Vĩnh Biệt Hai Nhà Thơ Nổi Tiếng Của Miền Nam: Trần Tuấn Kiệt, Du Tử Lê

Vĩnh Biệt Hai Nhà Thơ Nổi Tiếng Của Miền Nam: Trần Tuấn Kiệt, Du Tử Lê

* Nguồn: Người Việt Online (https://www.nguoi-viet.com)

TƯỞNG NHỚ NHÀ THƠ NAM KỲ LỤC TỈNH TRẦN TUẤN KIỆT
* Vương Trùng Dương

Thơ Trần Tuấn Kiệt đã đạt tới cõi nguồn trường mộng tinh anh nên gợi dậy rất nhiều chân trời hoài niệm. Dựng lên những câu hỏi huyền hoặc. Lời thơ pha đủ mọi dư vang của triều rộng. Con cháu Nguyễn Du đã gặp Holderlin, Nerval (nhà thơ Đức Friedrich Hölderlin, 1770-1843, nhà thơ Pháp Gérard de Nerval 1808-1855) – và đón suy tư hướng vọng vĩnh thể của thiên tài Tây phương. Niềm chiêm nghiệm bát ngát vô song… (Bùi Giáng).

Chỉ riêng với thơ, Trần Tuấn Kiệt đã dấn thân vào những cuộc phiêu lưu đến những xứ sở chỉ có những tâm hồn như anh mới khám phá ra được (Trần Áng Sơn: Trần Tuấn Kiệt – từ nhà thơ, nhà văn đến võ sĩ, 2007).

Nếu có ai hỏi tôi, hãy chọn một thi sĩ miền Nam đáng trọng đáng quý nhất, và thi sĩ nhất, tôi chọn Sa Giang Trần Tuấn Kiệt (Viên Linh: Bằng hữu cuối trời: Thi sĩ Trần Tuấn Kiệt, 2012).

Trần Tuấn Kiệt là thi sĩ suốt đời mang nghiệp thi ca. Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, dường như ông song hành giữa lãng mạn thi ca và hiện thực đời sống. Ðọc thơ ông, là chia sẻ với những mẫu đời của một thời đại đặc biệt với những tâm cảm đặc biệt và của những người có trái tim nhạy cảm. Trần Tuấn Kiệt làm thơ rất dễ dàng, viết cả năm ngàn bài thơ với cả nét lãng mạn và thực tế trộn lẫn (Nguyễn Mạnh Trinh: Trần Tuấn Kiệt, Thi Ca & Cuộc Đời, 2016).

Thơ Trần Tuấn Kiệt đã đi vào khung trời riêng, của hơn 50 năm hòa nhập với thi ca, chất chứa đầy khí lực tạo dựng một vũ trụ thơ của anh (Ngô Nguyên Nghiễm: Chân Dung Văn Nghệ Sĩ 2018).

Trần Tuấn Kiệt qua đời vào chiều ngày 8 tháng Mười, 2019, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi.

Mồ côi mẹ lúc 8 tuổi nên thuở bé ông sống với bà ngoại tại vùng tản cư ở Đồng Tháp Mười. Năm 1950, lúc 11 tuổi lên Sài Gòn, theo học ở trường Tân Thanh với các giáo sư như Tam Ích, Thiên Giang, Bùi Giáng, Đồng Tân… và sau học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc về bộ môn thổi sáo và đàn tranh, theo học một năm rồi bỏ ngang.

Với năng khiểu bẩm sinh, khởi đầu nghiệp cầm bút, thơ Trần Tuấn Kiệt xuất hiện trong mục Hoa Hàm Tiếu, giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh; gia nhập Văn Ðàn Bạch Nga và cộng tác tờ bán nguyệt san Phổ Thông (1958-1971) của Nguyễn Vỹ… Tam Ích giới thiệu vào làng báo ở Sài Gòn. Từ cuối thập niên 1950 ông đã cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí cho đến tháng Tư, 1975.

Bút hiệu Sa Giang ghép từ quê nhà Sa Đéc và Nam Kỳ Lục Tỉnh, vùng đất có nhiều dòng sông với Cửu Long Giang. Với thơ ông ký Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, với văn ông ghi Trần Tuấn Kiệt. Ngoài ra ông còn nhiều bút hiệu khác như: Việt Thần, Việt Long, Việt Hoàng, Duy Thức, Lan Sơ Khai, Xuân Thu, Hồng Lĩnh… tùy theo lãnh vực sáng tác. Sau năm 1975, trải qua thời gian lao tù, ông dùng nhiều bút hiệu viết từ võ hiệp đến gia chánh, vô thưởng vô phạt, in sách để mưu sinh.

