Vòng Tay Yêu Tinh (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 16 (Tiếp theo)

Vòng Tay Yêu Tinh (Tiểu Thuyết Phóng Tác – Hoàng Hải Thủy) Chương 16 (Tiếp theo)

VÒNG TAY YÊU TINH
* Tiểu Thuyết Phóng Tác Hoàng Hải Thủy
* Tinh Hoa Miền Nam xuất bản (Sài Gòn 1972)
* Nguồn: Blog Hoàng Hải Thủy (https://hoanghaithuy.wordpress.com)

* Để đọc những phần đã đăng, xin click vào chuyên mục Văn Học – Truyện Dài, Hồi Ký.

CHƯƠNG 16
(Tiếp theo)

Sáng hôm sau tôi dậy sớm.

Trong lúc tôi đang bận y phục, có chuông điện thoại reo vang. Hải Tùng gọi đến. Lão cho tôi biết Ma Vương muốn tôi xuống du thuyền sau khi ăn sáng xong. Và lão sẽ cùng xuống thuyền với tôi.

Như vậy nghĩa là Ma Vương không thay đổi kế hoạch dù xẩy ra vụ anh chàng Phát vô duyên và không may bép xép đêm qua, tôi vẫn được y tin và trao cho thực hiện vụ cướp tàu Phượng Hoàng.

Tôi xuống phòng ăn và gặp Hải Tùng chờ tôi ở đó. Lão và tôi cùng ăn điểm tâm. Tôi muốn hỏi dò lão về tình trạng của Phát nhưng không dám. Chắc chắn Hải Tùng phải biết rõ hiện giờ Phát ra sao và vì nguyên do nào hắn bị trừng phạt nặng nề đến thế, nhưng lão không nói và tôi cũng không hỏi.

Chúng tôi đi bộ trên con đường xuyên qua rừng cây – cảnh vật trong buổi sáng mùa thu, nắng vàng tuyệt đẹp, trời trong xanh và cao; lá thu xào xạc, chỉ còn thiếu có vài con nai vàng ngơ ngác và Kiều Xuân đi bên tôi là cuộc đời sáng hôm nay đối với tôi hoàn toàn đẹp và đáng sống. Nhìn lên trời xanh và hít thở làn không khí trong lành thơm mùi lá khô, tôi nghĩ rằng cuộc đời này sẽ đẹp biết là chừng nào nếu không có Ma Vương. Chưa bao giờ tôi kiên quyết phải hạ cho bằng được Ma Vương bằng giây phút ấy.

Trên đường đi, tôi và Hải Tùng trao đổi với nhau những câu ngắn về đủ mọi vấn đề, nhưng tuyệt nhiên chúng tôi không đá động gì đến câu chuyện chúng tôi nói với nhau trong buổi sáng hôm qua cũng trong khu rừng thu này. Tuy không nói, tôi cũng dư biết rằng vấn đề đó vẫn đè nặng trên tâm trí Hải Tùng, cũng như nó vẫn đè nặng trên tâm trí tôi. Mặc dù vậy, tôi thấy rằng chúng tôi không còn gì để nói với nhau về vấn đề đó nữa. Hải Tùng đã nói rõ trong cuộc nói chuyện tay đôi hôm qua về lập trường của lão cùng những điều lão yêu cầu tôi phải làm. Tôi chỉ cần làm sao cho lão thấy rõ, với bằng chứng xác đáng, là lão đã bị bịp vì trò đi lên đài may rủi với bẩy bước chân vàng do Ma Vương đặt ra.

Tới cầu tàu, chúng tôi xuống một chiếc xuồng máy và xuồng đưa chúng tôi tới du thuyền. Trông bên ngoài du thuyền Tiên Nữ đã đẹp, bên trong thuyền cũng đẹp như nhìn bên ngoài. Ðẹp, sang và đầy đủ tiện nghi. Tôi đã từng được thấy du thuyền của Quốc Vương Farouk, du thuyền của nhà tỷ phú Onassis và du thuyền của Quốc Vương Fark: ba du thuyền được kể là đẹp nhất thế giới. Nhưng so với chiếc Tiên Nữ nầy, cả ba chiếc đó còn kém xa nhiều điểm, nhất là về sức mạnh. Bên ngoài, thân du thuyền này làm bằng gỗ như mọi du thuyền khác, song ở giữa hai lần ván có một lớp thép mỏng, nhẹ – một hợp kim đặc biệt như thứ hợp kim dùng để chế tạo phi thuyền – nhưng rất chắc, đạn bắn không thủng. Du thuyền trang bị hai giàn máy cực mạnh có vận tốc mau lẹ hơn cả những tàu chiến.

