Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 9

Viết Ở Rừng Phong (Hồi Ký – Hoàng Hải Thủy) Chương 9

VIẾT Ở RỪNG PHONG
* Hồi ký HOÀNG HẢI THỦY
Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ nhất tại Virginia, Hoa Kỳ – 2004

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 9

Trăm năm thề đến bao giờ…?

Truyện Kiều là tác phẩm có nhiều cuộc thề thốt. Không phải tất cả nhưng đại đa số nhân vật cứ mở miệng ra là thề, nguyền, cam kết, hứa hẹn.

Nhưng Truyện Kiều cũng là chuyện tình trong đó những người thề ít giữ được lời thề nhất. Có thể nói mọi nhân vật thề ước linh tinh trong Kiều nếu không phản bội, cũng không giữ được lời thề. Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúc Kỳ Tâm, ba nhân vật chính, thề thốt thật nhiều. Mỗi lần thề là họ lấy thời gian “trăm năm”:

Rằng: Trăm năm cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi“.
….
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương

Đã nguyền hai chữ đồng tâm
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

Đấy là những lời cô cậu Thúy Kiều – Kim Trọng thề thốt mí nhau. Toàn đao to, búa lớn. Trăm năm cơ, năm bẩy năm, vài chục năm hổng thèm đâu. Cậu Thúc Kỳ Tâm sợ vợ vô địch võ lâm mở miệng ra là nói “trăm năm”. Thề nguyền đến như Công Tử Vô Tích Chạp Phô kiêm thi sĩ Kim Chỉ – Giải Rút đúng là thề vung xích chó:

Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn, lạch sông.

Nhưng khi thấp cơ thua trí đàn bà: vợ lớn của cậu bắt cóc vợ bé của cậu đem về nhà hành hạ tơi tả, thê thảm, cậu chỉ biết khóc hận, cười đau. Khi vợ lớn về nhà thăm mẹ, cậu lỉnh đến chùa nhà thăm ni cô. Ni cô cũng là ni cô nhà, ni cô mấy thu tu ở chùa nhà chuyên chay tịnh dưa cà, đậu hũ vừa bổ vừa lành, ni cô mơn mởn đào tơ – không thấy nói khi qui y tam bảo ở chùa nhà ni cô có xuống tóc, tức có trọc đầu hay không – cậu vẫn cứ hung hăng con bọ xít:

Quản chi lên thác, xuống ghềnh
Cũng toan sống thác với tình cho xong.

Nhưng mà:

Tông đường chút chửa cam lòng
Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai.

Cậu muốn bỏ hết để đi với em đến cuối bãi, đầu ghềnh, chân trời, góc biển. Nhưng cậu chỉ muốn cái mồm thôi. Lý do cậu đưa ra để hổng đi là lý do yếu xìu:

– Vì anh chưa có con nối dõi nên hổng thể đi mí em!

Lạ nhẩy? Anh không đi mí em vì chưa có con trai nối dõi? Dzậy thì đi mí em anh hổng có con được hay sao? Tại sao cứ nhất định phải có con mí Hoạn Thư mí được? Con Hoạn Thư đẻ ra mới là con anh, mới xứng đáng nối dõi, còn con em đẻ ra không phải con anh, không đáng nối dõi tông đường anh sao? Nhờ anh tí! Hoạn Thư về làm vợ anh lâu rồi, ít nhất anh cũng vất vả với nó năm, bẩy mùa lá rụng. Mà nó vẫn chưa có con tức là nó khó có con, còn lâu nó mới có con, rất có thể nó sẽ không có con. Còn em đây, em phơi phới hơn nó nhiều. Bộ em không đẻ được con cho anh nối dõi tông đường sao? Đừng có nói dzậy chứ! Muốn em hổng đẻ thì hơi khó chứ muốn em đẻ thì dễ ợt.

Thi sĩ Tạp Hóa ngoài tật sợ vợ, còn thuộc loại những anh chồng mà ông cha ta gọi là bọn “bỏ vợ còn mótay theo”. Cậu bảo ni cô bỏ chùa đi cho mau, cho xa:

Liệu mà xa chạy, cao bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi.

