, ta khóc!
Tố của Hoàng nay Tố của ai?

(CBCA –  trang 152-153)

Số là năm xưa ấy thi sĩ Vũ Hoàng Chương, người mười mấy năm sau là “thi bá” của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – chẳng biết có người tình nào tên là Tố đi lấy chồng thật hay không, và cũng chẳng biết năm ấy thi sĩ đã có vợ hay chưa – làm bài thơ tình tự thương khóc vì người tình tên là Tố lên xe bông về nhà chồng ngày 12 tháng Sáu. Vớ được truyện ngắn “Ông giăng không biết nói” của Tô Hoài, ông cứ nằng nặc cho câu “mười hai tháng sau” trong truyện là “mười hai tháng sáu”, bất chấp Tô Hoài nói với ông rằng hắn viết “mười hai tháng sau”, hắn không viết “mười hai tháng sáu”. Trong mấy dòng này Tô Hoài tả Vũ Hoàng Chương có thái độ rất đàn em với y, Vũ Hoàng Chương gọi y là huynh, tự xưng là đệ ngọt sớt. Trong hồi ký “Ta Đã Làm Chi Đời Ta” của Vũ Hoàng Chương, thi bá VNCH viết Tô Hoài là anh chân chỉ hạt bột, một thứ “thầy giáo hồ lơ” không ăn chơi gì cả, hoặc chỉ đi che tàn, tức là theo đàn anh đi hát cô đầu – đi theo, không phải chi đồng nào, không nhân tình, nhân bánh với em cô đầu nào. Tô Hoài nếu có vào bàn đèn thuốc phiện theo đàn anh thì chỉ ngồi chầu rià hóng chuyện, không dám đánh đu với tinh.

Mắt viền vải tây” là mắt toét. Ngày xưa ngôn ngữ Bắc Kỳ có câu gọi mắt toét là “mắt viền vải tây điều“. Tô Hoài viết thiếu tiếng “điều”. Cứ như trong truyện thì Tô Hoài chế Vũ Hoàng Chương mắt toét, đọc sai chữ. Nhưng Vũ Hoàng Chương vẫn giữ phận đàn em, cứ cười hì hì, cứ đệ đệ, huynh huynh loạn cào cào châu chấu. Rất tiếc thi bá Vũ Hoàng Chương của nước tôi đã về ngôi từ lâu, nếu ông còn, tôi sẽ hỏi ông: “Tô Hoài viết về ông như thế, như thế Có thật không ông?”

Đây là đoạn Tô Hoài viết về nhà văn Doãn Quốc Sỹ của Quốc Gia VNCH:

Chúng tôi thường viết bài cho mục phát thanh của quân đội nói với thính giả miền Nam. Đọc tài liệu, giấy tờ bắt được ở chiến trường. Trò chuyện với phi công tù binh Mỹ. Có lần, Nguyễn Tuân và tôi vào làng La Cả uống bia ăn thịt chó với đại tá Phạm Văn Đính, đại tá Vĩnh Phong – người hoàng tộc, đã ra hàng quân giải phóng ở đỉnh cao Cồn Tiên Dốc Miếu. Hai sĩ quan này sơ tán ở một nếp nhà tranh của quân đội ẩn trong lùm cây ổi cây nhãn giữa làng. Thỉnh thoảng, kéo nhau ra thị xã Hà Đông sắp hàng mua bia hơi. Có người đến thăm, khói bếp nghi ngút cả ngày. Tôi cũng thường đọc trên đài một “thư Hà Nội” gửi nhà văn Quan Sơn ở Sài Gòn. Chẳng mấy ai biết bút hiệu ấy cuả Doãn Quốc Sỹ ngày trước trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm. Doãn Quốc Sỹ người Cầu Giấy, gần làng tôi. Chúng tôi quen nhau khi mới cầm bút. Một trong những truyện ngắn đầu tiên của Doãn Quốc Sỹ, “Đôi mắt của Hiền”, cô Hiền ấy, con gái đầu lòng bác Tú Mỡ. Bức thư tình đăng báo mà rồi nên nhân duyên, Doãn Quốc Sỹ theo nhà vợ ra vùng tự do ở Bắc Giang ít lâu rồi vào Hà Nội, rồi di cư vào Nam. Báo chí và các nhà xuất bản ở Sài Gòn in sáng tác của Doãn Quốc Sỹ, lại biết Sỹ dậy học ở Hà Tiên, được “tu nghiệp” ở Mỹ mấy năm. Chẳng biết cách mạng có nợ tiền, nợ máu gì với cái gia đình công chức còm ở một làng làm nghề dệt nghề giấy ngoại ô này không, tin là không, thế mà sao Doãn Quốc Sỹ viết chửi Cộng Sản hăng thế. Chắc chẳng khi nào Doãn Quốc Sỹ nghe bài của tôi để biết đến những tiếng nói vùng quê của anh. (CBCA –  trg 258-259)