Trần Tuấn Kiệt viết đủ các thể loại, như thơ, biên khảo, truyện dài, võ thuật, dã sử kiếm hiệp, tín ngưỡng thần đạo Việt Nam… nhưng gọi ông là thi sĩ bởi vì từ thi phẩm đầu tay “Thơ Trần Tuấn Kiệt” (1963), kế tiếp với 26 tập thơ, trong đó tập thơ “Lời Gởi Cây Bông Vải” (1969) được Giải Nhất Văn Học Nghệ Thuật (bộ môn Thơ) năm 1970 của Tổng Thống VNCH. Tập thơ chừng 70 trang, gồm những bài thơ 5 chữ và lục bát). Hơn nữa, trong thi ca là tiếng lòng, tâm sự và nguồn cảm hứng của cuộc đời để trang trải với tha nhân.

Ông đã xuất bản khoảng hai trăm tác phẩm trong nhiều thể loại trong lãnh vực từ Văn Học Nghệ Thuật đến Võ Thuật. Ngoài 27 tập thơ (sau năm 1975 ông tự in một số tập thơ phổ biến hạn chế để tiếp tục cuộc hành trình từ thuở ban đầu) còn có:

– Truyện dài: “Sa Mạc Lan Dần”, “Tiếng Đồng Nội”, “Hồng Cẩu Quẩy”… Dã sử: “Quật Mộ Tào Tháo”, “Quật Mộ Tần Thủy Hoàng”, “Linh Sơn Nghĩa Sĩ”.

– Biên khảo: “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại”, Khai Trí xuất bản 1965 (Trần Tuấn Kiệt mới 26 tuổi). Gồm hai phần: Phần I – Thi Ca Tiền Chiến, có 43 nhà thơ; Phần II – Thời Chiến Tranh, có 26 nhà thơ. Sau này ông viết thêm “Thi Ca Việt Nam Hiện Đại (1880-1965)”, dày gần 1,200 trang, rất công phu, tài liệu về thi ca ngắn gọn để tìm hiểu. (Cuốn “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh Hoài Chân chỉ dày 394 trang từ Tản Đà đến Trần Huyền Trân). “Tác Giả Tác Phẩm trước 1975” và “Tác Giả Tác Phẩm sau 1975” dày hơn 5,000 trang gồm năm quyển, tự in, còn dang dở.

– Võ thuật: “Dịch Cân Kinh”, “Thái Cực Quyền”, “La Hán Quyền”, “Quyền Thuật Thiếu Lâm Tự”…

– Tôn giáo tín ngưỡng: “Tín Ngưỡng Thần Đạo Việt Nam” còn gọi là Đại Việt Thần Đạo viết tay 15,000 trang với sự cộng tác và sưu tầm của nhiều người bạn và các tác giả khác. Chỉ in được vài tập ở Luân Đôn năm 2010.

Cuộc đời Trần Tuấn Kiệt sống chết với nghiệp cầm bút nhưng số phận không thoát khỏi lao tù.

Năm 1970, Trần Tuấn Kiệt được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật. Vài nguồn tin cho rằng ông bị kẻ khác đố kỵ đả kích “trao thân lầm trốn lính”. Năm 1971 khi ông đang ở tù, với mức án 10 năm lao công đào binh vì không chịu đi lính, vợ ông cùng với họa sĩ Nghiêu Đề xin chữ ký của 100 vị nhân sĩ, trong đó người đứng đầu ký tên Bản Kiến Nghị do Linh mục Thanh Lãng (Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1963-1975), ông đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ân xá còn một năm tù treo và được cho về nhà vào ngày Ba Mươi Tết năm 1971.

Sau 1975, ông cũng bị đi tù cải tạo gần 10 năm, ở trại giam Phan Đăng Lưu, Chí Hòa (Sài Gòn) rồi đổi lên trại tù Gia Trung ở Gia Lai, Kon Tum đến tháng Mười 1985 mới được về. Sách vở của ông rất nhiều nhưng ông đã đốt vào thời điểm tháng Tư, 1975, cho nên thơ và truyện trước kia của ông, hiện nay rất khó tìm. Ông chia sẻ: “Lúc Kiệt đi tù gần 10 năm ở trại Gia Trung về ở nhà, các bạn thường giúp đỡ: Trần Lam Giang, Bùi Ngọc Tuấn, Phương Triều, Thái Dương, Đào Trường Phúc… gởi về”. Bản án dành cho ông mười năm từ Chí Hòa đến Gia Lai thật là phi lý, đó cũng là thảm kịch cho văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam trước năm 1975,