Nhưng cậu vẫn cứ hy vọng một ngày mai đẹp trời, cậu và nàng sẽ lại đoàn tụ gia đình trong vòng trầy trật:

Bây giờ kẻ ngược, người xuôi
Biết bao giờ lại nối lời nước non.

Cậu còn nói lời cuối “Anh yêu em mãi mãi”:

Dẫu rằng sông cạn, đá mòn
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng tình anh yêu em vẫn còn mãi mãi, đến lúc ngáp ngáp anh vẫn còn yêu em. Anh yêu em nhưng bỏ vợ để đi mí em thì anh hổng bỏ, anh hổng đi.

Thúc Kỳ Tâm chưa được là nhà buôn, cậu chỉ là con nhà buôn. Cậu ăn chơi vung vít nhờ tiền của ông bố ký cóp. Suốt đời cậu chẳng kiếm nổi một đồng xu. Cậu chuyên khuân tiền nhà đi ăn chơi. Cậu là thứ phá gia chi tử chân chính. May cho ông già họ Thúc ba phải chưa đến số sập tiệm, ông chỉ mới vắng mặt ở cửa tiệm Lâm Tri có nửa năm mà tiệm đã hết nửa vốn, ông mà láng cháng vắng mặt thêm nửa năm nữa là ngôi hàng Lâm Tri tiêu tán thoòng.

Thúy Kiều thề sẽ chờ Kim Trọng suốt đời, nhưng chỉ mới mấy tháng sau khi Kim công tử về Liêu Đông áp tải quan tài, nàng đã ca sáu câu:

Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa.

Trăm nghìn gửi lậy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Ôi Kim lang, hỡi Kim lang
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.

Thúy Kiều không giữ được lời thề vì nàng là nạn nhân của tai họa xẩy đến với gia đình nàng, nàng là phụ nữ, nàng bị động. Bọn đàn ông thề và phụ lời thề trong Kiều mới là bọn đáng ghét. Thúc Kỳ Tâm ba hoa:

Đường xa chớ ngại Ngô Lào
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta.

Cậu hứa trăm điều nhưng không làm được một. Khi vợ lớn ra tay, hạ độc chiêu, cậu chỉ biết than dài:

Thấp cơ, thua trí đàn bà
Trông vào đau ruột, nói ra ngại lời.

Cậu giục vợ bé của cậu phú lỉnh nhưng cậu không chi cho nàng cái vé xe đò, đừng nói gì đến cái vé máy bay. Nàng làm gì có tiền nên phải lấy cắp chuông vàng, khánh bạc mang theo để hộ thân. Hộ thân đâu không thấy, bộ chuông khánh lại là nguyên do đưa nàng trở lại lầu xanh. Tiểu thuyết của Thanh Tâm, Truyện Thơ của Nguyễn Du, không cho biết khi Kiều khăn gói quả mướp ra khỏi Chiêu Ẩn Am thì bộ chuông vàng, khánh bạc đi đâu, về đâu? Có nhiều khả năng Vãi Giác Duyên – “Ở đây cửa Phật là không hẹp gìđã làm phúc thu nhận bộ đồ ấy lắm ạ!

Kim Trọng, ngoài việc là Chưởng Môn Hoa Thơm Đánh Cả Cụm, còn là chuyên viên “mồm miệng đỡ chân tay” có hạng. Khi từ Liêu Dương trở lại Vườn Thúy, thấy Thúy Kiều đã lên xe bông, cậu lăn đùng, ngã ngửa, giẫy đành đạch như đỉa phải vôi. Cậu trình diễn nhiều màn thảm thiết làm người ta tưởng là cậu chết đến nơi:

Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa
Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai
Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi
Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Cậu hung hăng thề – lại thề – loạn cào cào:

Bao nhiêu của, mấy ngày đàng
Còn tôi, tôi một gặp nàng mới thôi.