Hải Tùng giới thiệu tôi với Thuyền trưởng. Gã này là một người đàn ông to con nhưng hơi thấp, tóc dầy, râu quai nón rậm rì và đôi vai nở như vai đô vật. Tên gã là Cung Ðô, một cái tên thật đẹp với con người cứng rắn của gã song tôi nghĩ rằng đó không phải là tên thật của gã.

Nhìn Cung Ðô, người ít tưởng tượng đến đâu cũng phải nhớ tới hình ảnh của những tên hải tặc thời xưa. Nếu sinh ra đời trước đây 100 năm, chắc chắn Cung Ðô cũng chỉ huy một chiếc thuyền buồm có cả trăm tù nhân chèo dưới hầm và chuyên dọc ngang trên biển chận đánh những thương thuyền.

Phó thuyền trưởng và thủy thủ đoàn toàn là những tên có bộ mã gớm ghiếc uống máu người không tanh.

Kỷ luật trên du thuyền là kỷ luật sắt. Thủy thủ sinh hoạt như những cảm tử quân của quân lực chính quy đang thời chiến.

Thuyền trưởng Cung Ðô hướng dẫn tôi đi coi khắp thuyền. Hải Tùng tuy không xa lạ gì với du thuyền nhưng cũng chịu khó đi theo tôi. Tôi say mê tìm hiểu chiếc du thuyền đặc biệt nhất thế giới này nên thời gian trôi qua thật mau. Một giờ trưa tôi với Hải Tùng mới rời du thuyền.

Khi về tới lâu đài, tôi được lệnh Ma Vương vời tôi tới gặp gấp. Hôm nay, tôi được đưa tới một phần khác của lâu đài. Thực sự, tôi không hề ngờ rằng tòa lâu đài quái dị nầy có thể rộng lớn và nhiều phòng đến thế. Tôi đã tưởng những ngày qua tôi đã đi hết hai phần ba tòa lâu đài này, hôm nay tôi mới biết là thực ra, tôi chỉ mới được thấy có một phần tư tòa lâu đài và tôi chua được thấy rất nhiều cái tôi cần thấy.

Ma Vương chờ tôi trong một căn phòng tráng lệ ngoài sức tưởng tượng của tôi. Và trưa nay, Ma Vương, trước mắt tôi, đổi khác hẳn. Y tỏ ra vui vẻ, dễ dãi, hiếu khách, lịch sự và lễ độ. Y tiếp tôi lần này như tiếp một người bạn. Tôi không rõ lý do y gọi tôi đến gặp y trưa nay, vì suốt buổi nói chuyện, y chỉ nói với tôi về những bảo vật, những tuyệt phẩm mà loài người đã làm ra được kể từ ngày trái đất này có loài người. Rồi thôi. Y tuyệt đối không nói gì đến công việc tôi sắp phải làm. Y không thốt ra một lời đe dọa nhỏ nào. Cặp mắt sắc và vô tình, tàn nhẫn như mắt rắn độc của y trưa nay cũng dịu dàng đi. Qua những lời y nói, tôi phải nhận rằng y là người quý báu những bảo vật nhất cõi đời này.

Khi tôi rời y, tôi thấy tôi bị y quyến rũ. Một sức quyến rũ cực mạnh. Tôi đã bị y chinh phục cảm tình. Nói theo ngôn ngữ bình dân, tôi đã mê y. Thái độ bạn hữu chân thành, chí tình của y làm cho tôi tự cảm thấy xấu hổ vì âm mưu làm hại y mà tôi đang lén lút thực hiện. Nếu không có tình yêu, tức là nếu không có Kiều Xuân, chắc chắn sau cuộc gặp gỡ với Ma Vương trưa nay, tôi đã hoàn toàn bị y chinh phục, tôi đã trở thành đệ tử trung thành cả hồn lẫn xác của y và tôi sẽ không bào giờ nghĩ đến chuyện phản y. Có lẽ vì muốn chinh phục tôi nên y mới tiếp tôi như trưa nay. Chỉ có lý do đó mới có thể giải thích được sự kiện khác lạ này mà thôi.