Trong “Cát Bụi Chân Ai“, nhiều lần Tô Hoài kênh kiệu, hỗn xược, gọi nhiều người là “thằng”. Đoạn viết về Doãn Quốc Sỹ trên đây, hắn tỏ ra ngu và đần. Hắn tự nhận “cộng sản” là “cách mạng” và hắn théc méc “không biết cách mạng có nợ máu gì với gia đình Doãn Quốc Sĩ không mà ông nhà văn này “chửi” Cộng hăng đến thế?”. Hắn ngu vì hắn không biết nhiều người Việt Nam chống Cộng không phải vì cộng sản có nợ máu với cá nhân họ mà là vì cộng sản có nợ máu với nhân dân, vì cộng sản tàn ác với nhân dân, vì cộng sản làm cho nhân dân đau khổ. Hắn đần vì hắn không biết những người Việt Nam, như nhà văn Doãn Quốc Sỹ, không “chửi” Cộng mà tố cáo, lên án những hành động tàn hại nhân dân của bọn Việt Cộng.

Tô Hoài viết về Phạm Duy:

Phạm Duy và Thái Hằng ở Thanh Hóa ra. Có một hội nghị quốc tế về âm nhạc ở Rumani. Phạm Duy chuẩn bị đi. Tôi không biết hội nghị hoãn hay vì đường xá cách trở, bấy giờ xe lửa Bằng Tường–Nam Ninh chưa có, cuộc đi lại thôi. Vợ chồng Phạm Duy trở về khu Bốn. Chỉ có vậy, không lắm nhiêu khê như Phạm Duy đã viết trong hồi ký thời cách mạng kháng chiến đâu. (CBCA – trg 184)

Trong hồi ký 336 trang chữ nhỏ của Tô Hoài, đoạn viết về Phạm Duy chừng 10 dòng. Ta thấy ý của Tô Hoài là Phạm Duy đã vẽ vời nhiều chuyện không có thật trong hồi ký về những ngày tháng đi kháng chiến của đương sự.

Tô Hoài viết về Đinh Hùng:

Nghe nói Đinh Hùng ở báo Cứu Quốc, tôi tìm đến gặp Đinh Hùng trong một xóm đồng chiêm gần Chuông Tre lối ra Đồng Quan. Những câu ca dao in báo Cứu Quốc: Ngày nào trở lại cố đô, Ôi Thăng Long rợp bóng cờ vinh quang…  Đinh Hùng đã làm những ngày ở đấy. Sau Đinh Hùng theo Vũ Hoàng Chương xuống Quỳnh Côi dưới Thái Bình. (CBCA – trg 202)

Tô Hoài viết về Phan Nhật Nam:

Tù binh đôi bên được thả ở Lộc Ninh, ở Hà Nội, sân bay Gia Lâm chín giờ sáng còn sương mù. Một chiếc máy bay Mỹ, quân sự hạ cánh cuối đường băng, nhả cái thang dưới bụng. Nhân viên ủy ban quốc tế xuống trước. Mấy sĩ quan ta và Sài Gòn đi sau. Một người thấp bé, áo quần rằn ri, mũ nồi đỏ, cái cần máy ảnh giơ cao. Phóng viên chiến tranh Phan Nhật Nam, tác giả phóng sự Mùa Hè Đỏ Lửa tôi vừa đọc. Về Sài Gòn, Phan Nhật Nam viết báo kêu Hà Nội rất buồn. Nhưng ăn gà luộc ở khách sạn thì quả là thấy thịt gà ngon đậm như ông Vũ Bằng đã viết trong Miếng Ngon Hà Nội. Anh ta xin phép gói mấy miếng bỏ vào cái áo tám túi. Lại ngao ngán than phiền không thấy văn nhân nghệ sĩ nhà báo được ra sân bay. Rõ hồ đồ, Nguyễn Tuân và ông đây từ sáng sớm đã đứng uống bia Trúc Bạch trong quầy nhìn ra đám tù binh giặc lái áo xanh lá cơi, cổ đeo tràng hạt gộc tre, sắp hàng chui vào bụng máy bay. Và xem mày ngọ nguậy lên xuống giơ máy ảnh. (CBCA – trg 307)

Tô Hoài xưng “ông đây“, gọi Phan Nhật Nam bằng “mày” và chê Phan Nhật Nam “hồ đồ” là láo. Anh và anh già hèn Nguyễn Tuân được bọn Việt Cộng cho phép vào sân bay nhưng chỉ được đứng trong nhà ăn nhìn ra, không được phép thò mặt khỏi nhà ăn. Hai anh không phải phóng viên nhà báo, hai anh là hai thằng viết văn hèn mạt không dám viết một dòng, một chữ về đời sống bất hạnh của đồng bào hai anh, những người Việt miền Bắc đói dài, rách mướp dưới ách đô hộ của bọn cộng sản ác ôn. Suốt một đời hai anh không dám viết một dòng về những tội ác của bọn Việt Cộng, hai anh nhắm mắt, bưng tai, bịt mũi, thè lưõi liếm đít bọn Việt Cộng để được chúng ban cho rượu thịt. Hai anh Tô Hoài, Nguyễn Tuân ngàn năm ngồi chồm hổm trong bài thơ “Bồi Bút” của Nguyễn Chí Thiện:

Các loại bồi đều vô cớ bị ô danh
Bởi ông bạn cùng ngành có học có hành hẳn hoi là “bồi bút”!
Ông bạn này chỉ biết ăn, biết hút
Biết lách chui vào mọi khách sạn no say
Và to mồm hô vạn tuế: Hôm nay!
Để lương tâm không vò xé gắt gay
Ông cố gượng đeo vào đôi kính đỏ!
Nhưng buồn thay từ nhỏ
Không biết làm gì bằng hai bàn tay
Việc sửa sang khách sạn hàng ngày
Ông đành phải gục đầu thè lưỡi
Liếm đệm, liếm giường, tầng trên, tầng dưới
Cho sạch như chùi mọi dấu vết của đêm!
(Có lẽ không cần phải giải thích thêm
Là nhờ đôi kính đỏ lọc lừa
Ông mới không nôn bừa ra khách sạn!)

* Nguyễn Chí Thiện – Hà Nội 1973

Trong “Cát Bụi Chân Ai“, trang 169, bà Mộng Tuyết Sài Gòn có cái “vinh hạnh được” Tô Hoài hạ bút ban cho 5 câu:

Khác nào hai câu thơ hoa viết bút lửa trên mặt đôi guốc mộc của Mộng Tuyết gửi biếu bác Nguyễn, tình bạn đẹp và buồn phương trời:
Phồn hoa tỉnh mộng sương pha tóc
Mà cố nhân còn vẹn sắc hương.