Rồi cậu về sửa sang chốn vườn Lãm Thúy – nơi cậu mượn điều du học hỏi thuê – cậu rước ông bà viên ngoại đến ở cùng nhà. Cũng kỳ! Cậu lấy tư cách gì mà chiêu đãi, phục vụ ông bà Vương viên ngoại quá cỡ thợ mộc đến thế? Vương Viên Ngoại sau chuyến đi tù về hết nhẵn tiền bạc nên sẵn sàng chịu ơn một anh chàng chẳng có họ hàng dây mơ, rễ muống chi hết là chuyện thường tình. Chỉ có điều ông bà về ở chung mí anh thì em Thúy Vân nó cũng về ở chung mí anh, không lẽ lại mướn nhà riêng cho em nó ở một mình? Ra vô đụng chạm, anh ruột không phải, anh họ không phải, anh rể chưa phải. Mà cho là anh rể thật sự, hợp pháp đi nữa, chị không có nhà, anh rể hai mươi, cô em vợ mười sáu, mười bẩy. Khó lắm ai ơi! Chuyện bắt buộc phải xẩy ra là “con chị nó đi, con dì nó thế”. Mà công tử thì đúng là sắp chết đến nơi, sắp chết đến nỗi trên cõi đời này không ai có thể sắp chết hơn được nữa:

Sinh càng thảm thiết khát khao
Như nung gan sắt, như bào lòng son
Ruột tằm ngày một héo hon
Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve
Thẫn thờ lúc tỉnh, lúc mê
Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao…

Công tử khóc quá xá, công tử khóc đến ra máu mắt. Người đời chỉ ho ra máu, ít có ai khóc ra máu như công tử. Phải cứu mạng khẩn cấp. Khóc ra máu như thế, lúc tỉnh, lúc mê như thế, công tử ra nghĩa địa đến nơi rồi, nghẻo củ tỏi là cái chắc. Điều kỳ diệu xẩy ra – chuyện thuộc loại  khó tin nhưng có thật – ông già Vương viên ngoại không phải lang thuốc nhưng bốc thuốc điều trị cứu mạng công tử rất mát tay. Ông già Vương lù khù thế mà bốc thuốc trị bệnh cao tay hơn cả Hoa Đà, Biển Thước.

Vương lang băm chỉ bốc có một thang thuốc thôi, nhưng là thang tiên dược, thần dược, thánh dược. Công lực của thang thuốc thần hiệu không biết đến thế nào là cùng. Kim bệnh nhân đang mê sảng, khóc ra máu, mắt trợn trắng, miệng ngáp ngáp, mấy ngón tay đã bắt chuồn chuồn, nằm thẳng cẳng ngay đơ cán cuốc Nhưng chỉ cần thang tiên-thánh-thần-nhân dược ấy đưa đến là kẻ sắp vào quan tài nhỏm ngay dậy, đi hớt tóc, cạo râu, tắm, lên com-lê ca-la-hoách, vào xe bông đến nhà hàng, cặp tay, ôm eo ếch cô dâu, ngoắc tay cùng uống ly săm-ban hôn phối, rồi về ô-ten động phòng như máy.

Vương viên ngoại đã bốc thang thuốc thần sầu, quỉ khốc, nhân kinh cứu mạng Kim công tử. Đừng có mê tín thuốc Tây, thuốc ta mới là số dzách. Không phải tìm đâu xa, thứ thuốc cải tử hoàn sinh ấy thường có sẵn ở nhà hay ở gần nhà. Anh nào có phúc là anh ấy gặp thầy, gặp thuốc. Kim công tử số chưa đến ngày hui nhị tì nên đã gặp thuốc đó. Đang sắp chết cậu tươi lại, tỉnh ra, đầu óc sáng như gương Tầu, cậu hết mê sảng, cậu dùng thuốc dài dài mỗi ngày. Cậu học đâu, nhớ đấy, học một biết mười. Sau khi có thuốc mấy niên, cậu đi thi và cậu bèn đỗ cử nhân.

Thang thuốc cứu mạng công tử là em Thúy Vân. Em Thúy Vân không có tài đàn địch, thơ phú nhưng đàn bà cần gì biết đàn với thơ, đàn bà chỉ cần đẹp. Về mục có da thịt, nẩy nở, khoẻ mạnh, em Thúy Vân hơn hẳn chị Thúy Kiều. Được Vương lang băm phục cho thang thuốc Thúy Vân, Kim công tử thoát chết. Sống vợ chồng với Thúy Vân, đôi khi công tử cũng thoáng thương nhớ Thúy Kiều:

Nỗi nàng nhớ đến bao giờ
Tuôn châu đòi trận, vò tơ trăm vòng.