Tình yêu thực có sức mạnh vô song, nhờ có tình yêu, tôi đã thoát được cạm bẫy cảm tình của Ma Vương. Tôi bàng hoàng nghĩ đến chuyện nếu tôi không được gặp Kiều Xuân, nếu không có Kiều Xuân ở đây, có thể tôi đã trở thành nô lệ trung thành của Ma Vương suốt đời này.

Bữa ăn đông người dự trưa hôm đó làm cho tâm trí tôi nhẹ bớt áp lực của Ma Vương – không có mặt Ma Vương trong bữa ăn đó – Bữa ăn cũng không có mặt Kiều Xuân và lẽ tất nhiên, không có mặt Phát. Tuy tôi không hỏi nhưng Hải Tùng cũng nói thoáng cho tôi biết rằng Kiều Xuân vắng mặt vì nàng về thành phố có việc, và có thể nàng sẽ không trở về đây trước sáng mai. Tôi ghi nhận sự kiện Hải Tùng nói cho tôi biết như thế để đêm nay, tôi đừng mất công tìm đến phòng nàng.

Ðúng như lời Hải Tùng nói, suốt ngày hôm đó tôi không nhìn thấy Kiều Xuân.

Ðêm tới, tôi thức giấc chờ Bé Hiêu, nhưng cũng không thấy gã tới.

Sáng hôm sau, trong phòng ăn chung, tôi đã gặp vài nhân vật khá hấp dẫn, trong số có một sĩ quan cấp Tướng. Ông này trông bề ngoài là một võ quan uy vũ, hào khí, nhưng thật ra, có cái tâm trạng của một thằng hèn chuyên bợ đỡ, tâng bốc người khác và đáng khinh nhất là phản trắc và đê tiện. Ăn sáng xong, hắn rủ tôi đi chơi bằng ngựa. Tôi và hắn cưỡi ngựa đi trong rừng cây, chúng tôi đi trên những con đường khác với con đường tôi đã đi với Hải Tùng sáng hôm trước.

Vào lúc 10 giờ sáng, ngựa tôi dừng ở dưới một gốc thông ven đường lớn. Tôi chợt thấy ở đầu con đường có chút bụi bốc lên, rồi một chiếc xe hơi nhỏ, sơn mầu đỏ, kiểu thể thao hai chỗ ngồi chạy ngang mặt tôi.

Người thiếu nữ ngồi lái xe là Kiều Xuân. Nàng gìơ tay vẫy…

Gã võ quan tưởng nàng vẫy gã, vung roi ngựa lên chào đáp lại rối rít và miệng thốt lên những tiếng la lối nồng nhiệt y như gã đi coi đua xe thấy xe về nhất.

Trời đất trước mắt tôi, đột nhiên sáng tươi và rực rỡ hơn. Gió mát hơn, nắng vàng hơn và tai tôi nghe rõ hơn tiếng chim hót.

Tôi nghĩ ngay đến chuyện đêm nay, tôi sẽ lại được gặp Kiều Xuân, được ôm tấm thân mềm, thơm của nàng trong vòng tay tôi, được hôn lên đôi môi như bông hoa hồng mới nở, được nghe tiếng nàng nói. Trong một khoảnh khắc thời gian, tâm trí tôi quên hết mọi lo âu, mọi suy nghĩ, quên Phát, quên Ma Vương, quên cả chuyến đi sắp tới để chỉ còn biết có cảm giác sung sướng. Từ giây phút đó, tôi như người chỉ sống để chờ bóng đêm xuống.

Khi về đến lâu đài và trả ngựa vào chuồng ngựa, tôi ngồi uống nước trong phòng giải khát trên hiên lâu đài, hy vọng còn được nhìn thấy một lần nữa bóng dáng yêu kiều của người yêu. Tôi còn hy vọng được tới gần nàng để nói nhỏ với nàng một tiếng: “Anh yêu em”.

Hải Tùng xuất hiện và sau khi uống rượu khai vị, lão và tôi cùng ngồi chung bàn ăn trưa.