Bà Mộng Tuyết này, nghe nói là vợ chui, vợ không hôn phối của ông Đông Hồ. Ông Đông Hồ qua đời, bà nghiễm nhiên làm chủ ngôi biệt thự của ông ở khu Lăng Cha Cả, Sài Gòn Năm Xưa Đẹp Lắm. Năm 1972, thi bá Vũ Hoàng Chương được bà Mộng Tuyết ân cần, trang trọng, nồng nàn mời về ngụ trong biệt thự này. Tất nhiên là cư ngụ với tư cách thượng khách, không phải chi tiền mướn nhà, miễn luôn tiền điện nước vì được ông bà hạ cố đến ở cho là chủ nhà hân hạnh. Đó là những năm phong lưu nhất của ông bà thi bá. Ngày 30 Tháng Tư đen hơn mõm chó cái đến, thi bá trở thành tội nhân của bọn cướp nước. Chủ nhà Mộng Tuyết trở mặt, quay mông liền một khi. Mụ muốn mời bọn Bắc Cộng Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên đến nhà chiêu đãi rượu thịt. Bọn ấy sẽ không đến nếu có thi bá VNCH Vũ Hoàng Chương ở trong nhà mụ. Mụ đuổi ông bà Vũ Hoàng Chương đi khỏi nhà mụ ngay lập tức. Ông bà thi bá lếch thếch dắt nhau về bên Khánh Hội sống nhờ nhà bà quả phụ Đinh Hùng. Tình cảnh thật thương tâm. Cũng may là ông bà thi bá VNCH không phải ngủ ở vỉa hè Sài Gòn đêm nào!

Năm 1976, dân Sài Gòn – thất nghiệp cả lũ, không biết làm gì – bầy ra trò dùng bút điện vẽ hoa, viết chữ lên những đôi guốc mộc để treo chơi. Nhiều đôi guốc mộc vẽ hoa được người Sài Gòn gửi cho người thân ở nước ngoài. Mộng Tuyết đặt làm một đôi guốc loại ấy tặng Nguyễn Tuân với hai câu thơ nhái bén. Thơ Mụ than nay Mụ via rồi và Mụ bốc thơm Nguyễn Tuân “cố nhân còn vẹn sắc hương!”. Khỉ lắm. Không ai dùng hai tiếng “sắc hương” để nâng bi thằng đàn ông. Kể ra cũng còn may cho Mụ trở cờ, Mụ nâng bi Nguyễn Tuân thơm nhưng nếu Nguyễn Tuân nó cho Mụ ngửi nó một cái, chỉ một cái thôi, chắc Mụ lăn đùng, ngã ngửa.

Những năm 1955-1956, bọn Tố Hữu “đánh” nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm, Nguyên Hồng được cho làm chủ bút tuần báo Văn. Bọn Tố Hữu dùng tờ Văn đánh nhóm Nhân Văn, nhưng những bài đăng trên tờ Văn yếu quá, bọn Tố Hữu không bằng lòng với việc làm của Nguyên Hồng. Bị phê bình là có cảm tình với nhóm Nhân Văn, Nguyên Hồng minh oan. Trong những cuộc bị tố và minh oan này Nguyên Hồng khóc mếu bệu nhếch thật thảm hại. Chuyện Nguyên Hồng khóc mếu được Tô Hoài viết trong hồi ký:

Mỗi đêm dưới Ấp về, bộ dạng Nguyên Hồng cũng chẳng khác đi đâu ban ngày. Trên ghi đông đặt cái cặp đúp chứa đầy bản thảo. Sau yên xe buộc một chồng báo Văn. Mọi khi chỉ kè kè cặp bản thảo, giờ thêm lô báo Văn từ số 1. Nét mặt hăm hở lẫn lộn đăm chiêu, những tờ báo Văn như một lá đơn để trình bày. Nhiều cuộc phê Nguyên Hồng, tôi không thể đếm xiết lần nào cụ thể. Chỉ nhớ báo Văn đã hữu khuynh, bị lũng đoạn. Ở đâu, họp tổ hay liên tổ, hay lên hội trường, Nguyên Hồng từ từ, cẩn thận, trịnh trọng đặt tập báo trước mặt, nói:

– Tôi làm báo không kể giờ giấc, không quản thức đêm, thức hôm, tôi bỏ hết sáng tác, cố làm cho kịp. Suốt tuần tôi bận bịu về nó hơn con mọn, bỏ ăn bỏ uống vì nó… thế thì làm sao tôi có thể sai… Tôi đấu tranh thực hiện đường lối văn học của đảng… Tôi hết tâm, hết sức vì nó, tôi không thể, tôi không thể…

Như người ốp đồng, không biết đương còn tỉnh hay đã mê, Nguyên Hồng để một tay lên chồng báo, to giọng đến bật khóc, vừa mếu máo vừa nói tiếp, nước mắt ròng ròng, hai tay mê mẩn xót xa vuốt mép báo. Cái lý lẽ cùng đường và những dòng nước mắt đã khiến những ai đương phê bình anh cũng không biết tiếp tục thế nào nữa. (CBCA – trg 93-94)

Bị phê bình không tích cực đả kích nhóm Nhân Văn, Nguyên Hồng khóc; được ăn mấy cái bánh lốc bểu, Nguyên Hồng khóc; đem thịt chó vào tiệm ăn của người ta – chủ tiệm người Tầu kỵ thịt chó, cho là thịt chó sui – bị mời ra khỏi tiệm, Nguyên Hồng khóc. Nhưng tờ Văn vẫn bị bọn Tố Hữu đóng cửa. Nguyên Hồng xin nghỉ hưu, đưa vợ con về sống ở Nhã Nam.

Tô Hoài kể chuyện Nguyên Hồng và cái xe đạp Xã Hội Chủ Nghĩa:

Nguyên Hồng về Nhã Nam. Thỉnh thoảng về Hà Nội làm sơ khảo, chung khảo các cuộc thi sáng tác, các giải thưởng văn học và làm chủ tịch Hội Văn Nghệ dưới Hải Phòng… Được giao việc làm đến nơi đến chốn, nhận tiền công trả đàng hoàng, các thứ văn phòng lĩnh rạch ròi từng cái ngòi bút, một ram giấy. Hội Nhà Văn Đức tặng Hội Nhà Văn Việt Nam 200 cái xe đạp Diamant mới cứng. Nguyên Hồng được điện khẩn mời xuống công tác. Ấy là việc dắt chiếc xe đạp đứng ở vườn hoa Cửa Nam trò chuyện với người qua đường. Vô Tuyến Truyền Hình của Việt và Đức quay giới thiệu nhà văn với tặng phẩm quốc tế. Nguyên Hồng hồi ấy mới để râu, rõ ra phong thái học giả phương Đông. Tuyên truyền thế thôi, cả hội chẳng được sờ vào vành bánh chiếc xe nào. Hai trăm cái xe vào kho bộ Thương Nghiệp. Nguyễn Tuân hỏi mắng Nguyên Hồng: “Đóng trò xong rồi, dắt mẹ nó cái xe đạp ấy đi, đứa nào làm gì được!”. Nguyên Hồng cười, vuốt râu, đánh trống lảng: “Tớ lên phim còn nhiều phút hơn cái thằng phiếc-mê vô danh trong Cánh Đồng Ma đấy. (CBCA – trg 133-134)