Công tử được cái hơn người là:

Khi ăn ở, lúc ra vào
Càng vui duyên mới, càng dào tình xưa.

Điều này có nghĩa là dzui với Thúy Vân chừng nào, cậu nhớ thương Thúy Kiều chừng ấy, hoặc ngược lại, càng nhớ Thúy Kiều cậu càng dzui với Thúy Vân. Chung tình như cậu mới thật là chung tình chân chính! Công tử thề quyết tìm ra, quyết gặp lại Thúy Kiều dù mất bao nhiêu tiền của, mất mấy ngày đàng. Nhưng việc cứu người mất tích của cậu có vẻ lửng lơ con cá vàng:

Đinh ninh mài lệ chép thư
Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe
Biết bao công mướn, của thuê…

Cậu mướn người khác làm, cậu bỏ tiền thuê người đi tìm tung tích Thúy Kiều còn cậu ở nhà phục thuốc mỗi ngày. Tố Như, từng ca tụng Kim Trọng bằng những lời hết xẩy “Thông minh, tài mạo tót với. Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” và “Văn chương nết đất, thông minh tính trời” dường như đến những đoạn sau cũng có ý phê phán thái độ tìm kiếm bôi bác và “hoa thơm đánh cả cụm” của đương sự. Ta thấy ẩn ý của Tố Như trong hai câu:

Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe.
Biết bao công mướn, của thuê…

Tìm gấp, tìm kỹ, tìm ra, tìm dzô, tìm về, tìm đi, tìm dấu, tìm vết, tìm nhà, tìm cửa vvTìm gì cũng êm nhưng “tìm tõi” nghe mới bôi bác làm sao! Đã “tìm tõi” lại còn “nhắn nhe“… Nhắn tin, nhắn miệng, nhắn nhủ, nhắn gì cũng được nhưng “nhắn nhe” nghe hổng ổn chút nào.

Việc Kim bá bá, tức bác Kim Trọng, lấy Thúy Vân A Di, tức Dì Thúy Vân, không có gì xấu hay đáng chê. Không những không phải việc xấu, việc đáng chê mà còn là việc thông thường của nhiều ông anh rể trên cõi đời này. Những ông anh rể này không chỉ yêu thương vợ mình mà còn yêu thương hằm bà lằng cả các cô em vợ. Nhưng khi đã :vui duyên mới” cũng không nên diễn màn “dào tình xưa” nữa, nhất là đừng mở miệng đao to, búa lớn:

Bình bồng còn chút xa xôi
Đỉnh chung ai nỡ ăn ngồi cho an.
Rắp mong treo ấn, từ quan
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha
Dấn mình trong áng can qua
Vào sinh, ra tử họa là thấy nhau…

Cậu dọa treo ấn từ quan nhưng cậu hổng treo, hổng từ chi cả. Còn chuyện dấn mình trong áng can qua thì cậu chỉ dấn mồm thôi. Sức mấy cậu chịu liều mạng công tử bột, nay là huyện lệnh, vào sinh ra tử tìm bất cứ ai. Cậu mặt trơ, trán bóng chạy tội bằng mấy câu “pác-sơ-cơ”:

Nghĩ điều trời thẳm, vực sâu
Bóng chim, tăm cá biết đâu mà tìm
Những là nấn ná đợi tin
Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời.

Chèng đéc ơi! Nấn ná là năm bữa, nửa tháng, một hai niên. Nấn ná mà đến những mười lăm mùa lá rụng thì còn gì xuân sắc con nhà người ta nữa? Sốt sắng bảo lãnh chỉ năm năm là đoàn tụ rồi, lần chần đến mười lăm niên mới chi vé máy bay cho người ta thì “còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi!“.

oOo

Trong Kiều, thiên hạ dễ dàng nặng lời thề thốt, mở miệng ra là “trăm năm” – Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương. Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai. Rằng trăm năm cũng từ đây. Trăm năm tính cuộc vuông tròn… Không những xài vung xích chó tiếng “trăm năm”, người ta còn khiêng cả “ngàn năm” vào cuộc tình của người ta nữa: Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ…

Nhưng chỉ số thời gian trong Kiều không phải là “trăm năm” mà chỉ là vài năm, lâu nhất là mười lăm năm – Bèo trôi, sóng vỗ chốc mười lăm năm. Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình…, ngắn là “nửa năm”. Thời gian nửa năm được dùng nhiều trong Kiều:

Nửa năm hơi tiếng vừa quen
Sân ngô, cành bích đã chen lá vàng
Giậu thu vừa nẩy chòi sương
Gối yên đã thấy xuân đường đến nơi.