Trưa nay, tôi thấy Hải Tùng có vẻ bối rối không được vui. Lão như người đang có chuyện bận trí muốn nói nhưng lại ngại hậu quả. Chúng tôi cùng uống rượu và trao đổi với nhau những câu vô thưởng, vô phạt về đủ mọi vấn đề. Nhưng tôi cũng chờ đợi lão thổ lộ tâm sự nên tôi cũng không được thoải mái lắm. Thái độ của lão làm cho tôi cũng thấy lo lo, vì tôi nghi rằng sự lo âu của lão có liên hệ đến Kiều Xuân, và liên hệ đến Kiều Xuân tức là đến tôi.

Sau cùng lão thốt ra một tiếng thở dài:

– Có chuyện cần nói mà cứ chần chừ, không giải quyết được gì… Cần nhìn thẳng vào vấn đề làm mình sợ hãi… Huy Giang… anh đi theo tôi.

Bỗng dưng, tôi chợt nhớ lại một câu của lão nói: nếu Ma Vương, chủ nhân cả hồn lẫn xác của lão, ra lệnh cho lão bắt tôi, giết tôi, dù có không muốn, lão cũng vẫn làm việc đó. Tôi đã biết sức mạnh kinh khủng của lão già có dáng vẻ thất thường này.

Tôi sững sờ:

– Ông nói như vậy nghĩa là… tôi bị bắt giữ sao?

Lão lắc đầu:

– Không phải thế. Chưa đến nỗi thế. Ma Vương chỉ ra lệnh tôi dẫn anh đi coi một cảnh nầy… Vì sao Ma Vương lại muốn anh nhìn thấy cảnh đó? Ðể làm gì? Tôi không được biết và dù có biết tôi cũng không có quyền nói để anh biết. Vậy anh đừng nên hỏi tôi làm gì cho phiền cả đôi bên.

Lão nhún vai, kết luận:

– Thôi, chúng ta đi.

Tôi đi theo lão, thắc mắc, lo âu. Những giây phút này làm cho thần kinh tôi căng thẳng như một sợi giây đàn bị căng tới mức tận cùng.

Khi Hải Tùng dừng lại và tôi dừng lại sau lưng lão, tôi nghĩ rằng lão đưa tôi tới một cái đài cao của lâu đài. Hoặc ít nhất, chúng tôi đang ở một tầng lầu cao.

Lão đưa tôi vào một căn phòng nhỏ, trơ trụi không có đồ đạc. Tôi có cảm giác như đây là một căn nhà mồ hơn là một căn phòng để người sống ở, một hầm đá dùng làm nơi chứa những áo quan ngày xưa. Vách tường đều bằng đá trắng bên trên vòng cung như cuốn tò vò.

Hải Tùng bước tới một bức vách đó, lão ra hiệu cho tôi đến đứng bên và chạm tay vào một chốt điện nào đó: một khe hở lớn chừng 10 phân, dài chừng một thước, làm bức vách đá nứt ra làm đôi. Khe hở đó như một khung cửa sổ nhỏ nằm ngay ngang mắt tôi.

Hải Tùng nói nhỏ:

– Nhìn coi…

Nơi tôi nhìn vào là một nơi chan hòa một vùng ánh sáng kỳ dị màu đỏ nhạt. Thứ ánh sáng làm cho con mắt khó chịu và tai tôi nghe thấy một tiếng gì nhỏ nhỏ nhưng đều đều, liên tu không ngừng, như một nốt nhạc. Tôi không phải là một nhạc sĩ có tài đủ để xác định đúng đo là nốt nhạc gì, tôi chỉ lờ mờ nhận thấy tiếng đó thật cao, như tiếng cánh những con ong khi bay sát vào nhau. Tiếng động đó cũng như làn ánh sáng mầu đỏ, cũng làm cho tôi cảm thấy khó chịu.

Thoạt nhìn qua khe hở, tôi tưởng tôi nhìn vào một nơi có nhiều người và tất cả những người trong làn ánh sáng đỏ này đều hướng mặt về một trung tâm điểm. Khi nhìn rõ hơn, tôi thấy rất đông người, như có cả ngàn người, tất cả đều quì gối, tất cả đều cúi đầu, người nọ quì sau lưng người kia. Và nơi họ quì đó như rất rộng, mắt tôi nhìn mãi tới khoảng xa và thấy có những bóng người nhỏ xíu.