Khoảng 1976-1977, nghe những người miền Bắc vào kể lại bọn Lê Duẩn thường bầy cái trò chọn một, hai nhà dân nào đó cho khách ngoại quốc đến thăm, để khách thấy tận mắt đời sống của nhân dân Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ra sao. Chúng cho đem TiVi, tủ lạnh, bếp điện, máy điện thoại đến bầy ở nhà người dân cho khách thấy. Quay phim, tiếp khách xong, chúng cho khiêng tất cả những thứ ấy đi, tôi vẫn nửa tin, nửa ngờ. Đọc chuyện xe đạp xã hội chủ nghĩa do Tô Hoài kể, tôi thấy tởm quá. Tởm vì bọn đảng viên trắng trợn làm cái việc ăn cướp cơm chim, chúng ăn chặn cả mấy cái xe đạp do người Đức bố thí cho bọn gọi là nhà văn Bắc Việt. Tởm vì anh già Nguyên Hồng sẵn sàng đưa râu ra cho chúng dùng trong việc chúng đánh lừa nhân dân Việt, anh làm thế để được chúng phát cho ít tiền thù lao. Bọn phóng viên truyền hình Đức Cộng cũng không ra cái giống gì. Bọn này tất biết không chiếc xe đạp tặng phẩm nào đến tay người được tặng, nhưng chúng vẫn cứ quay phim, cứ báo tin về nước là tặng phẩm được giao cho đúng người. Thêm bọn gọi là bọn nhà văn Đức Cộng nữa. Không lẽ chúng không theo dõi nội vụ và không biết là không một tên nhà văn Bắc Cộng nào nhận được xe đạp chúng gửi tặng. Tất nhiên bọn Hội Nhà Văn Bắc Cộng phải gửi thư cám ơn. Nhưng rồi cả 200 cái xe đạp đều bị bọn đảng viên ngang nhiên lấy hết. Bọn đảng viên sẽ được mua những cái xe ấy với giá rẻ rề. Bọn “nhà văn” Bắc Cộng biết chuyện ấy nhưng tất cả đều câm miệng, không thằng nào dám hó hé.

Bị Nguyễn Tuân chửi, Nguyên Hồng mặt trơ, trán bóng lôi chuyện mấy chục năm xưa Nguyễn Tuân theo đoàn diễn viên Việt Nam – do ông Đàm Quang Thiện cầm đầu – sang Hồng Kông đóng phim “Cánh Đồng Ma, bộ phim truyện đầu tiên của điện ảnh Việt Nam. Trong phim “Cánh Đồng Ma“, Nguyễn Tuân đóng vai một y tá, bận áo bờ-lu trắng, khiêng cái băng-ca tải người bệnh. Anh-phiếc-mê Nguyễn Tuân chỉ xuất hiện trên phim có hai tích tắc, không rõ mặt, không nói nửa tiếng, vai trò bất cứ ai đóng cũng được, vậy mà nhờ nó Nguyễn Tuân được sang sống ở Hồng Kông hai tháng, khi về viết quyển “Một Chuyến Đi” kể chuyện Hồng Kông, nhiều nhất là chuyện đi hút thuốc phiện.

Trong “Cát Bụi Chân Ai“, mục “Nhân Vật Quốc Gia VNCH” ngoài Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Phạm Duy, Phan Nhật Nam, Mộng Tuyết, Tô Hoài còn nhắc sơ qua vài người nữa:

Nguyễn Tuân không chơi như mọi người. Xưa và nay Nguyễn Tuân trang nhã, thân tình với bà luật sư thượng viện Phước Đại, bà Bảy Nam và cô Kim Cương, cả với ca sĩ Hà Thanh, một thời đài Sài Gòn giọng vàng với Hoàng Oanh mà tôi giới thiệu ông vừa quen Hà Thanh xứ Huế ở khách sạn Côngtinăngtan hôm đoàn kịch nói Kim Cương ăn mừng một tuổi, cứ lưu luyến như gặp lại. (CBCA – trg 168)

Năm hết, Tết sắp đến, bạn ơi. Xuân đến, xuân đi trên mái tóc. Đêm xuân bạn ngủ có buồn không? Tôi nhớ hình như ông Tản Đà làm thơ về Xuân:

Oái oăm thay bác Hồng quân
Càng cho nhau mãi cái xuân, càng già…

Chán thấy mồ! Cứ mỗi lần xuân đến, ta lại già đi. Để tôi viết những chuyện dzui dzui bạn đọc cho dzui nhé?

Cát Bụi Chân Ai” của Tô Hoài còn vài chuyện nữa.

(Hết Chương 6)

Share this post