Trần Tuấn Kiệt sống rất giản dị, đầu tóc rối bù, ăn mặc xuềnh xoàng. Tuy sáng thật nhiều, sống với nghề cầm bút nhưng vẫn nghèo. Cư ngụ căn nhà trong hẻm, vợ bán bắp nướng và chuối chiên để nuôi cả gia đình. Khi được Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật năm 1970 với số tiền khá lớn nhưng bản tính hào sảng, chỉ để có cơ hội chén tạc chén thù với bạn bè (giải thưởng khoảng 400,000 đồng thời bấy giờ (vàng khoảng 25,000 đồng một lượng). Ông đích thực là chàng lãng tử sống với thơ, văn, suốt một đời. Thích đá gà và cũng là đệ tử của Lưu Linh. (Lưu Linh 221-300, trong nhóm Trúc Lâm Thất Hiền, trọng lễ nghĩa, không bao giờ làm phật lòng ai, suốt đời chỉ lấy bạn và rượu làm niềm vui. Để ca ngợi rượu, Lưu Linh đã viết bài “Tửu Đức Tụng” – ca ngợi đức hạnh của rượu – coi như một tuyên ngôn. Sau này những tửu đồ coi như một áng danh văn về rượu).

Về chuyện đá gà, Trần Tuấn Kiệt viết lại: “Khi không có đề tài gì cho mục Nói Chuyện Với Đầu Gối thì Chu Tử thường đem Kiệt ra làm đề tài. Cho nên mới có chuyện Trấn Tuấn Kiệt nổi tiếng nhất nước là đá gà, còn người thật thứ nhì mới đến Nguyễn Cao Kỳ. Sở dĩ có chuyện đó là vì mỗi chiều Thứ Bảy đi đá gà về, Kiệt đều mua mấy con gà chết trận về cho bà xã nấu cà-ri đãi anh em ăn no nê sảng khoái. Nhằm lúc không có gà chết mà bạn bè tới nhà đông quá, Kiệt phải làm luôn con gà cưng nhất của mình đãi anh em nhậu…”

Những năm cuối đời, sức khỏe yếu kém, răng rụng gần hết, không còn sáng tác.

Hầu như mọi người đã “Trải qua một cuộc bể đâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Nguyễn Du – Truyện Kiều), trong đó Trần Tuấn Kiệt “Hễ đến mùa Xuân thì tôi lại nhớ tới những người tình xưa và nhất là những người bạn thân mà đời mình không thể nào quên”. Trong tùy bút của ông, “Một Mùa Xuân Trở Lại Cho Đời Nghệ Sĩ”, ông bày tỏ kỷ niệm trước năm 1975 và sau này:

Sau biến cố 75, mọi sự đều thay đổi. Bạn tôi Trầm Tử Thiêng qua Mỹ viết bản trường ca Áo Dài Việt Nam tôi được nghe một lần. Rồi anh mất bên đó.

Mùa xuân này tôi chợt có dịp trở về con đường hẻm Bàn Cờ cũ gần nhà cụ Nguyễn Đức Quỳnh nơi cư xá Đô Thành có trường Tân Thanh xưa nay đã biến thành khách sạn…

Ngày đó trong khuôn viên đại học Văn Khoa có dựng một gian nhà gỗ nhỏ của nhóm họa sĩ trẻ gồm Mai Chửng điêu khắc, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Hồ Thành Đức… Căn nhà gỗ này do Nguyễn Trung và Hồ Thành Đức xin được trong không quân đem về dựng lại. Hằng ngày Nguyên Khai và Nguyễn Thành Nhơn đến điêu khắc chơi và thoạt tiên cũng là chỗ ngủ của Nguyễn Nghiệp Nhượng và Cù Nguyễn. Sau 75, khi qua đường Lê Thánh Tôn, tôi nhớ lại cái quán cà phê cũ đã thay mới, các cây điệp (phượng đỏ) cội rất lớn, thân cây bị cưa cụt đã đâm ra thêm nhiều cành nhánh mới, có nhánh đã ra hoa. Tôi đứng lặng nhớ về bạn bè hay gặp nhau ở đấy. Trần Lam Giang, Lê Tài Tấn, Phạm Quốc Bảo và Bùi Ngọc Tuấn, nhớ tới các bạn họa sĩ, Khánh Ly, Nguyễn Thụy Long, Lam Thiên Hương thuở còn xuân sắc tươi đẹp. Bây giờ Lam Thiên Hương trở thành bà ngoại già thường dắt cháu ngoại đến Cung Văn Hóa Lao Động chơi…

Cả mấy chục năm ở Sài Gòn mà tôi cứ quanh quẩn mãi Thị Nghè như một thằng Mán không biết gì nhiều sự đổi thay.