Kỳ Tâm đến với Kiều ở lầu Ngưng Bích vào dịp đầu xuân, đưa nàng thoát khỏi vòng tay Tú Bà vào mùa hạ: Mượn điều trúc viện thừa lương – ý nói đưa nàng đi Đà Lạt nghỉ mát . Kỳ Tâm – Kiều sống vợ chồng với nhau được sáu tháng – bi giờ là mùa thu – Thúc ông được tin cấp báo anh con bốc trời ăn chơi quá cỡ thợ mộc vừa lấy cô vợ chơi bời, bèn hỏa tốc phóng xe về Lâm Tri phá đám.

Nửa năm hơi tiếng vừa quen” là nửa năm thứ nhất trong đời Kiều. Nàng xuống giá cùng với thời gian. Mã Giám Sinh mua nàng với giá bốn trăm lạng, Thúc Kỳ Tâm chuộc nàng với khoảng ba trăm lạng, đến Từ Hải giá nàng chỉ còn trên dưới hai trăm. Nhưng thời gian Từ Hải sống chung với nàng vẫn thế, vẫn chỉ là “nửa năm”:

Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

Kỳ Tâm – Kiều nửa năm thì bị ông bố về phá đám, Từ Hải – Kiều sáu tháng thì Từ động lòng bốn phương.

Thời gian của cậu Kim Trọng mới ly kỳ. Khi tạm biệt Kiều để về Liêu Dương hộ tang ông chú lắm chuyện, vô duyên, đã không có con lại bầy đặt lăn đùng ra chết nơi xứ lạ, quê người bắt anh cháu phải đưa quan tài về quê, công tử đau khổ hẹn nàng:

Ngoài nghìn dặm, chốc ba đông
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy
Gìn vàng, giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời.

Rõ ràng công tử nói: “Anh phải xa em đến ba mùa đông”. Nhưng sau đó ta lại thấy:

Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà
Vội sang vườn Thúy dò la…

Như vậy là đáng lý phải xa cây mít vườn Thúy đến ba niên, công tử chỉ làm công việc phù tang qua quít trong có sáu tháng là phú lỉnh trở về gốc mít. Kể ra công tử làm như vậy cũng đúng thôi. Hộ tang gì mà những ba niên? Quá lãng phí thì giờ vô ích. Để thì giờ mà sống chứ, nhất là khi người ta còn trẻ và vừa mới có người yêu. Đến cái năm Gia Tĩnh triều Minh ấy xã hội Ba Tầu đã tiến bộ văn minh rồi, nam thanh, nữ tú Tầu không còn chịu kìm kẹp trong những phong tục cổ hủ di truyền từ đời những ông Khổng Khâu, Mạnh Kha mới cưới vợ.

Qua tác phẩm Kim Vân Kiều, ta thấy trai gái triều Minh không còn tuân thủ cái luật gọi là “nam nữ thụ thụ bất thân”. Kim Trọng, Thúy Kiều công khai gặp nhau ở nghĩa địa. Thời gian lúc họ gặp nhau là buổi chiều “tà tà bóng ngả về tây“, nhưng chiều tà cũng vẫn là thanh thiên bạch nhật. Trinh nữ Thúy Kiều còn văn minh, hiện đại hơn rất nhiều em trinh nữ Mít những năm 1950 – những em sống sau Thúy Kiều ba, bốn trăm năm – với việc nửa đêm nàng chui hàng rào sang vi-la Lãm Thúy tự tình với Kim Trọng, uống rượu, thề thốt, ký hợp đồng sống chung vợ chồng, mần thơ, gẩy đàn, lả lơi, xiêu xiêu v.v