Tôi liếc mắt nhìn qua phải, qua trái… Chỗ nào cũng thấy có người quì. Tôi liếc mắt nhìn lên trần: lạ lùng chưa, trần nhà cũng có người quì gối và những người này chúc đầu xuống đất. Họ như bị treo ngược trên trần.

Tôi chú mục nhìn kỹ đám người quì gối ngay trước mắt tôi, nhìn kỹ người quì gần mắt tôi nhất…

Và tôi chợt nhận ra: tất cả những người quì đó, cả ngàn người mà tôi trông thấy đó, chỉ là một.

Và người đó là… Phát.

Cả ngàn bộ mặt Phát, nhăn nhó, khổ sở, răn rúm, đổi chiều nhau trên cả ngàn mảnh gương gắn quanh chỗ hắn quì gối. Bây giờ tôi mới nhìn ra căn phòng tôi đang nhìn vào đó có hình tròn, mặt tường tròn vây quanh đều gắn kiếng. Trần phòng cũng có kiếng. Giữa phòng là một cái cột trụ kiếng. Phát quì gối trước trụ kiếng ấy, nhìn vào cả ngàn bộ mặt của chính hắn bao quanh hắn.

Rồi bỗng dưng Phát nhổm dậy…

Tôi thấy hắn dơ tay xua xua loạn lên như đuổi một cái gì đi xa. Bộ điệu của Phát lúc đó rõ ra là bộ điệu của người điên loạn.

Như cả một đội quân người máy, bao nhiêu hình bóng trên mặt kiếng đều cử động theo Phát. Tất cả đều xua tay. Phát quay mình lại. Như một đội quân tuân lệnh chỉ huy, tất cả những hình bóng đều rùng rùng chuyển động và quay mình lại. Phát nằm sấp xuống sàn, mặt úp vào hai bàn tay. Tôi biết rằng dù cho có nằm úp mặt như thế, dù có nhắm mắt, có che mặt, Phát vẫn nhìn thấy cả ngàn bộ mặt bao vây hắn.

Tôi lùi lại, toàn thân run rẩy và tâm hồn xúc động…

Phát bị trừng phạt vì tội bép xép thế này đây. Ma Vương muốn cho tôi chứng kiến cảnh nầy, cho tôi lãnh hội một bài học. Và lối trừng phạt này thật nguy hiểm, vì nó tàn phá thần kinh của người chịu trừng phạt, nó có thể làm cho người ta phát điên.

Âm thanh vo ve như tiếng ong đập cánh mà tôi nghe thấy đó có tác dụng giữ không cho người bị tội trong căn phòng kiếng này không thể ngủ. Chỉ cần thay đổi, lên xuống cao hơn, thấp hơn một chút là âm thanh rền rĩ nầy trở thành lạ tai và làm người nghe mất ngủ. Làn ánh sáng mầu đỏ cũng vậy. Không ai có thể ngủ được trong làn ánh sáng quái dị này.

– Trời… Trời…

Tôi quay lại nói với Hải Tùng, giọng tôi run và môi tôi khô như ngói:

– Tôi thấy rồi… Tội nghiệp hắn… Bắn cho hắn phát súng còn nhân đạo hơn…

Lão kéo tôi trở lại khe hở:

– Nhìn vô… Làm sao để cho Phát nhìn thấy mặt anh trong kiếng. Và anh cũng phải nhìn thấy mặt anh trong đó… Lệnh của Ma Vương…

Tôi vùng vẫy không chịu. Lão nằm chặt cần cổ tôi và dí mặt tôi vào khe hở. Như tôi đã biết, Hải Tùng tuy bề ngoài chỉ là một ông già hiền lành nhưng lão có một sức mạnh kinh khủng. Lão nắm cổ tôi dễ dàng như nắm cổ đứa bé con…

Tôi bị lão nắm cổ dí sát mặt vào đó và tôi nhìn thấy mặt tôi hiện ra ở ngay trước mắt tôi. Y như tôi cũng là một người ở trong phòng chứ không phải là ở ngoài nhìn vào.

Phát cũng trông thấy tôi. Hắn la lên:

– Huy Giang… Cứu tôi… Cho tôi ra khỏi đây…

Hải Tùng kéo giật tôi lại. Lão buông tôi ra để quay lại nhấn nút điện đóng khe hở.