Những bài tùy bút sau này của Trần Tuấn Kiệt viết rất chân tình và cảm động, ông nhớ lại một thời đã sống bạt mạng, lãng tử trong giới cầm bút với nhiều khuôn mặt đã in sâu vào ký ức. [Mời đọc thêm: “Xuân Bằng Hữu, Xuân Cố Sự” – 2016].

Người con của Nam Kỳ Lục Tỉnh đã trở về với cát bụi. Và, hình ảnh Trần Tuấn Kiệt với tha nhân như hai câu thơ của ông:

Người thi sĩ đã một ngày gặp gỡ
Thì ngàn năm bóng sáng vẫn chưa tan

Bên kia bờ Thái Bình Dương, nhà thơ Trần Tuấn Kiệt vừa vĩnh biệt cố hương. Bên này bờ Thái Bình Dương, nhà thơ Du Tử Lê qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai 7 tháng Mười (10 giờ 6 phút sáng ngày 8 tháng Mười, giờ Việt Nam). Năm 1973, Du Tử Lê được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc (bộ môn Thơ) với thi phẩm “Thơ Du Tử Lê 1967-1972”.

Trong cùng một ngày, hai nhà thơ được giải Văn Học Nghệ Thuật đã vĩnh viễn ra đi!

TÁC GIẢ “KHÚC THỤY DU”, NHÀ THƠ DU TỬ LÊ QUA ĐỜI
* Đỗ Dzũng

Thi sĩ Du Tử Lê vừa qua đời lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai, 7 tháng Mười, 2019, tại tư gia ở Garden Grove, hưởng thọ 77 tuổi.

Tin này được cô Orchid Lâm Quỳnh, ái nữ của ông, cho nhật báo Người Việt biết lúc 11 giờ tối Thứ Ba.

Cô kể: “Em báo tin này hơi trễ vì bây giờ mọi việc mới xong. Thực ra, tim bố ngừng đập lúc 8 giờ 6 phút tối Thứ Hai. Lúc đó, em vẫn gọi 911 và đưa bố vào bệnh viện. Bây giờ thì bố đã thật sự vĩnh viễn ra đi”.

Theo trang nhà dutule.com, nhà thơ Du Tử Lê, tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam.

Năm 1954, ông theo gia đình di cư vào miền Nam.

Ông là cựu học sinh trường Chu Văn An, Trần Lục, rồi Đại học Văn Khoa Sài Gòn, nguyên sĩ quan QLVNCH.

Ông làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến trong vai trò phóng viên chiến trường, trước khi làm thư ký tòa soạn nguyệt san Tiền Phong.

Năm 1969, ông theo học khóa tu nghiệp báo chí tại thành phố Indianapolis, tiểu bang Indiana.

Năm 1973, ông được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, bộ môn Thi Ca, với thi phẩm “Thơ Du Tử Lê 1967-1972”.

Ông định cư tại Hoa Kỳ sau biến cố 30 tháng Tư, 1975.

Khởi sự làm thơ rất sớm, từ năm 1953 tại Hà Nội, với nhiều bút hiệu khác nhau, bút hiệu Du Tử Lê được ông dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai. Thơ của ông xuất hiện trên nhiều tạp chí trong và ngoài nước. Ông có thơ đăng trên nhật báo Los Angeles Times, 1983, và New York Times, 1994.

Năm 1993, Giáo Sư Neil L. Jaimeson chọn dịch và phân tích một bài thơ của Du Tử Lê in trong cuốn “Understanding Vietnam” do hai đại học UC Berkeley và UCLA và nhà xuất bản London ấn hành, là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại Hoa Kỳ và Âu Châu.

Vẫn theo tác giả này, cùng với Nguyên Sa, sự đóng góp trí tuệ của Du Tử Lê cũng như Linh mục Thanh Lãng và Nhất Linh Nguyễn Tường Tam là điều không cần phải hỏi lại (Understanding Vietnam, trang 344).