Phép cư tang do những ông nho chùm đời xửa, đời xưa vẽ ra, để lại lôi thôi, rắc rối đến độ người ta chẳng còn mần ăn chi được. Bố mẹ chết là anh con phải cư tang ba niên. Cư tang thì phải sống như thế nào? Kể sơ sơ thôi đã thấy rợn tóc gáy, ớn cả da gà lẫn da vịt: Phải làm nhà lá, vách phên nứa bên cạnh mộ bố mẹ, phải ăn ngủ liền tù tì suốt ngày đêm ở đó trong ba niên. Trong ba niên cư tang ấy, anh con không được ăn thịt, uống rượu, cười cợt, không được đàn ca, hát xướng – tất nhiên cư tang mà xem video, nghe CD là không được. Không được cả tắm, gội đầu, đánh răng, xúc miệng trong ba niên. Xin nhắc lại: ba niên. Nặng nhất, tàn ác nhất, là trong ba niên cư tang dài đằng đẵng hơn ba mươi thế kỷ ấy, anh con cư tang không được gần vợ lớn, vợ bé, tình nhân. Nếu trong ba niên cư tang anh nào vô phúc làm vợ lớn, vợ bé có chửa là cuộc đời đi vào chu kỳ đen hơn mõm chó mực. Phạm cái tội bất hiếu tầy trời ấy can phạm sẽ bị dư luận chê bai, pháp luật trừng trị. Nếu là thường dân can phạm sẽ bị quan cai trị địa phang bắt nộp phạt bằng tiền, nọc cổ ra đánh đòn. Nếu là quan lại tại chức can phạm sẽ bị các ông Ngự Sử đàn hặc, tâu lên nhà vua, đang là thái thú, thứ sử, tư mã có thể bị giáng chức xuống làm chấp kích lang, mặc áo dấu, đi chân đất, vác hỏa mai, đứng ghếch cửa

Nhưng May quá, đó là chuyện đời xưa. Bỉ nhất thời, thử nhất thời… Đời ấy khác, đời nay khác.

Bộ hình luật cư tang ác ôn ấy đã bị thủ tiêu nhẵn thín chỉ còn trên những trang sử mốc thếch chẳng ai đọc hoặc có đọc, có viết lại cũng với mục đích nhắc nhau là ở thời đại chúng ta con người sướng lắm rồi, ít nhất những anh con chí hiếu đã có thể để tang, thương nhớ bố mẹ trong trái tim, cư tang suốt đời chứ không giới hạn ba niên ngắn ngủi. Thực ra, bọn đàn ông hèn nhát đã không đủ can đảm cởi bỏ xiềng xích cư tang nếu không có những người phụ nữ – không đứng sau lưng mà nằm bên họ –  thúc đẩy. Những người phụ nữ đã dũng cảm quyết liệt phản đối cái luật ép buộc chồng của họ, tình nhân của họ ba niên không được rửa mặt, gội đầu, đánh răng, xem xi-nê, ăn thịt bò

Bằng chứng không thể chối cãi là Kim Trọng đáng lẽ phải hộ tang ba năm ở nơi xa ngàn dặm  – như lời cậu nói – chỉ hộ tang có nửa năm là dzọt lẹ trở về Vườn Thúy.

Thời gian dài nhất trong Kiều là “mười lăm năm:

Mười lăm năm, tám cuộc tình
Bốn tên chết bởi cô mình oan gia.

Trong thế giới Kiều, người ta luôn miệng nói đến :trăm năm” nhưng trước sau, dài ngắn chỉ là mười lăm năm thôi. Trong mười lăm năm ấy có ba cái nửa năm:

Nửa năm hơi tiếng vừa quen
Sân ngô, cành biếc đã chen lá vàng.

Nửa năm hương lửa đang nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
,,,
Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.

Công Tử Hà Đông tại ngục Chí Hòa vịnh Kiều, tính thời gian thiên hạ nói yêu nhau “trăm năm” nhưng họ yêu nhau không quá năm năm: Thúy Kiều – Kỳ Tâm hai năm, Thúy Kiều – Từ Hải năm năm. Thiên hạ nói nhiều song yêu chẳng bao nhiêu.