Tôi nức nở như một đứa trẻ, xong đến đánh đấm lão:

– Khốn nạn…  Ðồ khốn nạn! Tàn nhẫn!

Lão nắm tay tôi. Tôi cố hết sức dằng tay ra nhưng hai tay tôi như bị kẹp lại trong những gọng kềm sắt. Sau cùng, cơn giận của tôi tiêu tan đi và người tôi mềm nhũn.

– Thôi… Thôi… Hải Tùng dịu dàng nói với tôi như người anh cả nói với đứa em trai vừa bị đánh đòn – Không phải lỗi tại tôi. Ðây là mệnh lệnh của Ma Vương. Tôi chỉ là người tuân lệnh. Thôi, chúng mình nên về.

Tôi lủi thủi đi theo lão.

Trên đường về phòng, tôi suy nghĩ về sự xúc động vừa qua của tôi. Tôi xúc động không phải vì có cảm tình với Phát. Chắc hắn đã nhiều lần đứng ở bên ngoài phòng kiếng nhìn vào trong và thích thú khi thấy những kẻ khác bị hành hạ, khổ sở. Nếu cần và nếu có dịp, tôi bắn chết Phát không chút do dự hay tiếc thương. Nhưng, tôi xúc động là vì sự trừng phạt làm cho tội nhân chết dần, chết mòn, làm cho tội nhân mất trí đó tàn nhẫn quá, quỉ quái quá. Chỉ có những kẻ không còn tâm hồn người nữa mới có thể nghĩ ra được lối trừng phạt con ngươi kinh khếp đến thế.

Kẻ bị giam trong phòng kiếng đó sẽ thấy mình cô đơn khủng khiếp. Cảnh tưởng tượng đó có một cái gì không thể nói được nên lời.

Khi về tới phòng riêng của tôi, tôi mới trấn tĩnh lại được. Tuy vậy, khi cất tiếng hỏi Hải Tùng, giọng của tôi vẫn còn run:

– Hắn có thể… sống được bao lâu trong đó?

Hải Tùng vẫn dịu dàng và hòa nhã:

– Không sao nói được. Có điều biết chắc là hắn sẽ ra khỏi đó… trí nhớ mất hết. Hắn sẽ quên hết. Hắn không cần nhớ tên hắn là gì, tại sao hắn lại phải vào đó. Tất cả dĩ vãng của hắn đều biến mất, trong óc hắn chỉ con một khoảng trống. Hắn quên tất cả những gì hắn đã học được, quên cả những thói quen thường ngày. Hắn sẽ không bao giờ còn… nhớ lại bất cứ một chuyện gì. Hắn sẽ sống như một con vật, chỉ còn biết tìm ăn khi thấy đói, tìm uống khi thấy khát, mệt thì lăn ra ngủ. Y như một con vật. Tôi đã thấy có những người chỉ sau bẩy ngày bị trừng phạt trong đó đã mất trí. Có người chống cự được lâu hơn. Người chống cự lâu nhất từ trước tới giờ mà tôi biết là 3 tuần. Nhưng không ai thoát được tình trạng mất trí. Không ai thoát…

Tôi rùng mình… Và tôi bàng hoàng:

– Tôi không xuống ăn bữa nay đâu…

Hải Tùng nhẹ nhẹ lắc đầu:

– Nếu tôi là anh, tôi sẽ cố gắng tự trấn tĩnh, cố gắng quên và cố gắng tỏ ra như thường. Ðây là lúc chúng ta tỏ ra chúng ta có nghị lực. Nghị lực của thằng đàn ông là gì? Là việc có thể tự chủ, để làm gì? Ðể sống. Anh tỏ ra xúc động tức là anh yếu đuối. Kẻ thù hay đối thủ của anh sẽ khinh thường anh. Anh có nhớ chuyện ông Nguyễn Biểu ngày xưa đi gặp tướng Tầu không? Bị tướng Tầu mưu áp đảo tinh thần bằng cách nấu đầu người bưng lên mời ăn, ông ấy đường hoàng cầm đũa gắp ăn đôi mắt của đầu lâu.