Du Tử Lê là một trong sáu nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ thứ 20, có thơ được chọn in trong tuyển tập “Thi Ca Thế Giới Từ Thời Thượng Cổ Tới Ngày Nay” (World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time) do nhà xuất bản W.W. Norton New York ấn hành năm 1998.

Thơ của ông cũng được một số đại học dùng để giảng dạy cho sinh viên từ năm 1990.

Ký giả Jean Claude Pomonti, một nhà báo hàng đầu của tạp chí Le Monde của Pháp, đã chọn một bài thơ của Du Tử Lê để dịch sang Pháp ngữ và phê bình trong tác phẩm “La Rage D’Être Vietnamien” do Seuil de Paris xuất bản năm 1975.

Du Tử Lê là một trong bảy nhà thơ miền Nam, được nhà văn Mai Thảo chọn là “Bảy Vì Sao Bắc Đẩu” của nửa thế kỷ thi ca Việt Nam. Sáu người kia là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên.

Du Tử Lê là tác giả của trên 70 tác phẩm đã xuất bản. Thi phẩm đầu tiên của ông xuất bản năm 1964. Tùy bút của ông bao gồm “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” do công ty Văn Hóa Cổ Phần Phương Nam, Sài Gòn, ấn hành tháng Tư, 2017; “Mẹ về Biển Đông” do Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội, xuất bản tháng Sáu, 2017; Tuyển tập thơ “Khúc Thụy Du” do Phanbook, Sài Gòn, xuất bản tháng Sáu, 2018; Tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” và truyện dài “Với nhau, một ngày nào” (in lần thứ ba), do Saigon Books xuất bản tháng Bảy, 2018. Nếu không kể những tác phẩm được tái bản thì tuyển tập thơ “Trên Ngọn Tình Sầu” là tác phẩm thứ 73 của họ Lê, tính đến tháng Bảy, 2018.

Là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, thơ của ông cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và trở thành những ca khúc nổi tiếng như “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”, “Hạnh Phúc Buồn (Trong Tay Thánh Nữ Có Đời Tôi)”, “Giữ Đời Cho Nhau (Ơn Em)”, “Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển”, “Khúc Thụy Du”, “K Khúc Của Lê”, “Khi Cuộc Tình Đã Chết”…

Từ năm 1981 tới nay, nhà thơ Du Tử Lê có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, và Úc. Ông từng hai lần được mời đến Harvard University để nói chuyện về thơ của mình. Từ năm 2009 tới 2012, mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học UC Berkeley và đại học Cal State Fullerton.

Ngoài thi ca, Du Tử Lê còn là một họa sĩ. Kể từ Tháng Bảy, 2011, nhiều tranh của ông được dùng làm bìa sách cũng như in nơi trang bìa của một số tạp chí xuất bản tại Hoa Kỳ. Tính tới 2012, ông đã có hai cuộc triển lãm cá nhân, một tại Houston, Texas, và một tại Seattle, Washington. Cuộc triển lãm cá nhân lần thứ ba của Du Tử Lê, vào Thứ Bảy 30 tháng Ba, 2013, tại Virginia, là triển lãm mở đầu cho năm. Và năm 2014 của họ Lê được đánh dấu bằng cuộc triển lãm bỏ túi ở Coffee Lover, San Jose, California, với bảy tác phẩm hội họa, được bán hết trong vòng 45 phút.

Năm 2013, Tuyển Tập Du Tử Lê (1957-2013) của ông được nhà xuất bản Người Việt xuất bản.

Chưa hết, thi sĩ Du Tử Lê còn viết văn và biên khảo văn học. Năm 2014, nhà xuất bản Người Việt xuất bản “Phác Họa Toàn Cảnh Sinh Hoạt 20 Năm Văn Học Nghệ Thuật Miền Nam 1954-1975” của ông.

Bước vào năm 2015, tác phẩm “Với nhau, một ngày nào” (tái bản lần thứ nhất) của nhà thơ, và bộ sách dầy 700 trang, tựa đề “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 1, được cơ sở H.T. Productions xuất bản, công ty Amazon in và phát hành. Ngoài ra, bộ sách “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” – tập 2, đầu sách thứ 67 của nhà thơ Du Tử Lê, cũng được công ty Amazon in và phát hành giữa tháng Chín.

Trong lĩnh vực truyền thông người Việt hải ngoại, nhà thơ Du Tử Lê từng là “host” của chương trình “Du Tử Lê và Bằng Hữu” trên đài truyền hình SBTN, và là cộng tác viên trang Văn Học Nghệ Thuật của nhật báo Người Việt.

Share this post