Cảm khái, Công Tử bèn mần thơ:

Phù vân… Chỉ là phù vân
Yêu thì yêu cũng có ngần ấy thôi…

Tất cả những cuộc tình của Thúy Kiều đều dang dở, đứt đoạn, đau khổ nhiều hơn sung sướng, tai họa, oan khiên nhiều hơn hạnh phúc, hoan lạc. Và tất cả những lời thề thốt sống chết mí nhau, không bao giờ bỏ nhau, chờ nhau mãi mãi đều chỉ là lời thề thốt vẩn vương mà những người thề nguyền vẫn nhớ nhưng không giữ được.

Tóc tơ căn dặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.

Gìn vàng, giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây, cuối trời.

Cùng nhau trót đã nặng lời
Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ.

Đã nguyền hai chữ đồng tâm
Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

Mái tóc em không thay, mái tóc em vẫn là mái tóc ngây thơ ngày ấy, chỉ khác là bây giờ mái tóc phu nhân mượt mà hơn, ta gặp lại nhau giữa phố đông “Em đi ríu rít tay chồng, tay con”. Anh chẳng khá gì hơn em, anh cũng vợ con đùm đề…

Tuyệt đại đa số những cuộc tình đầu đều không đi đến nơi, đến chốn. Rất hiếm thấy những cặp yêu nhau tình đầu trở thành vợ chồng, sống với nhau gắn bó, yêu thương suốt đời. Cũng có, nhưng thật ít

Nâu sồng từ trở mầu thiền
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu

Thời em bận áo cà sa đóng vai ni cô tị nạn ái tình ở Quan Âm Các, trăng thu đến trên sân chùa hai, ba lần, tức hai, ba mùa thu hay hai, ba niên. Khi em đi trăng thu vẫn trở lại sân chùa nhưng không còn em ở chùa nữa.

Trên sàn xi-măng Phòng 10 Khu ED Lầu Bát Giác Chí Hòa, anh tưởng tượng anh trở lại sân chùa đứng cô đơn dưới ánh trăng thu… Anh nhớ hình ảnh ni cô đa tình mắt sáng, môi hồng nay không biết đang cho tên đàn ông đẻ bọc điều nào hưởng vòng tay ấm.

Anh nhớ em và anh mần thơ “Em Bỏ Chùa Này“:

Vàng trăng, trăng nhuộm vàng ngâu
Vàng hoa, hoa ở trên lầu Quan Âm
Vàng tâm, tâm nguyện hương tâm
Vàng mây, mây gửi nghìn tầm gió bay…
Mấy thu trăng đến chùa này
Mấy thu em ở, một ngày em đi
Tình đi, người cũng từ ly
Vàng phai, đá nát còn gì nữa đâu
Mấy thu trăng đứng trên đầu
Mấy thu tơ đã phai mầu vàng tơ
Trăm năm thề đến bao giờ
Mấy thu người đã hững hờ chia tay
Vàng hây thì cả gió may
Ái ân ta có ngần này mà thôi
Vàng trôi, vàng ngược, vàng xuôi
Còn bao giờ nữa nối lời nước non
Vàng tan, sông cạn, đá mòn
Con tằm chưa thác có còn vương tơ?
Vàng sương, vàng nắng, vàng mưa
Vàng son phấn cũ, hương thừa ở đâu?
Vàng hương, hương tắt trên lầu
Vàng kinh trang giấy nhuộm mầu thời gian
Vàng phong thu nhuốm quan san
Vàng lan, lan ở trong màn chờ ai?
Vàng anh, anh tiếc em hoài
Vàng ngàn sao nỡ em ngoài mấy trăm?
Vàng rơi, ngọc lấm cát lầm
Vàng e gió bắt, mưa cầm, vàng bay
Vàng gìn, ngọc giữ cho hay
Vàng sông rồi cũng một ngày vàng gieo
Vàng trăng trời đất vàng theo
Vàng hoa vàng cả cánh bèo truân chuyên
Vàng nung, ngọc nấu trần duyên
Vàng sôi vàng đến Trạc Tuyền vàng đi
Vàng sen nương náu qua thì
Vàng phai, đá nát còn gì trao tay…
Ngàn năm trăng vẽ nét mày
Ngàn năm em bỏ chùa này, em đi.

(Hết Chương 9)

Share this post