Lão thân ái vỗ nhẹ vai tôi:

– Anh không thể giúp gì được Phát. Phát là đệ tử của Ma Vương. Anh ấy đã bước lên đài may rủi và đã thua Ma Vương… Hắn sống hay chết tùy theo ý Ma Vương. Và Ma Vương đang rất muốn tìm biết xem anh có chịu nhận quyền bắt người sống phải chết tùy ý của Ma Vương hay không. Trấn tĩnh lại đi Huy Giang. Ðây là lúc anh tận dụng năng lực và can đảm cùng trí thông minh của anh. Chỉ mới nhìn người khác bị trừng phạt, anh đã chịu không nổi rồi, làm sao anh có thể…

Hải Tùng nói không hết ý nhưng tôi cũng hiểu.

Lão muốn nói rằng nếu chỉ mới thấy Phát bị Ma Vương trừng phạt, tôi đã bấn loạn cả tinh thần rồi, làm sao tôi có thể chống lại được Ma Vương, đừng nói gì đến chuyện cứu được cả Kiều Xuân và chiến thắng.

Tôi thấy lão nói đúng.

Thấy tôi có vẻ nghe lời, lão lại ưu ái tiếp:

– Hãy vui lên, hoặc hãy tỏ ra vui. Hãy sống như thường ngày. Tôi sẽ báo cáo với Ma Vương là anh chỉ thấy lạ lạ, thấy tò mò về căn phòng kiếng đặc biệt ấy chứ không tỏ ý gì bất mãn hay thương xót Phát. Tức là anh đã công nhận Ma Vương có toàn quyền muốn bắt ai chết, ai đau đớn đến thế nào cũng được. Anh muốn để cho Ma Vương biết như thế, nghĩ như thế về anh, hay anh muốn ông ta biết rằng anh phản đối ông ta và cảnh tượng Phát bị giam trong phòng kiếng làm cho anh xúc động đến ăn không nổi?

– Ðược rồi – tôi nói với Hải Tùng – tôi nghe ông. Nhưng ông ở lại đây với tôi cho đến gìờ ăn, được không? Chúng ta cùng xuống phòng ăn?

– Ðược – lão đáp – chúng ta cùng xuống uống rượu, đồng ý?

Tôi nhìn thấy khuôn mặt thiểu não của tôi hiện lên trong tấm kiếng trên tủ rượu. Khuôn mặt trong kiếng ấy làm tôi nhớ đến cả ngàn khuôn mặt kẻ bị trừng phạt mà tôi vừa thấy, và bàn tay cầm chai rót rượu vào ly của tôi lại run lên đây đẩy.

Tôi quay mặt đi để khỏi nhìn thấy mặt tôi trong kiếng và nói:

– Tôi không bao giờ còn muốn soi kiếng nữa.

Tôi ngửa cổ uống cạn ly rượu.

Hải Tùng rót ly khác cho tôi:

– Thôi đừng nghĩ tới chuyện đó nữa. Quên nó đi. Nếu gặp Ma Vương trong bàn ăn tối nay, anh nên cám ơn ông ta đã cho anh có dịp thấy một cảnh lạ. Ðồng thời anh có thể hỏi ổng vài câu về cách kiến tạo phòng kiếng cùng những gì gọi là hiệu năng của nó.

Ma Vương không có mặt trong bàn ăn tối nay. Tôi tin rằng sẽ có người báo cáo với Ma Vương về thái độ của tôi trong bữa ăn. Nhờ có lời dặn dò của Hải Tùng, tôi ăn uống, chuyện trò vui vẻ vừa phải – vì tôi dư biết rằng nhiều khi, tự nhiên tỏ ra quá vui, quá nói cười nhiều, cũng là một hình thức bấn loạn trong tâm hồn, một hình thức xuất hiện sự sợ hãi ẩn nấp trong lòng – Tuy nhiên, tối nay, vì phải cố gắng để vui, để quên, tôi cũng uống hơi nhiều rượu…

Kiều Xuân có mặt ở bàn ăn. Tôi bắt gặp nàng liếc nhìn tôi nhiều lần. Vì không biết có chuyện gì xảy đến cho tôi, nàng có vẻ không hiểu, đôi khi tỏ ra lo âu.

Nếu nàng biết rõ có chuyện gì vừa xẩy ra đến với tôi, nếu nàng biết rõ trong trái tim và tâm hồn tôi hiện có nhiều âu lo và đen tối đến chừng nào, nàng còn sợ hãi nhiều hơn nữa.

(Hết Chương 16)

Share this post